Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm và thang đo 1. Trầm cảm Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trầm cảm là một loại vấn đề SKTT thường gặp, đặc trưng bởi cảm giác buồn, mất hứng thú hoặc không vui, cảm giác tội lỗi hoặc cảm giác thấp kém, bị rối loạn giấc ngủ hoặc chán ăn, cảm giác mệt mỏi hoặc kém tập trung. Trầm cảm có thể kéo dài hoặc tái phát, làm suy giảm đáng kể các hoạt động bình thường ở nơi làm việc, trường học hoặc hoạt động thường ngày.
Trầm cảm nặng có thể dẫn đến tự tử (1). Theo Phân loại quốc tế về bệnh tật phiên bản 10 (ICD-10), trầm cảm là một tình trạng bệnh lý tâm thần, trong các giai đoạn trầm cảm nhẹ, trung bình, nặng người bệnh bị giảm khí sắc, giảm năng lượng và giảm hoạt động. Khả năng thích thú, quan tâm và tập trung đều giảm sút. Người bệnh thường xuyên mệt mỏi rõ rệt dù chỉ là một cố gắng rất nhỏ, thường có rối loạn giấc ngủ và giảm sự ngon miệng.
Tính tự trọng và sự tự tin hầu như luôn giảm sút và ngay cả ở thể nhẹ thường có một vài ý tưởng tội lỗi hoặc không xứng đáng. Tùy thuộc vào số lượng và mức độ của triệu chứng, một giai đoạn trầm cảm có thể được xác định là nhẹ, trung bình và nặng (17). Lo âu Lo âu, theo Hiệp hội Tâm thần Mỹ (APA), là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người trước những mối đe dọa, khó khăn, thử thách mà một người với tâm lý bình thường có thể nhận thức được. Lo âu là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng với các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó (18).
Khi lo âu mang tính chất dai dẳng, lan tỏa, không khu trú vào một sự kiện hoặc hoàn cảnh đặc biệt nào đó, gây trở ngại cho công việc, học tập, sinh hoạt, ảnh hưởng xấu đến các mối quan hệ của cá nhân thì sẽ dẫn đến rối loạn lo âu (19). Rối loạn lo âu là một nhóm rối loạn tâm thần có đặc điểm bởi cảm giác lo lắng và sợ hãi, bao gồm rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ, ám ảnh, rối loạn lo âu xã hội, rối loạn 5 ám ảnh cưỡng chế và rối loạn căng thẳng sau chấn thương. Các triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng. Có triệu chứng lo âu trong thời gian kéo dài khiến rối loạn lo âu trở thành mạn tính (1).
Căng thẳng Căng thẳng (WHO 2023) là phản ứng của cơ thể mỗi người trước những áp lực của cuộc sống, yếu tố đe dọa đến tinh thần. Căng thẳng không chỉ xuất hiện khi gặp những việc tiêu cực mà còn có thể đến từ những điều tích cực trong cuộc sống. Hầu hết mọi người đều trải qua cảm giác căng thẳng ít nhất một lần trong đời. Đây có thể coi là cơ chế bảo vệ tự nhiên cũng như một phần bình thường của cuộc sống, tuy nhiên căng thẳng kéo dài sẽ gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người (2).
Rối loạn liên quan đến căng thẳng là một loại rối loạn tâm thần, là những phản ứng kém thích nghi, sinh học và tâm lý đối với sự tiếp xúc ngắn hạn hoặc dài hạn với các tác nhân gây căng thẳng về thể chất hoặc cảm xúc. ICD-11 của Tổ chức Y tế Thế giới phân loại rối loạn liên quan đến căng thẳng gồm rối loạn căng thẳng sau chấn thương, rối loạn điều chỉnh (20). Chương trình Methadone Methadone là chất dạng thuốc phiện (CDTP) tổng hợp, đồng vận toàn phần với các thụ thể của CDTP (μ, κ và δ), hấp thu qua đường uống đã được lựa chọn là một trong những phương pháp điều trị thay thế nghiện các CDTP tự nhiên cũng như bất hợp pháp có hiệu quả trên thế giới kể từ năm 1964 tới nay. Chương trình điều trị nghiện CDTP bằng thuốc thay thế Methadone (MMT) được triển khai tại Việt Nam từ năm 2008.
