Chương I. Một số vấn đề lý luận về quốc tịch, hộ tịch đối với người dân di cư tự do. 8 - Chương II. Thực trạng quản lý quốc tịch, hộ tịch ở Việt Nam đối với người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam.
- Chương III. Giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả trong quản lý quốc tịch, hộ tịch đối với người dân di cư tự do từ Campuchia về Việt Nam. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỐC TỊCH, HỘ TỊCH ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN DI CƯ TỰ DO 1. Một số vấn đề liên quan về quốc tịch 1.
Khái niệm về quốc tịch Dân cư là một trong bốn yếu tố cấu thành của một quốc gia độc lập, yếu tố dân cư mang tính động, có mối quan hệ đặc trưng hơn cả. Trong khoa học pháp lý, mối quan hệ dân cư với nhà nước được gọi là quốc tịch. Quốc tịch là sự ràng buộc lợi ích qua lại giữa chủ thể nhà nước với công dân, được quy định rõ bởi các văn bản pháp luật. Thông thường quốc tịch gắn với cá nhân từ rất sớm và nó mang tính tương đối ổn định, lâu dài.
Dân cư trong một quốc gia gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc và cùng nhau xây dụng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền3. Khái niệm quốc tịch ra đời vào thời kỳ quá độ, từ chế độ phong kiến lên tư bản chủ nghĩa, xuất hiện cùng với tư tưởng tiến bộ của cách mạng tư sản. Mỗi quốc gia đều có những quy định khác nhau về vấn đề quốc tịch như đương nhiên được công nhận, nhập quốc tịch, trở lại quốc tịch, thôi quốc tịch. Có thể điểm qua các văn bản Luật Quốc tế có những quy định về quốc tịch như sau: Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948.
Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 quy định: “Mọi trẻ em đều có quyền có một quốc tịch”4; Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em năm 1989 quy định “Trẻ em được sinh ra có quyền có quốc tịch ngay từ khi chào đời”5. Hay Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc năm 1966 và nhiều công ước quốc tế khác quy định rõ quốc tịch là quyền thiêng liêng gắn bó với cá nhân mỗi con người. Ở Việt Nam, trước cách mạng Tháng Tám năm 1945, là nước thuộc địa nửa phong kiến; người Việt Nam chưa được gọi là “Công dân”, do đó cũng chưa có “Quốc tịch”. Sau ngày Quốc khánh 2/9, tuy mới là nhà nước còn non trẻ nhưng Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa đã kịp thời ban hành các 3 Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, được sửa đổi lần cuối lúc 07:39 ngày 05/8/2022, truy cập ngày 05/11/2022.
4 Khoản 3 Điều 24 Công ước quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị 1966. 5 Điều 7 Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em năm 1989. 10 Sắc lệnh quy định về tư cách công dân, nghĩa là người dân đã được công nhận có quốc tịch Việt Nam. Đó là các Sắc lệnh số 53/SL ngày 20 tháng 10 năm 1945 quy định về quốc tịch Việt Nam; Sắc lệnh số 73/SL ngày 07/12/1945 quy định về nhập quốc tịch Việt Nam… Các văn bản trên đây mới chỉ quy định các căn cứ để xác định quốc tịch Việt Nam; mất quốc tịch Việt Nam; thẩm quyền, thủ tục giải quyết các trường hợp thay đổi quốc tịch Việt Nam chứ chưa đưa ra khái niệm về quốc tịch Việt Nam.
Như vậy, vấn đề đặt ra là cần phải có một văn bản luật để điều chỉnh vấn đề pháp lý quan trọng này. Sau một thời gian triển khai thực hiện trên thực tế, các quy định của Luật Quốc tịch năm 1988 đã bộc lộ những hạn chế, sau đó, Quốc hội đã thông qua Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1999. Hơn chín năm thi hành, Luật Quốc tịch năm 1998 cũng đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp, bất cập so với pháp luật quốc tế cũng như nguyện vọng của kiều bào Việt Nam ở nước ngoài do xung đột về Luật Quốc tịch. Cả hai Luật quốc tịch năm 1988 và Luật Quốc tịch năm 1998 cũng chưa đưa ra khái niệm về quốc tịch.
Đến Luật Quốc tịch năm 2008, khái niệm về quốc tịch được đưa ra nhưng cũng chưa bao hàm khái niệm quốc tịch chung, mà chỉ đưa ra khái niệm thế nào là quốc tịch Việt Nam. Từ những phân tích và căn cứ pháp lý nêu trên, có thể nhận diện vấn đề Quốc tịch như sau: “Quốc tịch là một chế định pháp lý bao gồm các quy định điều chỉnh hình thức và nội dung mối quan hệ pháp luật hai chiều được thiết lập giữa chủ thể nhà nước và cá nhân, bao gồm các quyền và nghĩa vụ mang tính lâu dài, bền vững và được pháp luật đảm bảo thực hiện.” Như vậy, quốc tịch là một phạm trù vừa mang tính quốc gia, vừa mang tính quốc tế. Quyền có quốc tịch là quyền đầu tiên và cơ bản của một con người, cơ sở đầu tiên, quan trọng cho việc thực thi các quyền công dân khác. Đặc điểm của quốc tịch Quốc tịch gắn với một người từ khi người đó sinh ra, trừ một số trường hợp không có quốc tịch hoặc thay đổi quốc tịch.
