Nghiên cứu thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử (ĐH Thủ Dầu Một)

Tài liệu nghiên cứu Thông tin hàm ngôn trong thơ hàn mặc tử, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về ., phục vụ nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Chuyên ngành

Ngữ Văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo Cáo Tổng Kết Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học

2015

92
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Bí quyết giải mã thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử

Thơ Hàn Mặc Tử là một thế giới nghệ thuật phức tạp, nơi ngôn từ không chỉ mang nghĩa bề mặt mà còn ẩn chứa những tầng sâu ý nghĩa. Để hiểu trọn vẹn thơ ông, việc tiếp cận từ góc độ thông tin hàm ngôn là cực kỳ cần thiết. Đây là quá trình khám phá những ý nghĩa ẩn sâu, những tư tưởng và cảm xúc mà nhà thơ gửi gắm qua các phương tiện tu từ, hình ảnh và biểu tượng. Việc giải mã này không chỉ làm sáng tỏ giá trị tác phẩm mà còn giúp người đọc đồng cảm sâu sắc với bi kịch và khát vọng của một tài năng lớn trong phong trào Thơ mới.

1.1. Định nghĩa nghệ thuật hàm ngôn và ý tại ngôn ngoại

Trong thi ca, nghệ thuật hàm ngôn là cách sử dụng ngôn ngữ để truyền tải những thông điệp không được nói ra một cách trực tiếp. Đó là nguyên tắc “ý tại ngôn ngoại” – ý nghĩa nằm ngoài lời. Thay vì diễn đạt tường minh, tác giả sử dụng các biểu tượng, ẩn dụ, và hình ảnh gợi liên tưởng để người đọc tự suy ngẫm và khám phá. Thông tin hàm ngôn được tạo ra từ sự vi phạm các quy tắc ngôn ngữ thông thường, từ những khoảng lặng, những câu hỏi tu từ, hay sự sắp đặt có chủ ý của hình ảnh. Đối với thơ Hàn Mặc Tử, việc nắm bắt được lớp nghĩa chìm này là chìa khóa để thấu hiểu thế giới nội tâm đầy biến động, nơi nỗi đau hòa quyện với đức tin và thực tại đan xen với mộng ảo.

1.2. Vị thế đặc biệt của Hàn Mặc Tử trong phong trào Thơ mới

Hàn Mặc Tử là một hiện tượng độc đáo trong phong trào Thơ mới (1932-1945). Nếu các nhà thơ cùng thời đi tìm “cái tôi” trong nỗi buồn lãng mạn, sự cô đơn hay khát khao tình ái, thì Hàn Mặc Tử đẩy cái tôi đến tận cùng của nỗi đau thể xác và sự quằn quại của linh hồn. Thơ ông không chỉ là sự giải phóng cảm xúc cá nhân mà còn là cuộc vật lộn giữa sự sống và cái chết, giữa trần thế và cõi thiêng. Chính hoàn cảnh bi thương của cuộc đời (căn bệnh phong) đã tạo nên một đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử không thể trộn lẫn: một thế giới vừa trong trẻo, lãng mạn, vừa kinh dị, siêu thực. Ông được xem là người đã đưa thơ Việt Nam chạm đến ngưỡng của chủ nghĩa tượng trưng và siêu thực, tạo ra một trường thẩm mỹ riêng biệt đầy ma mị và ám ảnh.

II. Thách thức khi phân tích thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn

Tiếp cận thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử là một hành trình đầy thách thức đối với người đọc và nhà nghiên cứu. Sự phức tạp không chỉ đến từ hệ thống hình ảnh độc đáo mà còn từ sự đan xen của nhiều nguồn cảm hứng: lãng mạn, tượng trưng, siêu thực và cả tôn giáo. Thơ ông đòi hỏi người đọc phải vượt qua bề mặt câu chữ để chạm đến những tầng nghĩa sâu xa, nơi logic thông thường nhường chỗ cho trực giác và sự đồng cảm. Việc giải mã thế giới thơ này cần một sự thấu hiểu sâu sắc về cuộc đời, bệnh tật và thế giới quan của thi nhân.