Những người TCMT nhiễm vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (Human Immunodeficiency Virus -HIV) được điều trị HIV bằng thuốc kháng vi rút HIV (Anti Retrovirus Treatment - ART) và Methadone (21). Thang đo trầm cảm, lo âu, căng thẳng Hiện nay có nhiều bộ công cụ được sử dụng để đánh giá các vấn đề SKTT. như bảng hỏi Kessler (K10) (22), thang đánh giá rối loạn tâm thần (RLTT) ban đầu (PRIME-ME) (23), thang triệu chứng Shona (SSQ-14) (24), thang đo trầm cảm 9 mục (PHQ-9) (25), thang đo trầm cảm, lo âu, căng thẳng 21 câu (DASS-21) (26). 6 Trong chương trình “Băng ghế tình bạn” (BGTB) gốc ở Zimbabwe, thang triệu chứng Shona (SSQ-14) là công cụ sàng lọc rối loạn trầm cảm, rối loạn lo âu, nhưng thang đo này viết bằng tiếng Shona, và mới chỉ được kiểm chứng ở Zimbabwe nên không thể áp dụng được ở Việt Nam (24).
Trong các nghiên cứu khác về BGTB tại Zimbabwe và Malawi, thang sức khỏe người bệnh 9 mục (PHQ-9) được sử dụng là công cụ sàng lọc SKTT ở người bệnh. Tuy nhiên, thang đo này chỉ đo trầm cảm (25). Thang trầm cảm, lo âu, căng thẳng DASS-21 (Depression Anxiety Stress Scale -21 Items) được Lovibond xây dựng năm 1995. DASS-21 có 21 câu chia đều cho 3 cấu phần trầm cảm, lo âu và căng thẳng được sắp xếp xen kẽ.
Cấu phần trầm cảm đánh giá sự phiền muộn, vô vọng, mất giá trị cuộc sống, tự ti, thiếu hứng thú và mong muốn tham gia, mất hứng thú và quán tính. Cấu phần lo âu đánh giá sự kích thích thần kinh tự chủ, tác động lên cơ xương, lo âu theo tình huống và trải nghiệm chủ quan về ảnh hưởng của lo âu. Cấu phần căng thẳng đo sự nhạy cảm với mức độ kích thích không đặc hiệu mãn tính, đánh giá mức độ khó thư giãn, hưng phấn thần kinh, mức độ dễ bị khó chịu/kích động/cáu kỉnh/phản ứng quá mức và thiếu kiên nhẫn (26). DASS-21 là công cụ sàng lọc và đánh giá SKTT có ưu điểm ngắn gọn, dễ thực hiện, và đo lường ba tình trạng SKTT gồm trầm cảm, lo âu và căng thẳng phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Ngoài ra, DASS-21 có thể đánh giá mức độ trầm trọng của vấn đề SKTT. Các nội dung được đề cập trong DASS-21 là để đánh giá một thực trạng vấn đề SKTT chứ không hẳn có ý nghĩa chẩn đoán bệnh như trong ICD-10. Nhờ những ưu điểm này, DASS-21 đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã công bố về độ tin cậy và giá trị của DASS-21 với người dân cộng đồng và người lao động ở Ý, Anh, Hàn Quốc (27-29).
Ở Việt Nam, DASS-21 đã được dịch và chuẩn hóa ở nhiều đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) khác nhau như thanh thiếu niên (30), phụ nữ nông thôn (13), nhân viên y tế (31) và cho người điều trị Methadone (4). DASS-21 là thang đo được đề tài gốc lựa chọn làm công cụ để đánh giá và vì vậy được sử dụng trong luận án này. Bộ công cụ sàng lọc sử dụng các chất có cồn, thuốc lá và các chất gây nghiện Bộ công cụ sàng lọc sử dụng các chất có cồn, thuốc lá và các chất gây nghiện (Alcohol, Smoking, Substance Involvement Screening Test - ASSIST) là một bảng hỏi gồm 8 câu hỏi để sàng lọc việc sử dụng thuốc lá, đồ uống có cồn, cần sa, cocain, chất kích thích dạng Amphetamine, chất hít gửi, thuốc ngủ-an thần, chất gây ảo giác và chất dạng thuốc phiện (heroin, morphine, methadone, buprenorphine, codeine, v.) ASSIST được dùng để phát hiện và quản lý việc sử dụng các chất gây nghiện và các vấn đề liên quan. ASSIST thu thập thông tin về các vấn đề trên của khách hàng trong suốt cuộc đời và trong 3 tháng qua (32).