Một người có quốc tịch của nước nào, nghĩa là họ có tư cách công dân của nước đó. Quốc gia nơi công dân 11 mang quốc tịch cũng có những quyền và nghĩa vụ ngược lại đối với công dân của nước mình, nhất là vấn đề bảo hộ công dân khi họ tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế. Chế định quốc tịch là một chế định rất quan trọng trong pháp luật quốc tế cũng như quốc gia. Trong xu thế phát triển hiện nay, thời đại số, sẽ dự báo có nhiều vấn đề phát sinh giữa các quốc gia với nhau cũng như giữa các cá nhân với quốc gia có liên quan trực tiếp đến quốc tịch.
Quốc tịch nhìn chung sẽ có những đặc điểm sau: Thứ nhất, quốc tịch có tính ổn định và bền vững, được thể hiện ở hai phương diện không gian và thời gian. Về không gian: Mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân mang quốc tịch hoàn toàn không bị hạn chế về mặt địa lý, tuy nhiên, nếu là công dân của một nước nhưng học tập và làm việc ở nước ngoài cũng sẽ hạn chế khi tham gia các quyền về chính trị như quyền tham gia vào các lực lượng vũ trang. Về thời gian: Mối quan hệ pháp lý giữa nhà nước và công dân mang tính ổn định lâu dài. Quốc tịch này thường gắn với người đó hầu như trong suốt cuộc đời, kể từ khi sinh ra cho đến lúc mất đi, chỉ thường chấm dứt trong một vài trường hợp đặc biệt.
Thứ hai, quốc tịch có tính cá nhân. Quốc tịch gắn liền với cá nhân, xác định nơi họ sinh ra, nguồn gốc cha mẹ, ông bà (huyết thống) hay được nhận làm con nuôi, khi đăng ký kết hôn (theo vợ hoặc chồng định cư ở nước ngoài). Ngoài ý nghĩa về mặt pháp lý, quốc tịch còn mang ý nghĩa về mặt chính trị. Thứ ba, thể hiện mối quan hệ pháp lý có tính hai chiều, căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước mà họ mang quốc tịch.
Đối với quốc gia công dân mang quốc tịch, cũng phải có nghĩa vụ đảm bảo cho công dân mình thực hiện tốt các quyền. Thứ tư, quốc tịch được điều chỉnh bởi hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Công dân có quốc tịch của một quốc gia, ngoài việc được quốc gia đó đảm bảo thực hiện các quyền công dân trên lãnh thổ nước đó, mà còn được hưởng quyền bảo hộ công dân của quốc gia mình ở nước ngoài. Ý nghĩa của quốc tịch Quốc tịch có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân vì khi có quốc tịch sẽ cho thấy sự ràng buộc hai chiều giữa công dân và nhà nước mà người đó mang quốc tịch.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng phải có những quy định pháp luật và chính sách phù hợp về vấn đề hộ tịch, tạo điều kiện cho người nước ngoài, người di dân tự do yên tâm sinh sống, làm việc tại Việt Nam, tiến tới giảm thiểu tình trạng người không quốc tịch. Có thể nói, chế định quốc tịch là một bước tiến quan trọng trong lịch sử loài người, lần đầu tiên người dân sống trong một quốc gia được coi là “công dân” chứ không phải xem là “thần dân” như trong xã hội phong kiến. Một số vấn đề liên quan về hộ tịch 1. Khái niệm về hộ tịch Hộ tịch là một thuật ngữ quen thuộc trong đời sống xã hội, nhưng hộ tịch lại là một khái niệm tương đối phức tạp, được các tác giả Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Khôn, Hoàng Thúc Trâm, Bửu Kế đưa ra những khái niệm khác nhau.
Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ. Theo đó, “hộ tịch” được hiểu “là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra cho đến khi chết.”6 Có thể đưa ra khái niệm về “hộ tịch” như sau: Hộ tịch là những sự kiện xảy ra trong cuộc sống của mỗi cá nhân, gắn với họ từ lúc sinh ra cho đến lúc chết đi mà theo quy định của pháp luật nó dùng để xác định tình trạng nhân thân của cá nhân đó.” Với cách định nghĩa này, “hộ tịch” không được hiểu là “quyển sổ” dùng để ghi chép các “sự kiện hộ tịch”, thay vào đó, những “sự kiện hộ tịch” này chính là căn cứ để xác định tình trạng nhân thân của một cá nhân cụ thể trong xã hội với tư cách là một chủ thể cơ bản trong quan hệ pháp luật. Đặc điểm của hộ tịch Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn với mỗi cá nhân, không ai 6 Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch. Các thông tin liên quan về cha, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính, vợ/chồng…là dấu hiệu giúp ta phân biệt từng cá nhân với nhau.
Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể kể từ lúc họ sinh ra cho đến lúc chết đi7. Thứ hai, hộ tịch là những giá trị riêng có của mỗi người, không có giá trị kế thừa, truyền lại.