CHƯƠNG 1 : TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VIỆT NAM 1.1 Tiềm năng du lịch tự nhiên. Việt Nam trải dài trên 15 vĩ tuyến, hơn 7 kinh tuyến với tổng diện tích khoảng 330 990 km2, vùng lãnh hải và đặc quyền kinh tế rộng. Việt Nam lại nằm ở cửa ngõ của bán đảo Đông Dương, là nơi quá cảnh thuận tiện của các tàu thuyền trong khu vực Đông Nam Á, là đường giao thông trọng yếu từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương và chiếm vị trí đầu cầu nối liền hai lục địa Châu Á và Châu Úc. Về mặt tự nhiên, Việt Nam là nơi hội tụ các luồng động thực vật từ phương bắc, nam và tây.
Về mặt cấu tạo địa chất, Việt Nam là nơi giao tiếp của hai vành đai sinh khóang Thái Bình Dương và Địa Trung Hải. Viêt Nam có một dáng hình tuyệt đẹp uốn cong từ địa đầu Móng Cái đến mũi Cà Mau. Núi non trùng điệp với nhiều điểm du lịch khám phá hấp dẫn: Sa Pa, Điện Biên, Mai Châu, Thác Bà, Thác Mơ, Phong Nha - Kẻ Bàng, Bà Nà. Hơn 3000 km bờ biển trải êm theo chiều dài đất nước với nhiều bãi biển đẹp: Nha Trang, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bãi Cháy.
Không ít danh lam thắng cảnh, giá trị văn hoá được UNESCO xếp hạng di sản thiên nhiên, di sản văn hoá thế giới: Vịnh Hạ Long, Phong Nha - Kẻ Bàng, thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An, cố đô Huế. và mới đây là không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. 6 Tạo “Ấn Tượng Việt Nam” nhằm thu hút du khách quốc tế 1.1 Núi, đồi, cao nguyên. Chiếm hơn ¾ lãnh thổ.
Chiều dài theo đường chim bay của đất nước là 1650 km thì hệ thống núi đã dài tới 1400 km, đó là chưa kể những ngọn núi lẻ tẻ ở vùng duyên hải và khu vực đồng bằng như các khối núi ở Long Hải thuộc Bà Rịa- Vũng Tàu, núi đá vôi Hà Tiên, vùng 7 núi ở An Giang… Trong vùng núi chứa đựng nguồn tài nguyên lâm sản, khóang sản, rừng cây và rừng nhiệt đới, hơn thế, địa hình chia cắt mạnh tạo cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, đấy là cơ sở thuận lợi để đa dạng hóa các lọai hình du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái như: thám hiểm, nghiên cứu, trekking, thể thao, tham quan, nghỉ dưỡng, hưởng tuần trăng mật,. Có thể kể đến 1 số vùng núi, cao nguyên tiêu biểu phục vụ cho du lịch đang và sẽ được khai thác như: đỉnh Phăng-xi-băng, cao nhất Việt Nam ở vùng Tây Bắc;, núi Hàm Rồng , núi Mẫu Sơn , núi Tam Đảo , vùng núi Ba Vì , Bạch Mã , Bà Nà, Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng), Đà Lạt (Lâm Đồng), vùng núi đá vôi Hà Tiên, núi Bà Đen , núi Sam … 1. Nguồn tài nguyên song hành với tài nguyên núi, đối và cao nguyên và hỗ trợ nhau phục vụ các lọai hình du lịch. Rừng Việt Nam là nơi cư trú của hàng ngàn lòai động thực vật góp phần cho Việt Nam được xếp vào top 20 nước đừng đầu thế giới về đa dạng sinh học.
Việt Nam có 107 khu rừng được bảo vệ với diện tích gần 2.790 ha, trong số đó có 12 vuờn quốc gia, 61 khu bảo tồn thiên nhiên, 34 khu rừng lịch sử - văn hóa môi truờng. Có thể kể tên như: vừơn quốc gia Hòang Liên (Lào Cai, nơi có ngọn núi Phanxipang, lí tuởng cho loại hình trekking tour), Cát Bà (Hải Phòng), Cúc Phương (Ninh Bình), Bãi Tử Long (Quảng Ninh), Ba Bể (Bắc Kạn), Bạch Mã (Thừa Thiên Huế), quần thể rừng ở vịnh Hạ Long, Chư Yang Sinh (Đắc Lắc), Cát Tiên (Đồng Nai), Phú Quốc. Ngoài ra, phải kể đến hệ sinh thái rừng ngập măn đặc thù tập trung ở phía nam, nhất là ở tỉnh Cà Mau, diện tích khoảng 40. Hệ sinh thái cây đước - con tôm được du khách ưa thích vì 7 Tạo “Ấn Tượng Việt Nam” nhằm thu hút du khách quốc tế được thưởng thức các giống tôm tươi không phải qua ướp lạnh.
