phần mở đầu, mục lục và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử và tập thơ Đau thương Chƣơng 3: Nghĩa hàm ngôn trong tập thơ Đau thương của Hàn Mặc Tử Chƣơng 4: Kết luận 20 21 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trải qua hàng nghìn năm sáng tác văn học Trung đại với những luật định quy tắc chặt chẽ, thi đàn Việt Nam với những cây bút tài năng ảnh hƣởng mạnh mẽ từ các trào lƣu văn học phƣơng Tây đã cho ra đời cái gọi là phong trào Thơ mới. Đúng nhƣ tên gọi, Thơ mới tức là đổi mới tất cả tƣ tƣởng tình cảm theo hƣớng cái tôi cá nhân, các thi sĩ tự do bay bổng theo cảm xúc của mình mà không cần phải tuân theo những quy ƣớc rập khuôn của văn học thời kì trƣớc. Những cây bút mới ra đời nhƣ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… đã để lại cho ngƣời đọc những cách nghĩ mới về về cuộc sống và tình cảm con ngƣời. Từ đó hàm ngôn trong từng câu chữ cũng đƣợc thể hiện mới mẽ qua hình thức nghệ thuật.
Thơ mới nói chung và thơ mới của Hàn Mặc Tử nói riêng sẽ là nguồn sáng tạo nghĩa hàm ngôn mới lạ thông qua nghĩa hiển ngôn có sẵn, khơi dậy đƣợc trí tƣởng tƣợng và khả năng cảm thụ của độc giả.1 Khái quát về phong trào Thơ mới Phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 là một hiện tƣợng văn học phong phú nhƣng khá phức tạp. Tiếng nói của các nhà thơ mới lãng mạn không phải là tiếng nói của giai cấp quý tộc phong kiến suy tàn. Nếu phân chia theo loại hình ý thức hệ, thì có lẽ nó gần với khuynh hƣớng lãng mạn tiểu tƣ sản hơn. Văn học lãng mạn Việt Nam chính là tiếng nói của bộ phận tƣ sản dân tộc và tiểu tƣ sản thành thị, tuy đã thoát li phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhƣng vẫn còn ấp ủ một tinh thần yêu nƣớc thầm kính.
Thơ mới lãng mạn chủ yếu là tiếng nói của tiểu tƣ sản trí thức và viên chức thành thị. Một khi đã thoát li phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, những ngƣời tiểu tƣ sản trí thức vốn không có hệ tƣ tƣởng độc lập, sẽ dần dần tự phát chạy theo những quan điểm tƣ sản (quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và quan điểm nhân sinh tƣ sản). Tuy nhiên thái độ phủ nhận một cách tiêu cực cái xã hội kim tiền ô trọc lúc bấy giờ lại là thái độ và tâm trạng những ngƣời tiểu tƣ sản trí thức đã sống những ngày quằn quại bế tắc trong cái vũng lầy của xã hội thực dân phong kiến. Các nhà lí luận mác xít hầu nhƣ đều thống nhất với nhau chia chủ nghĩa lãng mạn thế kỉ XIX thành hai khuynh hƣớng: tiến bộ, cách mạng và bảo thủ, phản động.
Ở 22 Việt Nam, các nhà thơ mới nhƣ Thế Lữ, Chế Lan Viên, Bích Khê, Hàn Mặc Tử đều có quá trình sáng tác phức tạp và mâu thuẫn. Mâu thuẫn ở đây là giữa hai khuynh hƣớng, có khi chúng đấu tranh với nhau, khi lại cùng nhau chống chủ nghĩa cổ điển. Chính vì vậy, tuy mâu thuẫn nhƣng cũng có lúc chúng hòa hợp, đấu tranh cùng phát triển. Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và khủng hoảng kinh tế, tuy có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực nhƣng nhìn chung, nằm trong khuynh hƣớng lãng mạn tiêu cực thoát li ( nhất là trong thời kì cuối đã có những dấu hiệu suy đồi trong thơ Bích Khê…).