2.1. Sự phức tạp trong thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử

Thế giới nghệ thuật Hàn Mặc Tử là một mê cung của những hình ảnh đối lập: trăng và máu, hương thơm và mật đắng, thiên đường và địa ngục. Ngôn ngữ của ông thoát khỏi những quy chuẩn thông thường, tạo ra những kết hợp bất ngờ như “khúc nhạc thơm”, “trăng tự tử”. Tính đa nghĩa trong thơ ông đến từ việc sử dụng dày đặc các ẩn dụ, hoán dụ, và đặc biệt là bút pháp tượng trưng. Mỗi hình ảnh không chỉ là một sự vật mà còn là một biểu tượng cho một trạng thái tâm hồn, một khái niệm triết học hay một nỗi ám ảnh. Điều này khiến việc phân tích thơ Hàn Mặc Tử trở nên khó khăn, đòi hỏi sự liên tưởng và kiến thức liên ngành để có thể cắt nghĩa một cách trọn vẹn.

2.2. Mối liên hệ giữa nỗi đau đức tin và ngôn ngữ thơ

Không thể tách rời thơ Hàn Mặc Tử khỏi bi kịch cuộc đời ông. Nỗi đau và đức tin là hai nguồn cảm hứng chủ đạo, tạo nên chiều sâu cho các lớp nghĩa hàm ngôn. Nỗi đau từ căn bệnh phong được chuyển hóa thành những hình ảnh thơ siêu thực đầy máu, ghê rợn và thống thiết. Tuy nhiên, song song với đó là đức tin Công giáo mãnh liệt, hướng hồn thơ về cõi thiêng liêng, thanh sạch. Sự giằng xé giữa thể xác đau đớn và linh hồn khao khát cứu rỗi tạo ra một trường liên tưởng phức tạp. Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử vì thế vừa mang chất “điên” của sự loạn lạc, vừa ẩn chứa chất “đạo” của sự chiêm nghiệm, khiến việc lý giải thông tin hàm ngôn phải đặt trong mối quan hệ biện chứng giữa hai thái cực này.

III. Phương pháp phân tích hàm ngôn trong tập thơ Đau Thương

Tập thơ Đau Thương là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Hàn Mặc Tử, đánh dấu sự chuyển biến dữ dội trong tâm hồn thi sĩ. Việc phân tích thông tin hàm ngôn trong tập thơ này cần đi sâu vào từng phần của tác phẩm, từ Hương thơm trong trẻo đến Mật đắng khắc khoải và Máu cuồng và hồn điên loạn lạc. Mỗi phần thể hiện một cung bậc khác nhau của nỗi đau và khát vọng, được mã hóa qua những hệ thống biểu tượng và ngôn ngữ riêng biệt. Bằng cách bóc tách từng lớp nghĩa, người đọc có thể tái hiện lại hành trình tâm thức bi tráng của nhà thơ.

3.1. Hương thơm Hàm ngôn về một thế giới trong trẻo đã mất

Phần Hương thơm thể hiện một thế giới nghệ thuật tươi sáng, quyến rũ với những hình ảnh thiên nhiên tràn đầy sức sống: “Trong làn nắng ửng khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng”. Thông tin hàm ngôn ở đây không quá phức tạp, chủ yếu bộc lộ niềm say mê mãnh liệt với cuộc sống và tình yêu. Tuy nhiên, ngay cả trong sự trong trẻo này, đã manh nha những dự cảm về sự chia ly và mong manh. Ngôn ngữ thơ tinh tế, giàu hình ảnh và nhạc điệu, hàm chứa một nỗi niềm nuối tiếc về một vẻ đẹp sắp tuột khỏi tầm tay. Đây chính là lớp nghĩa chìm, phản ánh giai đoạn đầu của bi kịch, khi nhà thơ vẫn cố gắng níu giữ những gì tươi đẹp nhất của cuộc đời.