ASSIST được thẩm định và chứng tỏ sự thích hợp để xác định việc sử dụng các chất gây nghiện ở nhiều ĐTNC và môi trường khác nhau (33, 34). ASSIST được dùng để sàng lọc chứ không để chẩn đoán, giúp phát hiện sớm các vấn đề liên quan đến việc sử dụng các chất gây nghiện. Ở Việt Nam, Bộ Y tế đã có hướng dẫn sử dụng ASSIST để sàng lọc, đánh giá mức độ sử dụng ma túy tổng hợp ở tuyến y tế cơ sở (35). ASSIST là thang đo được đề tài gốc lựa chọn làm công cụ để đánh giá 3 chất gây nghiện là đồ uống có cồn, chất kích thích dạng Amphetamin và chất dạng thuốc phiện.
Trong khuôn khổ luận án này, chúng tôi chỉ dùng ASSIST để phân tích 2 chất gây nghiện là đồ uống có cồn và chất dạng thuốc phiện (CDTP). Tổng quan các liệu pháp can thiệp sức khỏe tâm thần và ứng dụng cho người nhiễm HIV, người tiêm chích ma tuý, người điều trị Methadone 1. Tổng quan các liệu pháp can thiệp sức khỏe tâm thần Các chương trình can thiệp áp dụng nhiều cách tiếp cận khác nhau, hướng đến việc cải thiện SKTT cho ĐTNC, phổ biến nhất là hai liệu pháp hành vi nhận thức (Cognitive Behaviour Therapy – CBT) và giải quyết vấn đề (Problem Solving Therapy – PST). Liệu pháp hành vi nhận thức CBT là một phương pháp điều trị tâm lý hiệu quả được sử dụng rộng rãi trong việc hỗ trợ người bệnh đối mặt với các vấn đề SKTT.
CBT hoạt động dựa trên nguyên tắc rằng suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của mỗi người có mối liên hệ mật thiết với nhau. Khi những suy nghĩ tiêu cực hoặc sai lệch xuất hiện, chúng có thể dẫn đến 8 những cảm xúc tiêu cực và hành vi không lành mạnh, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người (36). Theo Richardson và Rothstein (2008), các can thiệp áp dụng CBT được đánh giá là hiệu quả trong việc cải thiện sức khỏe tâm thần. CBT cung cấp nhiều chiến lược cho các cá nhân ở mọi cấp độ, từ những bài tập nâng cao nhận thức đơn giản đến các kỹ thuật thay đổi hành vi phức tạp hơn như thay đổi suy nghĩ, kỹ năng ứng phó, quản lý cơn nóng giận và hướng dẫn cách thể hiện suy nghĩ của bản thân.
CBT có hiệu quả trong việc giảm căng thẳng, lo âu và trầm cảm. Ngoài ra, CBT còn giúp cải thiện khả năng đối phó với những tình huống khó khăn, tăng cường lòng tự trọng, sự tự tin và nâng cao chất lượng cuộc sống (37). CBT có thể được thực hiện cho nhiều đối tượng khác nhau, theo hình thức cá nhân với sự hướng dẫn của chuyên gia SKTT hoặc theo hình thức nhóm với sự hỗ trợ của đồng đẳng (38). CBT yêu cầu cần có chuyên gia trong lĩnh vực tâm lý hoặc tâm thần phân tích các vấn đề về mặt thể chất, tinh thần của khách hàng để lựa chọn kỹ năng phù hợp, giúp họ thay đổi tư duy nhận thức và hành vi.