CHƯƠNG I NHỮNG VẤN CHUNG VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU THƯƠNG MẠI 1.Những vấn đề chung về hàng hoá nhập khẩu thương mại.Khái niệm về hàng hoá nhập khẩu thương mại. Hàng hóa nhập khẩu thương mại là hàng hóa thuộc tất cả các loại hình kinh doanh nhập khẩu nhằm thu lợi nhuận, thể hiện bằng hợp đồng mua bán giữa bên mua hàng và bên bán hàng hoặc hợp đồng ký kết giữa bên giao hàng và bên nhận hàng. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu thương mại quy định tại mục 1 Chương II Nghị định số 154/2005/NĐ-CP bao gồm: (1) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo hợp đồng mua bán hàng hoá; (2) Hàng hoá kinh doanh theo phương thức tạm nhập tái xuất; (3) Hàng hoá kinh doanh chuyển khẩu; (4) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu; (5) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để thực hiện hợp đồng gia công với thương nhân nước ngoài; (6) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu để thực hiện các dự án đầu tư; (7) Hàng hoá xuất nhập khẩu qua biên giới theo quy định của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý hoạt động thương mại biên giới với các nước có chung biên giới; (8) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu nhằm mục đích thương mại của tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân; (9) Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp chế xuất; (10) Hàng hoá đưa vào, đưa ra kho bảo thuế; (11) Hàng hóa tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập dự hội chợ, triển lãm; SV: Phạm Ngọc Nguyên 4 Lớp: CQ45/05.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính Chuyên đề cuối khóa (12) Hàng hoá tạm nhập-tái xuất, tạm xuất-tái nhập là máy móc thiết bị, phương tiện vận tải phục vụ thi công công trình, phục vụ các dự án đầu tư, là tài sản đi thuê, cho thuê. Hàng hóa nhập khẩu thương mại có đặc điểm là các hàng hóa được nhập khẩu với mục đích thương mại, nhằm thu lợi nhuận.
được thực hiện bằng các hợp đồng thương mại quốc tế giữa bên mua và bên bán, hoặc hợp đồng ký kết giữa bên giao hàng và bên nhận hàng. Các hàng hóa này được nhập khẩu vào đều không thuộc danh mục hàng hóa cấm XK, NK theo quy định của pháp luật. Chịu sự quản lý, giám sát của cơ quan hải quan và các cơ quan có thẩm quyền khác. Đều nộp thuế NK, thuế giá trị gia tăng và thuế khác (nếu có), trừ các trường hợp do nhà nước quy định.Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về hải quan với hàng hoá nhập khẩu thương mại.
Trong nền kinh tế thị trường một quốc gia sản xuất ra những sản phẩm mà sản xuất hiệu quả hơn nước nhập khẩu sản phẩm đó. Và nhập khẩu những sản phẩm mà sản xuất kém hiệu quả hơn từ những nước khác. Vì vậy việc sử dụng hiệu quả những lợi thế của mình sẽ đem lại nguồn lợi lớn cho nền kinh tế trong nước, tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng GDP. Và việc nhập khẩu những mặt hàng kém lợi thế hơn sẽ giúp làm phong phú và đa dạng hơn các loại mặt hàng, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước.
Giúp người tiêu dùng dễ dàng lựa chọn với nhiều mặt hàng phong phú và đa dạng về cả chủng loại, số lượng và mẫu mã, từ mặt hàng thường đến mặt hàng xa xỉ. Việc nhập khẩu hàng hóa sẽ tạo điều kiện kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh XNK, với khối lượng lớn và hàng hóa phong phú, đa dạng. Mang lại cho các doanh nghiệp nguồn thụ lợi nhuận lớn từ các hợp đồng thương mại quốc tế. Tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm cho người lao động.
SV: Phạm Ngọc Nguyên 5 Lớp: CQ45/05.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính Chuyên đề cuối khóa Nhập khẩu hàng hóa vào trong nước với khối lượng lớn làm tăng thu cho ngân sách nhà nước từ các khoản thuế doanh nghiệp nộp khi nhập khẩu hàng hóa đồng thời thực hiện chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế. Với tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, vai trò của thuế quan đối với nguồn thu ngân sách ngày càng giảm, nhưng đối với các nước đang phát triển như nước ta thì thuế XK, NK đặc biệt là thuế nhập khẩu vẫn là nguồn thu quan trọng cho ngân sách quốc gia. Xuất phát từ lợi ích của việc nhập khẩu hàng hóa thương mại, việc làm thủ tục hải quan cho hàng hóa NK đóng vai trò quan trọng, đảm bảo cho các hoạt động kinh tế đối ngoại, giao lưu thương mại giữa các quốc gia, thể hiện vai trò quản lý của nhà nước đối với các hoạt động XNK. Nhà nước quản lý hàng hóa nhập khẩu thông qua cơ quan hải quan nhằm kiểm soát việc NK hàng hóa qua biên giới.