3.2. Mật đắng Thông điệp về nỗi đau và sự chia lìa

Trong Mật đắng, thế giới thơ dần chìm vào bi kịch. Thông tin hàm ngôn trở nên rõ nét hơn qua những hình ảnh đối lập và những câu hỏi tu từ đầy day dứt. Hàn Mặc Tử sử dụng các cặp từ tương phản như “yêu đương - chia li”, “mật ngọt - đắng cay” để diễn tả sự tan vỡ của tình yêu và sự nhận thức về nghịch cảnh. Lớp nghĩa hàm ẩn ở đây chính là sự thức tỉnh đau đớn trước thực tại phũ phàng. Nhà thơ không còn nhìn đời qua lăng kính mộng mơ mà đã trực diện đối mặt với nỗi đau, sự cách trở của không gian, thời gian và số phận. Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng, nơi nỗi đau bắt đầu trở thành nguồn thi hứng chủ đạo.

IV. Giải mã hàm ngôn trong Máu cuồng và hồn điên thơ Hàn

Phần Máu cuồng và hồn điên là nơi thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử đạt đến đỉnh điểm của sự phức tạp và mãnh liệt. Đây là thế giới của mộng ảo, của siêu thực, nơi chất điên và chất đạo hòa quyện làm một. Để giải mã lớp nghĩa này, người đọc phải từ bỏ lối tư duy logic thông thường và đi vào thế giới của những biểu tượng ám ảnh. Ngôn ngữ thơ trở nên dữ dội, thống thiết, gợi cảm giác ghê rợn nhưng đồng thời cũng là một nỗ lực phi thường để vượt thoát khỏi thực tại đau đớn, hướng đến cõi vĩnh hằng.

4.1. Biểu tượng trăng trong thơ Hàn từ lãng mạn đến siêu thực

Biểu tượng trăng trong thơ Hàn là một trong những ám ảnh nghệ thuật lớn nhất. Ban đầu, trăng là hình ảnh lãng mạn, là người bạn tri kỷ. Nhưng trong Máu cuồng và hồn điên, trăng biến thành một thực thể siêu nhiên, ma quái: “Trăng! Trăng! Trăng! là máu của muôn πα,”. Trăng không còn là đối tượng để ngắm nhìn mà trở thành một phần của thể xác, của linh hồn đang đau đớn. Thông tin hàm ngôn qua biểu tượng trăng thể hiện sự hòa nhập tuyệt đối giữa con người và vũ trụ, đồng thời là sự vật hóa nỗi đau đến tột cùng. Trăng là hiện thân của cái đẹp, nhưng cũng là hiện thân của sự điên loạn và cái chết, tạo nên một hình ảnh thơ siêu thực độc đáo.

4.2. Ý nghĩa hàm ngôn của máu và khát vọng cứu rỗi

Hình ảnh “máu” xuất hiện với tần suất dày đặc, mang nhiều lớp nghĩa hàm ngôn. Máu vừa là biểu hiện cụ thể của nỗi đau thể xác do bệnh tật (“máu trào ra, vũng máu đào”), vừa là biểu tượng của sự sống, của tình yêu cuồng nhiệt và cả sự sáng tạo thi ca. Theo quan niệm Công giáo, máu còn là biểu tượng của sự cứu chuộc. Do đó, thông tin hàm ngôn qua hình ảnh máu thể hiện một nghịch lý bi tráng: trong tận cùng của sự hủy diệt thể xác lại là một khát vọng sống và một đức tin mãnh liệt vào sự cứu rỗi. Hàn Mặc Tử đã biến nỗi đau thành chất liệu nghệ thuật, tìm thấy sự thanh tẩy và thăng hoa ngay trong chính bi kịch của mình.