Nhƣng những năm gần đây có một số ngƣời cho rằng “không thể ghép thơ mới vào khuynh hƣớng thoát li” và cái buồn trong thơ mới không phải là “cái buồn ủy mị dẫn đến bi quan mất tin tƣởng” mà là “khuynh hƣớng yêu đời”. Thơ mới thuộc khuynh hƣớng lãng mạn nhƣng không thoát li là một nghịch lí đầy mâu thuẫn. Nhƣng thoát li ở đây là thoát li cuộc đấu tranh chính trị, thoát li những vấn đề nƣớc sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, chứ không phải là thoát li cuộc sống con ngƣời nói chung. Thơ mới đau đời chứ không phải là yêu đời lạc quan.
Họ nặng lòng yêu cuộc sống nhƣng bị bế tắc không lối thoát nên hóa ra đau đời. Dù thoát li khỏi những vấn đề bức xúc của xã hội nhƣng dòng chủ lƣu của Thơ mới vẫn có chất nhân bản chủ nghĩa. Đứng về mặt phƣơng pháp sáng tác mà nói thì phần lớn Thơ mới là lãng mạn nhƣng cũng có tƣợng trƣng siêu thực. Bích Khê trong Tinh huyết và Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu nhã tập là đại biểu chính cho khuynh hƣớng tƣợng trƣng và siêu thực.
Thơ mới lãng mạn ra đời xóa tan khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến (nền văn học phi ngã) mà thay vào đó là cái “tôi” cá nhân, một cái “tôi” cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mĩ. Cái “tôi” trong thơ mới phần nào đã nói lên đƣợc một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân. Nó làm cho thế giới tâm hồn con ngƣời đƣợc mở rộng, ngày càng phong phú hơn. Nhớ rừng của Thế Lữ là “một khối căm hờn” đối với cảnh đời “nhục nhằn, tù hãm”, là lòng khao khát đƣợc tung hoành, vùng vẫy tự do giữa cảnh nƣớc non hùng vĩ.
Cái “tôi” của Xuân Diệu là niềm khao khát đƣợc sống hết mình sống trọn vẹn cho cuộc đời thực tại tƣơi đẹp…Trong những khát vọng của cái “tôi” cá nhân, Thơ mới tập trung đấu tranh cho quyền tự do yêu đƣơng, cho lối cảm xúc riêng, cho cái nhìn cá thể hóa, cho sự đổi mới thi pháp và tƣ duy thơ, cho sự sáng tạo những hình thức biểu hiện phong phú, 23 mang sắc thái độc đáo của phong cách cá nhân. Nhƣng cái tôi cá nhân trong thơ mới vừa ra đời đã hóa thành bƣớm trắng. Một mặt nó không chấp nhận cái xã hội kim tiền ô trọc, mặt khác nó lại xa rời cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nên cái “ tôi” đó đã rơi ngay vào tình trạng cô đơn, bơ vơ, không lối thoát. Với quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, với triết lí sống của chủ nghĩa cá nhân, các nhà thơ mới ngày càng đi vào con đƣờng bế tắc.
