Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỦ TỤC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1. Tổng quan về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1. Khái niệm về quyền sử dụng đất Theo quy định của pháp luật dân sự, quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản [25], quyền sử dụng là một trong những bộ phận cấu thành của quyền sở hữu. Chủ sở hữu là người có đầy đủ và tuyệt đối quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.
Giáo trình Luật đất đai của Đại học Luật Hà Nội định nghĩa về QSDĐ như sau: Quyền sử dụng đất là quyền khai thác các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của đất nước [13]. Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý, vấn đề này được quy định tại Điều 19 Hiến pháp năm 1980, Điều 17 Hiến pháp năm 1992 và tiếp tục được khẳng định lại ở Điều 53 Hiến pháp năm 2013. Nhà nước với tư cách là chủ thể đại diện cho chủ sở hữu đất đai sẽ có đầy đủ và tuyệt đối các quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. QSDĐ của Nhà nước là vĩnh viễn, trọn vẹn và không bị hạn chế.
Tuy nhiên, để phát triển kinh tế xã hội, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, Nhà nước không trực tiếp sử dụng toàn bộ đất đai mà trao quyền lại cho các chủ thể khác như tổ chức, cá nhân, hộ gia đình…thông qua việc giao đất, cho thuê đất và các hình thức công nhận QSDĐ. Lúc này, các chủ thể đó trở thành NSDĐ và có QSDĐ nhưng quyền này bị hạn chế về diện tích, thời hạn, mục đích sử dụng…tùy theo ý chí của Nhà nước. Trong quá trình sử dụng đất, các chủ thể được nhà nước trao quyền có thể chuyển nhượng hoặc nhận chuyển nhượng, tặng cho…QSDĐ của mình, 7 lúc này, QSDĐ lại được coi là một loại tài sản, cụ thể là một loại quyền tài sản. Theo quy định của pháp luật dân sự tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản [25].
Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với quyền sở hữu trí tuệ, QSDĐ và các quyền tài sản khác [25]. Dưới góc độ này, QSDĐ được coi là một loại quyền tài sản. Loại tài sản này đặc biệt ở chỗ, nó là tài sản được xác lập trên một tài sản, và tài sản này luôn luôn gắn với một tài sản khác đó là đất đai [14]. QSDĐ là một quyền tài sản có giá trị của NSDĐ, là một loại hàng hóa được phép lưu thông trên thị trường và chịu sự tác động và chi phối bởi các quy luật của thị trường.
Tiếp cận ở phương diện này thì QSDĐ được tách ra một cách độc lập khỏi quyền sở hữu, không phụ thuộc vào quyền sở hữu và trở thành “tài sản tư” của những NSDĐ. Theo đó, với QSDĐ đã được Nhà nước xác lập, NSDĐ được chủ động và linh hoạt quyết định số phận pháp lý đối với tài sản là QSDĐ của mình sao cho có hiệu quả nhất [15]. Tóm lại, xem xét QSDĐ dưới góc độ là một bộ phận cấu thành của quyền sở hữu hay là một quyền tài sản giúp nắm rõ hơn về bản chất của QSDĐ. Chủ thể của QSDĐ có thể là Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân, hộ gia đình được nhà nước trao quyền.
Nhà nước là chủ thể có QSDĐ tuyệt đối và không bị giới hạn, các chủ thể khác nếu muốn có QSDĐ phải được Nhà nước cho phép, việc cho phép này thể hiện thông qua hoạt động cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Luật đất đai năm 2013 đưa ra khái niệm về giấy chứng nhận QSDĐ tại Khoản 16, Điều 3 như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất. Nhà nước không phải là đối tượng trực tiếp sử dụng đất đai, với tư cách 8 là đại diện chủ sở hữu, thực hiện chức năng quản lý đất đai nhà nước trao lại QSDĐ đai cho những chủ thể trực tiếp sử dụng đất đai như cá nhân, tổ chức, hộ gia đình…thông qua hoạt động cấp giấy chứng nhận QSDĐ. Việc cấp giấy chứng nhận QSDĐ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công tác quản lý đất đai của nhà nước và bảo vệ quyền lợi của NSDĐ.
Vai trò đó được thể hiện dưới các góc độ sau: - Thứ nhất, dưới góc độ quản lý nhà nước: Một là, giấy chứng nhận QSDĐ giúp Nhà nước nắm bắt cụ thể hiện trạng, nguồn gốc cũng như biến động của quá trình sử dụng đất. Theo quy định tại Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 05 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và môi trường, giấy chứng nhận QSDĐ phải ghi rõ các nội dung sau: tên NSDĐ; thông tin chi tiết về thửa đất như vị trí thửa đất, hình thức sử dụng, mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng, nguồn gốc sử dụng…và những thay đổi khi cấp giấy chứng nhận. Điều này giúp các cơ quan quản lý Nhà nước thông qua giấy chứng nhận QSDĐ nắm rõ được nguồn gốc và những biến động trong quá trình sử dụng đất. Hai là, giấy chứng nhận QSDĐ là cơ sở để phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai.