V. Ứng dụng kết quả phân tích hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử

Việc nghiên cứu và phân tích thông tin hàm ngôn trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ là một hoạt động học thuật thuần túy. Nó mang lại những giá trị thực tiễn sâu sắc trong việc giảng dạy, học tập và tiếp nhận văn học. Khi hiểu được các lớp nghĩa ẩn, người đọc có thể cảm nhận đầy đủ hơn tài năng, sự độc đáo và giá trị nhân văn trong sáng tác của ông, từ đó nâng cao kỹ năng đọc hiểu văn bản theo thuyết “tảng băng trôi” của Hemingway, nơi phần chìm luôn lớn hơn phần nổi.

5.1. Nâng cao kỹ năng đọc hiểu và cảm thụ tác phẩm văn học

Nghiên cứu nghệ thuật hàm ngôn giúp người đọc, đặc biệt là học sinh, sinh viên, hình thành phương pháp tiếp cận tác phẩm một cách đa chiều. Thay vì chỉ dừng lại ở nội dung hiển ngôn, người đọc được khuyến khích tìm tòi, phân tích các yếu tố hình thức như ngôn từ, hình ảnh, biểu tượng để khám phá ý nghĩa sâu xa. Quá trình này rèn luyện tư duy phê bình, khả năng liên tưởng và sự nhạy cảm thẩm mỹ. Việc áp dụng phương pháp này vào phân tích thơ Hàn Mặc Tử là một ví dụ điển hình, giúp giải mã một trong những hiện tượng văn học phức tạp nhất, từ đó có thể áp dụng cho các tác giả khác.

5.2. Góp phần khẳng định tài năng và phong cách thơ độc đáo

Thông qua việc làm sáng tỏ các lớp thông tin hàm ngôn, các công trình nghiên cứu đã khẳng định một cách thuyết phục tài năng và vị thế tiên phong của Hàn Mặc Tử. Ông không phải là một nhà thơ “điên” nói nhảm, mà là một nghệ sĩ bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ để biểu đạt những trạng thái tâm thức phức tạp nhất. Đặc điểm thơ Hàn Mặc Tử với bút pháp tượng trưng và siêu thực đã đi trước thời đại, mở ra những hướng đi mới cho thi ca Việt Nam. Việc phân tích hàm ngôn chính là cách khách quan và khoa học nhất để minh chứng cho những đóng góp nghệ thuật vĩ đại này, khẳng định giá trị bền vững của thơ ông trong lịch sử văn học dân tộc.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, mục lục và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1 Cơ sở lý luận Chƣơng 2: Đôi nét về tác giả Hàn Mặc Tử và tập thơ Đau thương Chƣơng 3: Nghĩa hàm ngôn trong tập thơ Đau thương của Hàn Mặc Tử Chƣơng 4: Kết luận 20 21 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN Trải qua hàng nghìn năm sáng tác văn học Trung đại với những luật định quy tắc chặt chẽ, thi đàn Việt Nam với những cây bút tài năng ảnh hƣởng mạnh mẽ từ các trào lƣu văn học phƣơng Tây đã cho ra đời cái gọi là phong trào Thơ mới. Đúng nhƣ tên gọi, Thơ mới tức là đổi mới tất cả tƣ tƣởng tình cảm theo hƣớng cái tôi cá nhân, các thi sĩ tự do bay bổng theo cảm xúc của mình mà không cần phải tuân theo những quy ƣớc rập khuôn của văn học thời kì trƣớc. Những cây bút mới ra đời nhƣ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu, Chế Lan Viên… đã để lại cho ngƣời đọc những cách nghĩ mới về về cuộc sống và tình cảm con ngƣời. Từ đó hàm ngôn trong từng câu chữ cũng đƣợc thể hiện mới mẽ qua hình thức nghệ thuật.