Sự kiểm soát này là cần thiết để phòng chống lại các hành vi lợi dụng thương mại quốc tế phục vụ các mục tiêu không có lợi cho quốc gia như buôn lậu, XNK hàng hóa thuộc danh mục cấm, nguy hiểm và không an toàn đối với xã hội (các chất gây nghiện, heroin, văn hóa phẩm đồ trụy…), kiểm soát gian lận thương mại, trốn thuế… Quản lý hải quan là cần thiết để thực thi các chính sách của nhà nước nhằm định hướng hoạt động XNK hàng hóa phục vụ lợi ích quốc gia. Góp phần điều tiết kiểm soát hoạt động ngoại thương, ngăn chặn hàng hóa không khuyến khích nhập khẩu, cân bằng kim ngạch XNK, khắc phục hiện tượng mất cân bằng cán cân thương mại. Thông qua chính sách thuế từng thời kỳ, tổ chức thực hiện thu thuế XK, NK nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Các chính sách thuế còn đóng vai trò điều tiết cơ chế XNK nhằm hạn chế hoặc khuyến khích việc XNK đối với từng loại hàng hóa trong những giai đoạn nhất định nhằm mục đích quản lý vĩ mô nền kinh tế.
SV: Phạm Ngọc Nguyên 6 Lớp: CQ45/05.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính Chuyên đề cuối khóa Tạo môi trường thương mại và đầu tư lành mạnh, bình đẳng nhằm thúc đẩy hoạt động sản xuất trong nước và thu hút đầu tư nước ngoài. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa hài hòa hóa thủ tục hải quan, giảm thiểu sự can thiệp không cần thiết vào các hoạt động thương mại hợp pháp, giảm chi phí cho các doanh nghiệp, tạo môi trường đầu tư thuận lợi thu hút vốn đầu tư nước ngoài, qua đó góp phần vào tăng trưởng và phát triển đất nước. Bảo đảm thu thập số liệu thống kê thương mại chính xác và kịp thời từ đó góp phần tích cực cho Đảng, nhà nước, chính phủ hoạch định chính sách và giải pháp phát triển kinh tế, xã hội qua từng thời kỳ. Vì vậy việc kiểm soát hoạt động nhập khẩu hàng hóa thương mại của cơ quan hải quan là tất yếu.Thủ tục hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu thương mại : 1.Khái niệm và cơ sở pháp lý TTHQ đối với hàng hoá nhập khẩu thương mại Theo công ước Kyoto về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung tháng 6 năm 1999): “Thủ tục hải quan là tất cả các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và bên hải quan phải thực hiện nhằm đảm bảo sự tuân thủ Luật Hải quan.” Theo Luật hải quan Việt Nam: “thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật đối với hàng hóa phương tiện vận tải.” Như vậy thủ tục hải quan có thể hiểu là trình tự các bước công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của pháp luật khi thực hiện hoạt động XK, NK.
Thủ tục hải quan mang một số tính chất cơ bản như sau: SV: Phạm Ngọc Nguyên 7 Lớp: CQ45/05.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính Chuyên đề cuối khóa Tính hành chính bắt buộc thể hiện ở chỗ đây là một quy định cứng bắt buộc tất cả các đối tượng liên quan như các tổ chức, cá nhân thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải phải làm thủ tục hải quan và cơ quan hải quan, công chức hải quan có trách nhiệm quản lý Nhà nước về hải quan, các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm phối hợp trong việc quản lý Nhà nước về hải quan. Tính trình tự thể hiện ở chỗ quy định việc gì, khâu nào phải làm trước, việc gì, khâu nào phải làm sau, cái nào là tiền đề, là kết quả của cái kia v.v… Tính liên tục thể hiện thủ tục hải quan phải được thực hiện liên tục, không ngắt quãng, cái trước phải là tiền đề cho cái sau, cái sau là kết quả của cái trước, nó có tác dụng hỗ trợ, bổ trợ cho nhau đảm bảo thời gian thông quan hàng hóa một cách nhanh nhất, tạo điều kiện cho hoạt động xuất khẩu. Tính thông nhất thể hiện ở chỗ thủ tục hải quan phải thống nhất từ hệ thống văn bản, phải thống nhất từ quy định bộ hồ sơ phải nộp, phải xuất trình, phải thống nhất trong cách xử lý, thống nhất trong các chi cục, các cục, trong toàn quốc, thống nhất về các nghiệp vụ trong suốt dây truyền làm thủ tục Hải quan, thống nhất ở tất cả các địa điểm làm thủ tục hải quan trong phạm vi cả nước, không cho phép thủ tục hải quan ở địa điểm này khác thủ tục hải quan ở địa điểm khác. Tính công khai minh bạch và quốc tế hoá : Để đảm bảo được tính thống nhất của thủ tục hải quan,tất yếu thủ tục hải quan phải được công khai hoá và minh bạch hoá , vì đây là thủ tục hành chính bắt buộc.
Tính chất này được thể hiện ở chỗ thủ tục hải quan được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật và được đăng tải trên các phương tiện thong tin đại chúng cụ thể phải được đăng tải tại Công báo của Chính phủ , được niêm yết tại địa điểm làm thủ tục Hải Quan. SV: Phạm Ngọc Nguyên 8 Lớp: CQ45/05.01 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Học viện Tài chính Chuyên đề cuối khóa 1.