Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chương 2: Thực trạng pháp luật cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thực tiễn thi hành trên địa bàn thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. Chương 3: Giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT 1.1 Lý luận về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.1 Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1.1 Cơ sở của việc ra đời giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Trong thời kỳ nền kinh tế nước ta được quản lý bởi cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, kế hoạch hóa cao độ; Đất đai không được thừa nhận giá trị mà chỉ được coi như một thứ phúc lợi xã hội.
Nhà nước với tư cách là tổ chức do xã hội lập ra thay mặt xã hội thực hiện việc phân phối đất đai cho các nhu cầu sử dụng khác nhau của con người. Pháp luật đất đai ở thời kỳ này nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức trách nhiệm của người sử dụng đất tại mục III, Quyết định số 201-CP, ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước. Quan hệ đất đai chỉ đóng khung ở mối quan hệ theo “chiều dọc” giữa Nhà nước và NSDĐ; theo đó, Nhà nước cấp đất không thu tiền sử dụng đất cho tổ chức, cá nhân. Khi không có nhu cầu sử dụng đất, tổ chức, cá nhân trả lại đất cho Nhà nước.
Như vậy, QSDĐ với tư cách là quyền tài sản chưa được thừa nhận chính thức. Kể từ khi nền kinh tế chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động trong nông nghiệp, Nhà nước thực hiện việc giao đất, cho thuê đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài (gọi chung là NSDĐ). Họ được chuyển QSDĐ trong thời hạn giao đất, cho thuê đất. Như vậy, QSDĐ trở thành một loại quyền về tài sản.
Song để NSDĐ yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai; từ đó khuyến khích họ đầu tư bồi bổ, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì QSDĐ phải được Nhà nước bảo hộ và đảm bảo về mặt pháp lý thông qua việc họ được cấp GCNQSDĐ. - Với những phân tích, lập luận trên đây, dường như ở nước ta xác lập hình thức “sở hữu kép” trong lĩnh vực đất đai; theo đó, về mặt chính trị - pháp lý, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; về mặt thực tế, NSDĐ sở hữu QSDĐ. Để ghi nhận và bảo hộ QSDĐ của NSDĐ với tư cách là một quyền về tài sản, pháp luật phải bảo đảm về mặt pháp lý đối với QSDĐ thông qua việc cấp GCNQSDĐ. Điều này được quy định trong Luật Đất đai năm 2013: “Bảo đảm của Nhà nước đổi với NSDĐ: Bảo hộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hợp pháp của NSDĐ; Cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền 7 sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho NSDĐ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật…” 1.
- Pháp luật đất đai nước ta tiếp cận lý thuyết về vật quyền (quyền đối với vật) trong quy định các quyền của NSDĐ. Mặc dù, đất đai không thuộc sở hữu của NSDĐ mà thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu song khi được giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ ổn định lâu dài, họ cũng có những quyền năng nhất định đối với đất đai bao gồm quyển chiếm hữu, quyền quản lý, QSDĐ và được chuyển QSDĐ. Điều này đảm bảo cho NSDĐ sự chủ động, tự do nhất định trong việc sử dụng đất, khuyến khích họ đầu tư, bồi bổ, cải tạo nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai. Như vậy, quyền của NSDĐ đối với đất đai phải được Nhà nước bảo đảm về mặt pháp lý thì họ mới yên tâm gắn bó lâu dài với đất đai và có sự đầu tư lớn vào đất đai.
GCNQSDĐ là sự công nhận và bảo hộ về mặt pháp lý của Nhà nước đối với quyền tài sản của NSDĐ trong lĩnh vực đất đai. - Hiến pháp năm 2013 quy định: “Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận QSDĐ. NSDĐ được chuyển QSDĐ, thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của luật. QSDĐ được pháp luật bảo hộ” 2.
Cụ thể hóa nội dung này của Hiến pháp năm 2013, Luật Đất đai năm 2013 quy định về bảo đảm của Nhà nước đối với NSDĐ (Điều 26); trong đó, có việc Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Như vậy, GCNQSDĐ ra đời như một bảo đảm của Nhà nước nhằm bảo hộ QSDĐ của tổ chức, cá nhân. Khái niệm về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp luật đất đai. Thuật ngữ này tiếp tục được đề cập trong Luật Đất đai năm 2013.