Thơ mới nói chung và thơ mới của Hàn Mặc Tử nói riêng sẽ là nguồn sáng tạo nghĩa hàm ngôn mới lạ thông qua nghĩa hiển ngôn có sẵn, khơi dậy đƣợc trí tƣởng tƣợng và khả năng cảm thụ của độc giả.1 Khái quát về phong trào Thơ mới Phong trào thơ mới lãng mạn 1932 – 1945 là một hiện tƣợng văn học phong phú nhƣng khá phức tạp. Tiếng nói của các nhà thơ mới lãng mạn không phải là tiếng nói của giai cấp quý tộc phong kiến suy tàn. Nếu phân chia theo loại hình ý thức hệ, thì có lẽ nó gần với khuynh hƣớng lãng mạn tiểu tƣ sản hơn. Văn học lãng mạn Việt Nam chính là tiếng nói của bộ phận tƣ sản dân tộc và tiểu tƣ sản thành thị, tuy đã thoát li phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng nhƣng vẫn còn ấp ủ một tinh thần yêu nƣớc thầm kính.

Thơ mới lãng mạn chủ yếu là tiếng nói của tiểu tƣ sản trí thức và viên chức thành thị. Một khi đã thoát li phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng, những ngƣời tiểu tƣ sản trí thức vốn không có hệ tƣ tƣởng độc lập, sẽ dần dần tự phát chạy theo những quan điểm tƣ sản (quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và quan điểm nhân sinh tƣ sản). Tuy nhiên thái độ phủ nhận một cách tiêu cực cái xã hội kim tiền ô trọc lúc bấy giờ lại là thái độ và tâm trạng những ngƣời tiểu tƣ sản trí thức đã sống những ngày quằn quại bế tắc trong cái vũng lầy của xã hội thực dân phong kiến. Các nhà lí luận mác xít hầu nhƣ đều thống nhất với nhau chia chủ nghĩa lãng mạn thế kỉ XIX thành hai khuynh hƣớng: tiến bộ, cách mạng và bảo thủ, phản động.

Ở 22 Việt Nam, các nhà thơ mới nhƣ Thế Lữ, Chế Lan Viên, Bích Khê, Hàn Mặc Tử đều có quá trình sáng tác phức tạp và mâu thuẫn. Mâu thuẫn ở đây là giữa hai khuynh hƣớng, có khi chúng đấu tranh với nhau, khi lại cùng nhau chống chủ nghĩa cổ điển. Chính vì vậy, tuy mâu thuẫn nhƣng cũng có lúc chúng hòa hợp, đấu tranh cùng phát triển. Phong trào Thơ mới xuất hiện trong thời kì khủng bố trắng và khủng hoảng kinh tế, tuy có nhiều yếu tố tiến bộ và tích cực nhƣng nhìn chung, nằm trong khuynh hƣớng lãng mạn tiêu cực thoát li ( nhất là trong thời kì cuối đã có những dấu hiệu suy đồi trong thơ Bích Khê…).

Nhƣng những năm gần đây có một số ngƣời cho rằng “không thể ghép thơ mới vào khuynh hƣớng thoát li” và cái buồn trong thơ mới không phải là “cái buồn ủy mị dẫn đến bi quan mất tin tƣởng” mà là “khuynh hƣớng yêu đời”. Thơ mới thuộc khuynh hƣớng lãng mạn nhƣng không thoát li là một nghịch lí đầy mâu thuẫn. Nhƣng thoát li ở đây là thoát li cuộc đấu tranh chính trị, thoát li những vấn đề nƣớc sôi lửa bỏng lúc bấy giờ, chứ không phải là thoát li cuộc sống con ngƣời nói chung. Thơ mới đau đời chứ không phải là yêu đời lạc quan.

