Chương 1: Lý luận chung và những quy định của pháp luật hiện hành về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế - Chương 2: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế Phần kết luận Trang 5 CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VÀ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN CHIA THỪA KẾ 1. Khái quát những vấn đề lý luận về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế 1. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế 1.
Khái niệm thừa kế “Thừa” và “kế” đều có nghĩa là tiếp nối, tiếp tục. Do đó, khi nói đến thừa kế có thể hình dung và hiểu được đó là sự chuyển dịch khối tài sản từ người đã chết sang người còn sống1. Theo nghĩa thông thường, “thừa kế là sự truyền lại tài sản của người đã chết cho người khác theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật”2. Khi một người qua đời, khối tài sản của người chết cần có người tiếp tục sở hữu để quản lý và sử dụng, mà thông thường người được sở hữu phải là những người thân thích hoặc có quan hệ gắn bó mật thiết với người để lại di sản, đó là những người được người để lại di sản chọn hoặc theo quy định pháp luật là những người có quan hệ huyết thống với người để lại di sản.
Thừa kế là việc truyền lại tài sản từ người đã chết cho những người còn sống. Đây là một hiện tượng xã hội khách quan, xuất hiện ngay từ thời kỳ sơ khai và tồn tại trong mọi xã hội. Vào thời kỳ sơ khai của xã hội loài người, con người đã biết để lại tài sản của mình cho những người còn sống để người còn sống tiếp tục sử dụng làm phương tiện mưu sinh, nhưng tài sản lúc bấy giờ là tài sản chung của cộng đồng. Thế nhưng, từ khi Nhà nước và pháp luật ra đời thừa nhận quyền sở hữu tư nhân, tài sản không còn thuộc sở hữu chung của cộng đồng nữa mà thuộc sở hữu cá nhân.
Việc thừa kế được thực hiện qua hai hình thức: - Thông qua hình thức di chúc để quyết định những người nào được quyền hưởng di sản theo ý chí của người để lại di sản. - Thực hiện việc dịch chuyển tài sản theo trình tự, thủ tục nhất định của pháp luật trong trường hợp không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp. Khi một cá nhân chết, quyền sở hữu tài sản có sự dịch chuyển từ người chết sang người còn sống, thông qua việc dịch chuyển tài sản đó đã làm hình thành nên quan hệ xã hội tương ứng, là quan hệ thừa kế. Quan hệ thừa kế giúp bảo vệ, duy trì và củng cố quyền sở hữu tư nhân.
Ngược lại quyền sở hữu là tiền đề, là yếu tố để quyết định thừa kế. Di sản người chết để lại được sử dụng như một phương tiện để 1 Nguyễn Xuân Quang - Lê Nết - Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật dân sự Việt Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP. 2 Từ điển Luật học (1999), Nxb.
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. Trang 6 duy trì và đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống, do vậy thừa kế cũng là một chế định mang phạm trù kinh tế. Từ những nhìn nhận trên, có thể định nghĩa thừa kế như sau: “Thừa kế việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống. Thừa kế luôn gắn với chủ sở hữu, sở hữu là yếu tố quyết định thừa kế và thừa kế là phương tiện duy trì, củng cố quan hệ sở hữu”3.
Khái niệm quyền thừa kế Việc dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang những người sống tồn tại từ khi xã hội loài người xuất hiện. Với việc ra đời sớm từ khi xã hội chưa có sự phân chia giai cấp, thừa kế phát triển và tồn tại tương thích với sự phát triển của xã hội loài người. Nếu trước đây, thừa kế trong xã hội thị tộc được dịch chuyển theo phong tục tập quán thì khi Nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ người chết sang người sống chịu sự tác động bằng ý chí của Nhà nước, phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị. Việc dịch chuyển tài sản từ người đã chết sang người còn sống khi được Nhà nước và pháp luật ghi nhận, bảo vệ được gọi là quyền thừa kế.
Quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tồn tại trong pháp luật, khi xã hội đã có Nhà nước xuất hiện. Ở mỗi chế độ xã hội khác nhau sẽ có những quy định khác nhau về quyền thừa kế, thậm chí trong cùng một chế độ xã hội nhưng ở những giai đoạn khác nhau thì cũng tồn tại những quy định khác nhau. Sự khác nhau đó xuất phát từ việc chịu sự tác động của chế độ sở hữu trong xã hội, các quy tắc xã hội, phong tục, tập quán…và đặc biệt là ý chí của giai cấp thống trị. Do đó, bản chất của quyền thừa kế luôn gắn liền với bản chất của mỗi xã hội và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Người có quyền thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam là công dân hay tổ chức. Quyền thừa kế được thể hiện ở hai chủ thể nhất định, đó là chủ thể để lại tài sản và chủ thể hưởng thừa kế di sản. Những người được thừa kế theo quy định của pháp luật không phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, người có hay không có năng lực hành vi hoặc người có năng lực hành vi không đầy đủ đều có quyền thừa kế. Dưới góc độ là một thuật ngữ pháp lý, quyền thừa kế được hiểu với nhiều 4 nghĩa : - Theo nghĩa chủ quan, quyền thừa kế được hiểu là một quyền năng dân sự cụ thể.
Đó là quyền định đoạt di sản của người để lại di sản theo ý chí thông qua di 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb. Công an nhân dân, tr. 4 Lê Đình Nghị (Chủ biên) (2010), Giáo trình luật dân sự Việt Nam, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.
Trang 7 chúc hoặc theo pháp luật hay là quyền nhận di sản của người được hưởng di sản hoặc quyền từ chối nhận di sản để lại. Đây là ý chí chủ quan của họ, không ai được quyền ép buộc nhưng việc thực hiện cũng phải tuân thủ chặt chẽ các quy định của pháp luật. Đối với người để lại di sản, họ chỉ được quyền định đoạt những tài sản nào thuộc quyền sở hữu của mình và việc để lại di sản cũng phải tuân thủ chặt chẽ những quy định của pháp luật như về hình thức di chúc, về ý chí,… Còn đối với người hưởng di sản phải là người được người để lại di sản chỉ định trong di chúc hoặc theo pháp luật và phải thỏa mãn những điều kiện nhất định như tại thời điểm mở thừa kế phải còn sống hoặc không thuộc diện không được quyền hưởng di sản,… - Theo nghĩa khách quan, quyền thừa kế được hiểu là chế định pháp lý trong ngành luật dân sự, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyển tài sản từ người để lại di sản cho người hưởng di sản. Thông qua các quy phạm pháp luật về quyền thừa kế, Nhà nước điều chỉnh từ những vấn đề chung nhất đến những vấn đề cụ thể nhằm giải quyết các quan hệ và các vấn đề về quyền thừa kế.
- Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế còn được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự với đầy đủ ba bộ phận cấu thành là chủ thể, khách thể và nội dung. Quan hệ thừa kế được xác định gồm một bên để lại di sản và một bên nhận di sản. Mỗi bên đều có những quyền năng nhất định và phải được tôn trọng. Tóm lại, quyền thừa kế là một phạm trù pháp lý chỉ tồn tại khi Nhà nước và pháp luật ra đời, đó là quyền dân sự cơ bản của mỗi người được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gồm quyền của người để lại di sản và quyền của người nhận di sản.
Quyền thừa kế có ý nghĩa kinh tế và xã hội sâu sắc, thông qua đó giúp duy trì và củng cố vững chắc quyền sở hữu tư nhân. Khái niệm thời hiệu khởi kiện Thời hiệu khởi kiện là một chế định nằm trong nội hàm thời hiệu nói chung. Các quy định về thời hiệu khởi kiện được pháp luật ghi nhận tại các văn bản pháp luật khác nhau, nhằm buộc các chủ thể phải ý thức và có trách nhiệm trong việc bảo vệ quyền lợi của mình. Theo quy định tại khoản 3 Điều 155 BLDS 2005: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện”.
Trang 8 Cũng giống như BLDS 2005, quy định tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011(BLTTDS 2004) đã đưa ra định nghĩa tương tự: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Như vậy, thời hiệu khởi kiện được hiểu là khoảng thời gian mà pháp luật quy định, trong khoảng thời gian đó đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi bị xâm phạm, nếu thời hạn đó kết thúc thì chủ thể mất quyền khởi kiện. Trong nội hàm khái niệm thời hiệu khởi kiện cho thấy, thời hiệu khởi kiện chỉ đặt ra trong trường hợp khởi kiện tại Tòa án nhân dân mà không đặt ra đối với trường hợp vụ việc đó được giải quyết tại các cơ quan, tổ chức khác: “Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự…”. Thời hiệu khởi kiện dài ngắn bao nhiêu do pháp luật quy định mà không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của các chủ thể trong quan hệ dân sự.
Thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện là khi quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 159 BLDS 2005) và thời điểm kết thúc là thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu.