phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được bố cục thành ba chương: Chƣơng 1. Lý luận chung về thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về thời hạn tạm giam. Thực tiễn áp dụng thời hạn tạm giam và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thời hạn tạm giam.
7 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm, đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất (cùng với không gian), trong đó vật chất vận động và phát triển liên tục, không ngừng. Thời gian và không gian đều là vô tận.
“Thời gian là khái niệm để diễn tả trình tự xảy ra của các sự kiện, biến cố và khoảng kéo dài của chúng. Thời gian được xác định bằng số lượng các chuyển động của các đối tượng có tính lặp lại (sự lượng hoá các chuyển động lặp lại) và thường có một thời điểm mốc gắn với một sự kiện nào đó. Thời gian là khái niệm diễn tả trình tự diễn ra của các sự kiện, các biến cố và “khoảng kéo dài của chúng” với các đặc điểm như tính một chiều, tính vận động và gắn liền với vật chất, tính xác định được tương đối và tính vĩ mô. Để xác định được các “khoảng kéo dài của chúng”, chúng ta cần các “nút chặn” trên trục thời gian dài vô tận.
Những nút chặn đó gọi là thời điểm: “Là khoảng thời gian cực ngắn được hạn định một cách chính xác, coi như một điểm trên trục thời gian”4. Các nút chặn này sẽ là cơ sở để chia trục thời gian thành các khoảng nhất định, gọi là khoảng thời gian. Khoảng thời gian được xác định từ điểm này đến điểm khác được gọi là thời hạn5. Thời hạn hiểu đơn giản nhất chính là khoảng thời gian, được quy định để làm một việc nào đó6.
Khi thực hiện bất kỳ hoạt động hay công việc nào từ đơn giản đến phức tạp thì chúng ta đều phải sử dụng một khoảng thời gian nhất định, đó chính là thời hạn. Thời hạn luật định là một khái niệm hẹp hơn so với thời hạn nói chung, nhưng thời hạn luật định lại bao quát hơn nếu nhìn từ góc độ thời hạn trong TTHS. Thời hạn luật định bao gồm thời hạn trong TTHS, thời hạn trong tố tụng hành chính, thời hạn trong tố tụng dân sự, thời hạn trong luật hình sự, thời hạn trong luật 3 “Thời gian”, https://vi.org/wiki/Thời_gian, truy cập ngày 04/03/2020. 4 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB.
5 Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 6 Ngôn ngữ Việt Nam (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên, tr.Đó “là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác do pháp luật quy định cho từng hoạt động, công việc cụ thể”7. Trong quá trình thực hiện các hoạt động TTHS, thời hạn có ý nghĩa rất lớn. Đó là cơ sở để ràng buộc các chủ thể tiến hành TTHS phải thực hiện các hoạt động tố tụng trong giới hạn luật định, đảm bảo được yêu cầu, hiệu quả của công tác tố tụng mà vẫn đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Thời hạn trong TTHS là một khái niệm hẹp hơn so với thời hạn luật định, là bộ phận cấu thành của thời hạn luật định. Khoảng thời gian này được BLTTHS quy định cho hoạt động, hành vi tố tụng cụ thể. Thời hạn trong TTHS chứa đựng tất cả các thời hạn trong các giai đoạn của quá trình giải quyết vụ án hình sự. Một số công trình nghiên cứu trong nước đã đưa ra khái niệm thời hạn TTHS như sau: Theo tác giả Phan Thị Thu Thủy thời hạn TTHS được hiểu như sau: “Thời hạn tố tụng hình sự là một loại thời hạn pháp lý, do luật tố tụng hình sự quy định, là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để tiến hành và kết thúc các hoạt động tố tụng, hành vi và quyết định tố tụng cụ thể”8.