Xét dưới góc độ học thuật, khái niệm GCNQSDĐ được giới khoa học pháp lý nước ta xem xét, tìm hiểu và có một số cách giải thích về thuật ngữ này như sau: - Luật đất đai năm 2013, quy định:“Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”3. - Giáo trình Luật đất đai năm 2010 của Trường Đại học Luật Hà Nội quan 1 Khoản 1, 2 Điều 26 Luật Đất đai năm 2013 2 Khoản 2, Điều 54 Hiến pháp năm 2013. 3 Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013. 8 niệm: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư Nhà nước cấp cho người sử dụng đất để họ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp về đất đai và được Nhà nước bảo hộ khi quyền của họ bị xâm phạm”4.
- Theo Từ điển Luật học năm 2006 do Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp): “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Giấy chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất”5. - Theo Từ điển Giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Chứng thư pháp lý đầy đủ xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa Nhà nước và người sử dụng đất”6. Dù có những quan niệm khác nhau về GCNQSDĐ trong sách, báo pháp lý ở nước ta song giới luật học đều thống nhất với nhau ở điểm GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý do Nhà nước cấp cho NSDĐ để công nhận QSDĐ của họ là hợp pháp. Hoạt động cấp GCNQSDĐ có thể được hiểu là hoạt động đăng kí QSDĐ của người sử dụng đối với cơ quan có thẩm quyền và việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ việc đăng ký để cấp GCN, trao QSDĐ cho người đăng ký theo quy định.
Thực tế, có nhiều khái niệm về đăng ký, cụ thể như sau: Trong Từ điển luật học có nêu: Đăng ký quyền sở hữu: (Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý các quyền của chủ sở hữu đối với tài sản quan hệ dân sự” và “Đăng ký QSDĐ: Thủ tục kê khai, đăng ký chính xác, trung thực tình hình, hiện trạng sử dụng đất, nguồn gốc đất đai theo các mẫu phiếu kê khai, vào sổ sách địa chính với sự hướng dẫn của cơ quan thực hiện đăng ký, thống kê đất đai. Tại khoản 15, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013, quy định: Đăng kí đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính. Vậy ta có thể hiểu rằng: Đăng ký QSDĐ là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi vào Sổ đăng ký bất động sản sự kiện làm phát sinh, thay đổi, hạn chế hoặc chấm dứt QSDĐ để xác lập hiệu lực đối kháng giữa NSDĐ, chủ sở hữu tài sản gắng liền với đất với người thứ ba theo quy định của pháp luật. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền căn cứ nội dung, tính chất pháp lý của việc đăng kí để thực 4 Trường Đại học Luật Hà Nội: Giáo trình Luật đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2010, tr.
5 Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý: Từ điển Luật học, Nxb Tư pháp và Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2006, tr. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội: Từ điển Giải thích Thuật ngữ Luật học (Phần Luật đất đai, Luật lao động Tư pháp quốc tế),Nxb Công an nhân dân, Hà Nội – 1999, tr. 9 hiện cấp GCNQSDĐ. Qua đó, khái niệm về cấp GCNQSDĐ được nhìn nhận như sau: Là các hoạt động của các cơ quan pháp luật thực hiện quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ (xác minh khi có đăng ký QSDĐ để cấp GCNQSDĐ) Từ những phân tích nêu trên, khái niệm về cấp GCNQSDĐ được nhìn như sau: Là các hoạt động của các cơ quan pháp luật thực hiện quá trình xác lập căn cứ pháp lý đầy đủ (xác minh khi có đăng kí QSDĐ) để cấp GCNQSDĐ theo đúng pháp luật.
Việc đăng ký đất đai là tiền đề, là căn cứ để cấp GCNQSDĐ cho đối tượng (những đối tượng) đang sử dụng đất hoặc có QSDĐ nhưng chưa được Nhà nước chứng nhận quyền đó. Khi thửa đất đã được cấp GCNQSDD, việc đăng ký lần đầu đã hoàn thành, khi có biến động cần đăng kí biến động, GCNQSDĐ là căn cứ để chứng thực quyền của đối tượng đã đăng ký lần đầu nếu có tranh chấp xảy ra.3 Các nguyên tắc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất GCNQSDĐ có ý nghĩa rất quan trọng đối với Nhà nước và NSDĐ.