Họ nặng lòng yêu cuộc sống nhƣng bị bế tắc không lối thoát nên hóa ra đau đời. Dù thoát li khỏi những vấn đề bức xúc của xã hội nhƣng dòng chủ lƣu của Thơ mới vẫn có chất nhân bản chủ nghĩa. Đứng về mặt phƣơng pháp sáng tác mà nói thì phần lớn Thơ mới là lãng mạn nhƣng cũng có tƣợng trƣng siêu thực. Bích Khê trong Tinh huyết và Nguyễn Xuân Sanh trong Xuân Thu nhã tập là đại biểu chính cho khuynh hƣớng tƣợng trƣng và siêu thực.

Thơ mới lãng mạn ra đời xóa tan khuôn khổ của ý thức hệ phong kiến (nền văn học phi ngã) mà thay vào đó là cái “tôi” cá nhân, một cái “tôi” cá thể hóa trong cảm thụ thẩm mĩ. Cái “tôi” trong thơ mới phần nào đã nói lên đƣợc một nhu cầu lớn về mặt giải phóng tình cảm, phát huy bản ngã, tự do cá nhân. Nó làm cho thế giới tâm hồn con ngƣời đƣợc mở rộng, ngày càng phong phú hơn. Nhớ rừng của Thế Lữ là “một khối căm hờn” đối với cảnh đời “nhục nhằn, tù hãm”, là lòng khao khát đƣợc tung hoành, vùng vẫy tự do giữa cảnh nƣớc non hùng vĩ.

Cái “tôi” của Xuân Diệu là niềm khao khát đƣợc sống hết mình sống trọn vẹn cho cuộc đời thực tại tƣơi đẹp…Trong những khát vọng của cái “tôi” cá nhân, Thơ mới tập trung đấu tranh cho quyền tự do yêu đƣơng, cho lối cảm xúc riêng, cho cái nhìn cá thể hóa, cho sự đổi mới thi pháp và tƣ duy thơ, cho sự sáng tạo những hình thức biểu hiện phong phú, 23 mang sắc thái độc đáo của phong cách cá nhân. Nhƣng cái tôi cá nhân trong thơ mới vừa ra đời đã hóa thành bƣớm trắng. Một mặt nó không chấp nhận cái xã hội kim tiền ô trọc, mặt khác nó lại xa rời cuộc đấu tranh cách mạng của quần chúng nên cái “ tôi” đó đã rơi ngay vào tình trạng cô đơn, bơ vơ, không lối thoát. Với quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật”, với triết lí sống của chủ nghĩa cá nhân, các nhà thơ mới ngày càng đi vào con đƣờng bế tắc.

Mỗi nhà thơ đều cố gắng tìm cho mình con đƣờng thoát li riêng nhƣng càng tìm lại càng bế tắc, lạc lối. Trốn vào tình yêu (Xuân Diệu, Lƣu Trọng Lƣ, Hàn Mặc Tử), trốn vào quá khứ (Huy Cận, Vũ Đình Liên) và những thế giới siêu hình, trụy lạc (Vũ Hoàng Chƣơng) và điên loạn (Hàn Mặc Tử, Bích Khê)… Xuân Diệu ngập chìm trong thế giới yêu đƣơng, nhƣng trong thế giới đó, thi sĩ vẫn cảm thấy có gì đó bất trắc, không vững vàng. Cái tôi cá nhân thấy trƣớc cuộc đời của nó mong manh nên nó rất sợ sự thay đổi. Xuân Diệu nhìn thấy sự biến đổi, sự vận động nhƣng ông lại diễn tả sự vận động đó theo triết lí riêng “ một sự tuần hoàn nối tiếp” và rồi mọi thứ đều sẽ xiêu đổ, tan tát, tứ li…Thi sĩ hoảng hốt nhận ra thời gian không còn dài nên vội vã yêu đƣơng, không phí hoài tuổi trẻ: “Nắng mọc chưa tin, hoa rụng không ngờ Tình yêu đến, tình yêu đi, ai biết ! Trong gặp gỡ đã có mầm li biệt Những vườn xưa, nay đoạn tuyệt dấu hài Gấp đi em, anh rất sợ ngày mai Đời trôi chảy, lòng ta không vĩnh viễn” (Giục giã) Cái “tôi” trong Thơ mới trốn vào nhiều ngõ ngách, có nhiều màu sắc phức tạp khác nhau nhƣng ở đâu nó cũng không thể giấu đƣợc nỗi buồn và sự cô đơn.