Khi có tranh chấp đất đai xảy ra, có hai cơ quan có thẩm quyền để giải quyết tranh chấp là Tòa án hoặc Uỷ ban nhân dân, để xác định được cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sẽ căn cứ vào giấy chứng nhận QSDĐ hoặc các giấy tờ liên quan [24]. Việc phân định thẩm quyền giúp tránh hiện tượng đùn đẩy trách nhiệm hoặc chồng chéo thẩm quyền khi có nhiều cơ quan cùng có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Ba là, cấp giấy chứng nhận QSDĐ giúp Nhà nước quản lý thị trường kinh doanh bất động sản một cách khách quan và minh bạch. Sự quản lý của Nhà nước đối với thị trường bất động sản hiện nay vẫn chưa tương xứng với sự phát triển của thị trường.
Việc quản lý gặp nhiều khó khăn do thiếu thông 9 tin. - Thứ hai, dưới góc độ bảo vệ quyền lợi NSDĐ: Một là, giấy chứng nhận QSDĐ là một đảm bảo quan trọng của Nhà nước về quyền và lợi ích hợp pháp cho NSDĐ, các quyền khi chuyển QSDĐ, bảo vệ các quyền lợi khi có tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về đất đai xảy ra. Giấy chứng nhận QSDĐ là chứng thư pháp lý để nhà nước xác nhận QSDĐ hợp pháp của NSDĐ, chính vì thế, khi có tranh chấp, khiếu nại hay tố cáo liên quan đến đất đai xảy ra, giấy chứng nhận QSDĐ là một chứng cứ quan trọng để Tòa án xem xét và đưa vào quá trình tố tụng. Những thông tin lưu giữ tại cơ quan quản lý đất đai sẽ giúp xác minh giá trị pháp lý của giấy chứng nhận QSDĐ và người có QSDĐ.
Hai là, giấy chứng nhận QSDĐ là một quyền chung của NSDĐ. Quyền chung của NSDĐ là quyền cùng tham gia sử dụng trên thửa đất được cấp. Trên mỗi giấy chứng nhận QSDĐ sẽ ghi tên của tất cả những người sử dụng thửa đất đó (hoặc người đại diện nếu có), tất cả chủ thể được ghi nhận sẽ có những quyền chung của NSDĐ như: Được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất, hưởng các lợi ích do công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình; được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của pháp luật; khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm QSDĐ hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai [24]. Ba là, loại giấy tờ này là điều kiện để NSDĐ được thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật.
Người được cấp giấy chứng nhận QSDĐ có quyền thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp QSDĐ; góp vốn 10 bằng QSDĐ [24, K1, Đ188]. Bốn là, giấy chứng nhận QSDĐ là điều kiện để NSDĐ được Nhà nước bồi thường thiệt hại về đất và tài sản gắn liền với đất khi bị Nhà nước thu hồi. Một trong những điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất là NSDĐ phải có giấy chứng nhận QSDĐ hoặc có đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận QSDĐ nhưng chưa được cấp theo quy định của pháp luật [24, Đ75]. Quy định này giúp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của NSDĐ trong trường hợp nhà nước phải thu hồi đất.
Đăng ký đất đai Đăng ký đất đai là một cách gọi của hệ thống đăng ký đất đai và theo định nghĩa của UN-ECE12, nó là một quá trình xác lập và lưu trữ một cách chính thức các quyền lợi đối với đất đai dưới hình thức hoặc là đăng ký văn tự giao dịch hay đăng ký các loại văn kiện nào đó có liên quan đến việc chuyển giao quyền sở hữu/sử dụng đất, hoặc là dưới hình thức đăng ký chủ quyền đất. Tại Việt Nam, đăng ký đất đai là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về QSDĐ, quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính [K15, Đ3, 24]. Đây là một thủ tục hành chính mang tính bắt buộc đối với NSDĐ và người được giao đất để quản lý [Đ95, 24]. Việc đăng ký thực hiện đối với mọi trường hợp sử dụng đất (kể cả các trường hợp không đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận) hay các trường hợp được giao quản lý đất và tài sản gắn liền với đất.
Nó nhằm ghi nhận tình trạng pháp lý về QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính. Đăng ký đất đai giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Hoạt động này cũng giúp cho Nhà nước có thể quản lý đất đai một cách hiệu quả. Thông qua công tác đăng ký đất đai, Nhà nước có thể kiểm soát được tình trạng đất đai đang được sử dụng, qua đó xây dựng kế hoạch để 11 sử dụng đất đai tốt hơn, tránh lãng phí đất, ổn định đời sống của người dân và phát triển kinh tế.