Mỗi nhà thơ đều cố gắng tìm cho mình con đƣờng thoát li riêng nhƣng càng tìm lại càng bế tắc, lạc lối. Trốn vào tình yêu (Xuân Diệu, Lƣu Trọng Lƣ, Hàn Mặc Tử), trốn vào quá khứ (Huy Cận, Vũ Đình Liên) và những thế giới siêu hình, trụy lạc (Vũ Hoàng Chƣơng) và điên loạn (Hàn Mặc Tử, Bích Khê)… Xuân Diệu ngập chìm trong thế giới yêu đƣơng, nhƣng trong thế giới đó, thi sĩ vẫn cảm thấy có gì đó bất trắc, không vững vàng. Cái tôi cá nhân thấy trƣớc cuộc đời của nó mong manh nên nó rất sợ sự thay đổi. Xuân Diệu nhìn thấy sự biến đổi, sự vận động nhƣng ông lại diễn tả sự vận động đó theo triết lí riêng “ một sự tuần hoàn nối tiếp” và rồi mọi thứ đều sẽ xiêu đổ, tan tát, tứ li…Thi sĩ hoảng hốt nhận ra thời gian không còn dài nên vội vã yêu đƣơng, không phí hoài tuổi trẻ: “Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết ! Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn” (Giục giã) Cái “tôi” trong Thơ mới trốn vào nhiều ngõ ngách, có nhiều màu sắc phức tạp khác nhau nhƣng ở đâu nó cũng không thể giấu đƣợc nỗi buồn và sự cô đơn.
Nỗi buồn vẫn vơ nhƣng thƣờng trực, sự mênh mông xa vắng đến rợn ngƣời đã kết tinh lại trong tiếng thơ của Lƣu Trọng Lƣ trong một buổi nắng h vắng lặng : “Mỗi lần nắng mới hắc bên song Xao xác gà trưa gáy não nùng…” (Lƣu Trọng Lƣ) Hay “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa 24 Chết không gian khô héo cả hồn cao…” (Xuân Diệu) Thơ mới ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Thời kì đầu, tinh thần dân tộc đó chính là tiếng vọng lại xa xôi của những phong trào yêu nƣớc và cách mạng từ năm 1925 đến 1930. Càng về sau tinh thần dân tộc trong Thơ mới càng nhạt dần. Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ mang một khối căm hờn, luôn mơ ƣớc đƣợc tự do tung hoành trong rừng thẳm.
Đó cũng là tình trạng chung của cả dân tộc bị áp bức, bị tù hãm dƣới ách cai trị của bọn thực dân phong kiến. “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cõi sơn lâm bóng cả cây già Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi. Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng” (Thế Lữ) Lòng yêu nƣớc của các nhà Thơ mới thƣờng mang tâm trạng thất bại chủ nghĩa. Huy Thông hƣớng đến Phan Bội Châu nhƣ hƣớng đến những tình cảm lớn của ngƣời anh hùng trong lịch sử, hƣớng đến một niềm khao khát đƣợc sống một cách mạnh mẽ, phóng khoáng.
Bài thơ Con voi già của Huy Thông đã nói lên điều đó. Voi già có một quãng đời tự do rất oanh liệt nhƣng những bọn xấu xa đã dùng võ lực để xâm chiếm “giang sơn hùng vĩ của voi già”. Từ đó voi già phải ra đi đến những vùng đất lạ, khi già yếu voi quay trở về thu hết sức tàn kêu lên thảm thiết thức tỉnh đồng loại. Đó nhƣ là vị anh hùng Phan Bội Châu làm thức tỉnh tâm hồn Huy Thông vậy: “Tiếng giã từ núi cao cùng sông rộng Chào rừng xanh với vòm trời lồng lộng Gọi linh hồn hung vĩ vủa loài voi Voi tưởng một mình mình biết mà thôi Có hay đâu gió sơn xuyên lừng lẫy Đã than lại lời than đau đớn ấy Đã khiến cho ở chốn mịt mùng xa Tấm lòng ta thổn thức bởi voi già” 25 (Huy Thông) Phong trào thơ mới còn chịu ảnh hƣởng của thơ Pháp (gần 100 năm) và thơ Đƣờng (hàng nghìn năm).
Những ảnh hƣởng của thi ca lãng mạn, tƣợng trƣng Pháp vào thơ mới rất phức tạp, có khi là sự gặp gỡ của một tâm trạng, một ý nghĩ nhƣng có khi chỉ là sự giống nhau của một môtip, một hình ảnh nhạc điệu trong thi ca. Với thơ Đƣờng, đó là một sự ảnh hƣởng rộng rãi một thời kì rất lâu dài bị Bắc thuộc.