Nỗi buồn vẫn vơ nhƣng thƣờng trực, sự mênh mông xa vắng đến rợn ngƣời đã kết tinh lại trong tiếng thơ của Lƣu Trọng Lƣ trong một buổi nắng h vắng lặng : “Mỗi lần nắng mới hắc bên song Xao xác gà trưa gáy não nùng…” (Lƣu Trọng Lƣ) Hay “Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa 24 Chết không gian khô héo cả hồn cao…” (Xuân Diệu) Thơ mới ấp ủ một tinh thần dân tộc, một lòng khao khát tự do. Thời kì đầu, tinh thần dân tộc đó chính là tiếng vọng lại xa xôi của những phong trào yêu nƣớc và cách mạng từ năm 1925 đến 1930. Càng về sau tinh thần dân tộc trong Thơ mới càng nhạt dần. Con hổ trong Nhớ rừng của Thế Lữ mang một khối căm hờn, luôn mơ ƣớc đƣợc tự do tung hoành trong rừng thẳm.

Đó cũng là tình trạng chung của cả dân tộc bị áp bức, bị tù hãm dƣới ách cai trị của bọn thực dân phong kiến. “Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa Nhớ cõi sơn lâm bóng cả cây già Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi. Với khi thét khúc trường ca dữ dội Ta bước chân lên dõng dạc đường hoàng” (Thế Lữ) Lòng yêu nƣớc của các nhà Thơ mới thƣờng mang tâm trạng thất bại chủ nghĩa. Huy Thông hƣớng đến Phan Bội Châu nhƣ hƣớng đến những tình cảm lớn của ngƣời anh hùng trong lịch sử, hƣớng đến một niềm khao khát đƣợc sống một cách mạnh mẽ, phóng khoáng.

Bài thơ Con voi già của Huy Thông đã nói lên điều đó. Voi già có một quãng đời tự do rất oanh liệt nhƣng những bọn xấu xa đã dùng võ lực để xâm chiếm “giang sơn hùng vĩ của voi già”. Từ đó voi già phải ra đi đến những vùng đất lạ, khi già yếu voi quay trở về thu hết sức tàn kêu lên thảm thiết thức tỉnh đồng loại. Đó nhƣ là vị anh hùng Phan Bội Châu làm thức tỉnh tâm hồn Huy Thông vậy: “Tiếng giã từ núi cao cùng sông rộng Chào rừng xanh với vòm trời lồng lộng Gọi linh hồn hung vĩ vủa loài voi Voi tưởng một mình mình biết mà thôi Có hay đâu gió sơn xuyên lừng lẫy Đã than lại lời than đau đớn ấy Đã khiến cho ở chốn mịt mùng xa Tấm lòng ta thổn thức bởi voi già” 25 (Huy Thông) Phong trào thơ mới còn chịu ảnh hƣởng của thơ Pháp (gần 100 năm) và thơ Đƣờng (hàng nghìn năm).

Những ảnh hƣởng của thi ca lãng mạn, tƣợng trƣng Pháp vào thơ mới rất phức tạp, có khi là sự gặp gỡ của một tâm trạng, một ý nghĩ nhƣng có khi chỉ là sự giống nhau của một môtip, một hình ảnh nhạc điệu trong thi ca. Với thơ Đƣờng, đó là một sự ảnh hƣởng rộng rãi một thời kì rất lâu dài bị Bắc thuộc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