Theo tác giả Lê Minh Tuấn, thời hạn TTHS là khoảng thời gian để tiến hành các hoạt động TTHS9. Tác giả Hà Thị Minh Huế cho rằng: “Thời hạn tố tụng hình sự là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, là khoảng thời gian cần thiết để giải quyết tốt nhất các nhiệm vụ của từng giai đoạn tố tụng”10. Theo tác giả Nguyễn Bảo An, thời hạn TTHS là “khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác”11. Các khái niệm thời hạn TTHS mà các tác giả nêu trên đều có điểm chung là mô tả nội hàm của khái niệm thời hạn TTHS trước hết là “khoảng thời gian”.
Trong khoảng thời gian đó, các chủ thể TTHS phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp lý của mình, nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể theo luật 7 Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr. 8 Phan Thị Thu Thủy (2014), Thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội, tr. 9 Lê Minh Tuấn (1995), Vấn đề thời hạn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội. 10 Hà Thị Minh Huế (2013), Thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
11 Nguyễn Bảo An (2012), Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn tiến sĩ, Đại học Luật TP. Tuy nhiên, các khái niệm thời hạn TTHS mà các tác giả đưa ra chưa bao quát được nội dung: trong thời hạn TTHS, các chủ thể TTHS thực hiện các hoạt động, hành vi nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ thể. Từ những phân tích trên, tác giả đưa ra khái niệm thời hạn TTHS như sau: Thời hạn TTHS là khoảng thời gian do pháp luật TTHS quy định để các chủ thể TTHS thực hiện các hoạt động, hành vi tố tụng nhằm đạt được mục tiêu, yêu cầu cụ thể trong TTHS. Theo quy định của pháp luật TTHS hiện hành, thời hạn TTHS bao gồm hai loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn.
Song song với việc thực hiện các hoạt động TTHS trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo, nhằm kịp thời ngăn chặn các hành vi phạm tội, ngăn ngừa bị can, bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm hoặc gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để đảm bảo thi hành án. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết có hiệu quả nhiệm vụ của TTHS, cũng như nhằm đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho việc giải quyết vụ án đúng người, đúng tội, không để lọt tội phạm, tránh làm oan người vô tội. Biện pháp ngăn chặn bao gồm các biện pháp sau: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh12. Mỗi biện pháp ngăn chặn được quy định căn cứ và điều kiện áp dụng khác nhau, trên tinh thần bảo đảm thực hiện tốt các nguyên tắc của TTHS nhằm ghi nhận, bảo đảm các quyền cơ bản của công dân.
Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn là một trong các căn cứ quan trọng mà cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng phải tuân thủ trong quá trình tố tụng, nhằm đảm bảo việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đúng đắn, khách quan, công bằng, góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng chống, ngăn chặn tội phạm, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, hạn chế việc lạm quyền, xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân. Việc quy định thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS là vô cùng quan trọng và cần thiết, thể hiện sự dân chủ, tính ưu việt, nghiêm minh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. 12 Khoản 1, Điều 109 BLTTHS 2015 10 Bàn về thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong TTHS chính là đề cập đến thời hạn để thực hiện việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh đối với bị can, bị cáo. Thời hạn tạm giam là thời hạn của một biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong các biện pháp ngăn chặn được áp dụng với bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng.
Nếu như việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, tạm hoãn xuất cảnh chỉ ảnh hưởng đến các quyền của công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do giao tiếp, quyền hội họp thì việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn như giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam sẽ hạn chế quyền tự do của công dân. Tuy nhiên, thời gian hạn chế tự do khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ ngắn hơn khi bị áp dụng biện pháp tạm giam. Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông của Viện ngôn ngữ học thì “tạm” là chỉ trong một thời gian nào đó, khi có điều kiện thì sẽ có thay đổi, mang tính tạm thời; “giam” tức là giữ người bị coi là có tội ở một nơi nhất định không cho tự do đi lại, tự do hoạt động, bị nhốt. Do đó, có thể hiểu khi bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giam tức là họ bị cách ly khỏi xã hội trong thời gian nhất định, nhằm ngăn chặn họ tiếp tục phạm tội hoặc có hành vi trốn tránh pháp luật, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.