Rừng tràm cũng là một thế mạnh đặc biệt ở miền Nam, là nơi lí tưởng nuôi trồng cá đồng, bảo vệ chim hoang dã ở bải ao, đầm. Một số rừng tràm tiêu biểu như: tràm chim Đồng Tháp Mười; sân chim, vườn chim Minh Hải, sân chim Cù Lao Đất (Bến Tre)… 1.3 Biển Diện tích vùng biển nước ta rộng gấp đôi so với diện tích đất liền. Đường bờ biển Việt Nam dài 3260 km có gần 600.000 ha vùng cát biển. Đường bờ biển khúc khủyu, lồi lõm, cao thấp, các nhánh Trường Sơn đâm ra biển, nhiều vũng vịnh nổi tiếng tạo nhiều mủi đất đẹp.
Bờ biển dài, thỏai, cát mịn, sạch, nước biển trong xanh, độ sâu không lớn, nhiệt độ trung bình từ 20oC tới 23oC, giàu hải sản, ven biển có nhiều khu rừng ngập măn ở Kiên Giang và các vùng cửa sông lớn, các đồng cát trắng, rừng phi lao tạo nên những cảnh quan thơ mộng và đặc sắc. Biển là nơi lý tưởng cho các lọai hình du lịch như: thể thao, lặn biển, lướt ván, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, nghiên cứu, du lịch vào các làng nghề, hưởng tuần trăng mật…Một số bãi tắm đẹp như: Trà Cổ, Bãi Cháy (Quảng Ninh), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Đồ Sơn (Hải Phòng), Cửa Lò, Diễn Châu (Nghệ An), Đá Nhảy , Thuận An, Lăng Cô, Cảnh Dương , Non Nước (Đà Nẵng), Nha Trang (Khánh Hòa), Ninh Chữ , Vũng Tàu, Hà Tiên, Phú Quốc (Kiên Giang)…. Bên cạnh đó, Vịnh Hạ Long hai lần đươc UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, một cho vẻ mỹ quan tự nhiên ấn tượng và một cho cấu trúc địa chất nội bật. Vịnh Cam Ranh trằng sạch nguyên chất nối tiếng, là một trong ba vịnh có thể thiết lập cảng tốt nhất thế giới.
Vịnh Hà Tiên có nhiều vũng nhỏ xen kẽ với các khối núi đá vôi có đại hình karst, trong vịnh có hơn 100 đảo nhỏ… Không những thế, trên chủ quyền hơn 1 triệu km2 vùng biển, tính từ đường cơ sở ra 200 hải lí có tên 2700 đảo lớn nhỏ, trong đó có nhiều đảo có giá trị du lịch. Nằm trong vịnh Hạ Long có các đảo dịa hình karst ngập nước như: Soi Sim có cầu tàu nằm; Nầm Bò với động Mê Cung, có dấu tích của người tiền sử, có hồ nước trong lòng núi, rừng 8 Tạo “Ấn Tượng Việt Nam” nhằm thu hút du khách quốc tế xanh nhiệt đới trong khung cảnh địa chất đá vôi; đảo Đầu Bê với Hồ Ba Hầm chứa nguồn gen sinh học đa dạng, độc đáo, đảo Cái Bàu to nhất vịnh Hạ Long, rộng 251 km; đảo Cô Tô có ngọc trai; … Ở vùng biển miền trung có hai quần đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng) và Trường Sa (Khánh Hoà), các đảo: Hòn Dấu (Đồ Sơn), Hòn Nẹ, (Cửa Đẩy), Cù lao Chàm, Phú Quý (Bình Thuận), Côn Đảo (Vũng Tàu), Phú Quốc - đảo lớn nhât nước ta và quần thể biển đảo Hà Tiên - nguồn tài nguyên quý giá mà khó nơi nào trên thế giới có được. Thưc tế cho thấy biển thu hút trên 80% lương khách du lịch vào nước ta, 1 số khu du lịch có khả năng cạnh tranh trên thị truờng thế giới như: Fumara, Hòn Tre, Mũi Né, Long Hải, Phước Hải, Phú Quốc… 1.4 Sông, hồ, thác, suối, hang động Việt Nam có khoảng 2360 con sông có chiều dài từ 10 km trở lên, hê thống sông ngòi dày đặc, trong các vùng đồng bằng lớn mạng lưới kênh rạch chằng chịt thuận tiên cho việc đi lại. Sông ngòi Việt Nam có nhiều thác ghềnh chảy qua các thung lũng hẹp, sâu ở vùng núi đồi, cao nguyên; ở các đồng bằng sông thường chảy êm đềm, uốn khúc quanh co, trước khi ra biển tạo thành nhiều đầm phá.
Sông, hồ, thác, suối là tài nguyên lớn cho các loại hình du lịch nghỉ duỡng, chữa bệnh, bơi lặn săn, câu cá, phơi nắng, ngắm cảnh trên sông, mạo hiểm vượt thác… Hồ ở Việt Nam đa phần nhỏ nhưng nguồn gốc đa dạng: nguồn gốc karst, kiến tạo, khúc sông cổ, vũng vịnh hoặc do con người tạo nên. Một số hồ được du khách ưa thích như: Ba Bể (Bắc Kạn), xung quanh hồ có núi đá vôi rừng cây rậm rạp…; Hồ Hoàn Kiếm, Hồ Tây, Hồ Gươm, Hồ Xuân Hương, Than Thở (Đà Lạt); Hồ Thang Theng (Cao Bằng), mực nước lên xuống 2 lần trong ngày như thuỷ triều, Hồ Lắc lớn nhất Tây Nguyên, biển hồ Tơ Nưng (Gia Lai)… 9 Tạo “Ấn Tượng Việt Nam” nhằm thu hút du khách quốc tế Thác: Bản Giốc-lớn nhất nước ta, vô cùng hùng vĩ, vẻ đẹp vô giá,thác Đầu Đẳng (Cao Bằng), ; thác Prenn, Datala (Lâm Đồng), thác Yaly (Gia Lai) ; thác Trị an, Đá Hàn (Đồng Nai)… Suối: nước ta có khoảng 200 suối khoáng và suối nước nóng, riêng miền Nam có tới 100 suối, suối có hàm lương khoáng cao và rất tốt để chữa biệnh hay thư giãn, được nhiều người ưa chuộng.Có thể kể đến như: suối Vĩnh Hảo (Bình Thuận), suối Nghệ, Đảnh Thạnh (Khánh Hoà), Tri Tôn (An Giang)… là những suối khoáng, bên cạnh những suối nóng như: Nhân Gà, Kênh Gà… (miền Bắc), Cổ Bi, Bình Hoà, Nghĩa Kỳ, Phú Sen, Triêm Đức, Lệ Ninh… (miền Trung), cụm suối ở Đắc Tô, Kontum… (Tây Nguyên), suối Dục Mỹ, Bình Châu… (miền Nam) Hang dộng được thế giới đánh giá cao như: Tam Thanh (Lạng Sơn) được tạo thành trong dãy núi đá vôi; Hương Tích-Chùa Hương mệnh danh “ Nam Thiên đệ nhất động”; Phong Nha đẹp và lớn nhất nước ta, di sản văn hoá thế giới; Thạch Động –một trong 7 cảnh đẹp nổi tiếng ở Hà Tiên… Với những thế mạnh trên, tiềm năng du lịch của ta được ví như cô gái đẹp chìm đắm trong giấc ngủ dài, bỗng một ngày kia, chiếc gậy thần hội nhập đã đánh thức nàng dậy. Chúng ta không thể để tiềm năng cứ mãi là tiềm ẩn mà hãy khoe vẻ đẹp thiên tặng ấy cho thế giới chiêm ngưỡng.2 : Tiềm năng du lịch nhân văn 1.1 Lịch sử và văn hoá Việt Nam ta có hơn 4000 năm lịch sử, là nơi hội tụ nhiều chủng tộc với nhiều ngữ hệ khác nhau (Môn - Khmer, Việt Mường, Tạng, Tày-Thái, Malai - Indonesia… ), hấp thụ nhiều nền văn minh rực rỡ: Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mĩ… Chính những nguyên nhân trên tạo nên sự đa dạng, phong phú về tài nguyên nhân văn cho nền du lịch Việt Nam.