Chương 1 LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA BỊ CAN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Điều tra vụ án hình sự và quyền của bị can trong điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm điều tra vụ án hình sự 1. Khái niệm điều tra vụ án hình sự Điều tra vụ án hình sự là giai đoạn tố tụng hình sự thứ hai mà trong đó cơ quan điều tra căn cứ vào các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của vụ án hình sự, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời bảo đảm cho việc bồi thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: đình chỉ điều tra, chuyển toàn bộ tài liệu của vụ án cho VKS kèm theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện các nhiệm vụ cụ thể để chức minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, đồng thời kiến nghị các cơ quan và tổ chức hữu quan áp dụng đầy đủ các biện pháp khắc phục và phòng ngừa tội phạm. Thời điểm của giai đoạn này bắt đầu tư khi cơ quan, người tiến hành tố tụng hình sự có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và kết thúc bằng bản kết luận điều tra và quyết định của cơ quan điều tra về việc đề nghị VKS truy tố bị can trước Toà án hoặc đình chỉ vụ án hình sự tương ứng. Cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay cho rằng điều tra là hoạt động của CQĐT trong điều tra vụ án hình sự. Quan điểm này cho rằng điều tra là 7 tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do một cơ quan điều tra thực hiện.
Trong cuốn Tìm hiểu Luật Tố tụng hình sự, “Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án”; hoặc “Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội”. Trên thực tế hoạt động điều tra được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự với những mục đích khác nhau để xác định sự thật khách quan của vụ án. Đây chưa phải là định nghĩa hoạt động điều tra mà là định nghĩa của giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Hay nói đúng hơn đó là định ĩa về hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra nên nó thiếu tính toàn diện, chưa nói lên được tính bản chất và nội hàm của loại hoạt động này.
Quan điểm này chỉ thừa nhận Cơ quan điều tra là một chủ thể duy nhất có thẩm quyền được phép thực hiện các hoạt động điều tra. Điều này hoàn toàn mâu thuẫn với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) về thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra. Khoản 1 Điều 65 BLTTHS năm 2003 khi quy định thẩm quyền thu thập chứng cứ đã chỉ rõ: “Để thu thập chứng cứ, cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án”, hay tại khoản 1 Điều 88 BLTTHS năm 2015 quy định: “Để thu thập chứng cứ, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có quyền tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ 8 chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Như vậy có thể thấy quy định của BLTTHS về thẩm quyền thu thập chứng cứ là thẩm quyền thực hiện các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án.
Ba cơ quan này được tiến hành tất cả các hoạt động điều tra đã được quy định trong BLTTHS. Như vậy, ba cơ quan này theo chức năng và nhiệm vụ đã được phân định có quyền tiến hành tất cả các hoạt động điều tra. Theo tinh thần của điều luật nêu trên bình đẳng về thẩm quyền được tiến hành tất cà các hoạt động điều tra, thực hiện hoạt động điều tra chính vì vậy không phải là độc quyền của Cơ quan điều tra. Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý về “hoạt động điều tra” và cũng chưa được giải thích chính thức bởi các cơ quan có thẩm quyền.
Trong tất cả các BLTTHS, chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra. Mặc dù hoạt động điều tra đã được quy định trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, hoạt động điều tra được các cơ quan tố tụng hình sự thực hiện thường xuyên trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhưng khoa học pháp lý và thực tiễn hiện nay có những quan điểm khác nhau, chưa thống nhất nhận thức về hoạt động điều tra, vẫn có sự nhầm lẫn giữa các khái niệm điều tra, thẩm quyền điều tra vụ án và hoạt động điều tra; giữa giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra. Chính vì vậy mà vô tình đồng nhất hoạt động điều tra với các hoạt động khác của Cơ quan điều tra, bó hẹp phạm vi chủ thể, phạm vi thời gian của hoạt động điều tra. Theo từ điển tiếng Việt, “điều tra là hoạt động tìm hiểu, xem xét để biết rõ sự thật”.
Với ý nghĩa là một loại hoạt động nhận thức của con người, điều tra được sử dụng trong rất nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, để nghiên cứu, tìm hiểu, thu thập thông tin, xác định mức độ kiến thức, hiểu biết về một vấn đề, lĩnh vực nào đó mà con người quan tâm. Theo Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam thì điều tra được 9 hiểu là hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu, tình hình. phản ánh sự thật về một tổ chức, con người, sự việc, hiện tượng hoặc mục tiêu, địa bàn, lĩnh vực phạm vi nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự [16]. Điều tra do cơ quan Công an tiến hành có thể dưới hai hình thức: điều tra công khai do Cơ quan điều tra hoặc một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành một cách công khai theo quy định của luật tố tụng hình sự; điều tra bí mật (điều tra trinh sát) do lực lượng trinh sát tiến hành, thường diễn ra trước khi khởi tố vụ án hình sự, phải tuân theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền mà các văn bản của ngành Công an quy định.
Mỗi hình thức điều tra có sự khác nhau cơ bản về chủ thể, thời hạn, hình thức cũng như trình tự, thủ tục, thẩm quyền điều tra. Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn của tố tụng hình sự, trong đó Cơ quan điều tra, cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra áp dụng mọi biện pháp điều tra do pháp luật tố tụng hình sự quy định nhằm thu thập chứng cứ chứng minh làm rõ vụ án hình sự. So với khái niệm điều tra hình sự, khái niệm, điều tra vụ án hình sự có phạm vi hẹp hơn điều tra hình sự về không gian và thời gian. Hoạt động điều tra trong điều tra vụ án hình sự gồm các hoạt động cụ thể sau: Hỏi cung bị can; Lấy lời khai của người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác; Khám xét (khám người, khám chỗ ở, địa điểm, chỗ làm việc); Thu giữ thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm tại bưu điện; Khám nghiệm (khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi); Xem xét dấu vết trên thân thể; Thực nghiệm điều tra; Trưng cầu giám định.
Điều tra là hoạt động có mục đích của CQĐT khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong giai đoạn điều tra, các cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp để chứng minh việc thực hiện tội phạm, xác định rõ nguyên nhân, điều kiện thực hiện hành vi phạm tội, động cơ, mục đích của tội phạm, lỗi của chủ thể cũng như nhân thân người phạm tội, hậu quả của 10 tội phạm, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm, tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra. Đặc điểm điều tra vụ án hình sự Điều tra vụ án hình sự là hoạt động tố tụng phức tạp, phong phú và đa dạng như đã được phân tích ở phần trên. Sự phức tạp, đa dạng của hoạt động điều tra vụ án hình sự hàm chứa trong các đặc điểm nổi bật sau đây: [20].
- Hoạt động điều tra vụ án hình sự là hoạt động thực hiện công khai theo trình tự, thủ tục tố tụng hình sự. Hoạt động điều tra vụ án hình sự được tiến hành công khai theo các trình tự, thủ tục và theo những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự quy định. Tính công khai của hoạt động điều tra thể hiện chỉ được tiến hành các biện pháp điều tra với sự có mặt của những người mà luật quy định và ký vào biên bản các hoạt động điều tra (như khám nghiệm hiện trường, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại. Tính công khai ở đây là công khai tiến hành các thủ tục tố tụng điều tra, còn nội dung, kết quả điều tra thì phải giữ bí mật.
Việc giữ bí mật điều tra có ý nghĩa quan trọng, có tính nguyên tắc quyết định sự thành công hay thất bại của cuộc điều tra, khám phá sự thật khách quan của vụ án.