Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học của nghiên cứu sinh Trần Thị Minh Tâm với đề tài "Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2019, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Lê Văn Lân. Luận án thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, mã số đào tạo 62 22 01 21.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự biến chuyển của đời sống văn học Việt Nam từ mốc thời gian năm 2000. Trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, các trào lưu và lý thuyết văn học thế giới được tiếp nhận đa dạng, cùng với sự xuất hiện của không gian mạng internet (các website, blog văn học), đời sống thơ ca đã hình thành những phương thức sáng tác, phổ biến và tiếp nhận mới. Thi đàn diễn ra các cuộc đối thoại, tranh luận gay gắt giữa khuynh hướng giữ gìn phong cách truyền thống giàu nhạc tính và các thể nghiệm đổi mới về ngôn ngữ, cấu trúc, giọng điệu.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là thực tế thơ ca giai đoạn đầu thế kỷ XXI đang trong quá trình vận động liên tục, thiếu vắng các công trình tổng kết, bao quát diện mạo và đặc điểm thi pháp một cách toàn diện trong tiến trình văn học sử. Phần lớn các công trình trước đó chỉ dừng lại ở các bài phê bình đơn lẻ hoặc tích hợp giai đoạn này vào phạm vi chung của văn học sau năm 1975 hoặc văn học thời kỳ Đổi mới sau năm 1986.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát một thực tiễn sáng tác rộng lớn nhằm phác thảo diện mạo, chỉ ra những đặc điểm nổi bật về nội dung và nghệ thuật của thơ Việt Nam trong 15 năm đầu thế kỷ XXI (giai đoạn 2000 – 2015), từ đó xác lập cơ sở so sánh với các giai đoạn trước, xác định sự vận động của thơ giai đoạn này là sự tiếp nối hay có bước chuyển đổi riêng biệt.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua ba nội dung:
- Khái quát những nét chung của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI thông qua khảo sát lực lượng sáng tác, sự vận động của quan niệm nghệ thuật, tình hình đổi mới và các khuynh hướng sáng tạo chính.
- Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ Việt Nam giai đoạn này.
- Đưa ra những nhận định, đánh giá khách quan về thành tựu cũng như những hạn chế tồn tại của thơ ca giai đoạn đầu thế kỷ XXI.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là diện mạo và các đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI.
Phạm vi nghiên cứu được xác định:
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các tác phẩm xuất bản từ năm 2000 đến năm 2015.
- Phạm vi tư liệu và không gian: Tập trung vào các tác giả và tác phẩm tiêu biểu trong nước, bao gồm các tuyển tập thơ có sự tuyển chọn như Thơ trên Sông Hương (tuyển chọn 2003-2013), Thơ mười năm đầu thế kỷ XXI, các tập thơ được trao giải thưởng chuyên môn của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh và một số giải thưởng khác (Bách Việt, Lá Trầu). Luận án giới hạn khảo sát ở mảng sáng tác dành cho người lớn, không nghiên cứu mảng thơ thiếu nhi; không khảo sát thơ của người Việt ở hải ngoại nhưng có liên hệ đối sánh ở một số trào lưu có tác động đến trong nước như phong trào Tân hình thức.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án cho thấy các bài viết, tiểu luận về thơ đầu thế kỷ XXI tương đối phong phú nhưng phân tán, được tác giả phân chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất gồm các đánh giá tổng quát về diện mạo và xu hướng phát triển của thơ ca. Một số ý kiến thể hiện góc nhìn e ngại về sự suy giảm sức hút và khủng hoảng thi pháp như nhận định của Hữu Thỉnh, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Hoàng Đức trong kỷ yếu hội thảo Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung. Trái lại, Đông Hà nhìn nhận văn chương giai đoạn này đa dạng về màu sắc (văn chương giải trí, giãi bày, dưỡng già, phô diễn, nghề nghiệp); Inrasara cho rằng các nhà thơ đương đại liên tục chuyển động và phê bình chưa theo kịp thực tế sáng tác. Về phân loại khuynh hướng, Nguyễn Thanh Tâm trong bài viết Ba khuynh hướng vận động của thơ Việt Nam đương đại chia thơ thành ba nhánh: bảo tồn giá trị truyền thống, cách tân, và cách tân trên cơ sở kế thừa truyền thống; đồng thời gợi mở cách phân loại theo thể loại, phương pháp sáng tác, đối tượng tiếp nhận và hệ hình (tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại). Inrasara nhận diện năm trào lưu chính: thơ cổ truyền, thơ tân hình thức, thơ nữ quyền luận, thơ thị giác (gồm thơ trình diễn) và thơ hậu hiện đại. Về chủ nghĩa hậu hiện đại, có ba luồng quan điểm: phản đối quyết liệt (Nguyễn Hòa, Đỗ Ngọc Yên), đánh giá cao (Inrasara), và cái nhìn dung hòa, chỉ ra cả nỗ lực lẫn biểu hiện cực đoan (Nguyễn Thanh Tâm). Đánh giá về lực lượng sáng tác trẻ, Lưu Khánh Thơ và Yến Nhi ghi nhận sự dân chủ trong giọng điệu, việc khai thác cảm xúc cá nhân và việc đưa thơ đến gần đời sống thường nhật.
Nhóm thứ hai tập trung nhận diện các đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ. Về nội dung, Nguyễn Đăng Điệp chỉ ra các khuynh hướng: viết về chiến tranh, trở về cái tôi cá nhân, đi vào vùng mờ tâm linh, và khuynh hướng hiện đại/hậu hiện đại. Về nghệ thuật, Nguyễn Đăng Điệp ghi nhận sự biến đổi qua việc nới lỏng thể thơ truyền thống, phát triển thơ tự do, thơ văn xuôi, trường ca, cùng sự xuất hiện của ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ thân thể. Đặng Thu Thủy trong chuyên khảo Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỷ 80 đến nay những đổi mới cơ bản phân tích sự thay đổi trong quan niệm thơ (giải tỏa tâm trạng thay vì gánh vác sứ mệnh cao cả), sự mở rộng biên độ thể loại, kết cấu và ngôn ngữ. Lê Thành Nghị nhấn mạnh việc đổi mới hình thức ngôn ngữ, chuyển từ điệu ngâm hát sang điệu nói. Nguyễn Vũ Tiềm trong tiểu luận Thơ cách tân và thi pháp nghệ thuật mới nêu ra bốn dòng chảy (hiện thực đa chiều và huyền ảo; phản biện, dự báo và thức tỉnh; chia sẻ nỗi đời và nỗi đau; folklore – humor và ngoại biên) cùng mười đặc điểm của thơ cách tân. Hà Quảng bàn về việc mở rộng biên độ cảm xúc và hình tượng tổng thể. Các nhà nghiên cứu khác khảo sát những khía cạnh chuyên biệt: Lê Hồ Quang nghiên cứu cái tôi bản năng, tâm linh; Đoàn Ánh Dương chỉ ra nhu cầu khẳng định cái tôi cá thể và tính chất điều hòa nhịp điệu giữa cổ điển và lãng mạn; Nguyễn Thanh Tâm phân tích sự thâm nhập của chất văn xuôi; Nguyễn Chí Hoan bàn về tính chất truyện kể; Trần Ngọc Hiếu tiếp cận thơ từ lý thuyết trò chơi và sự biến chuyển của ngôn từ; Trần Quang Đạo nghiên cứu cấu trúc câu thơ và trật tự giấc mơ; Trần Thiện Khanh phân tích nhịp điệu của ngữ cảnh và chủ thể.
Nhóm thứ ba bao gồm các công trình nghiên cứu về các tác giả và tác phẩm tiêu biểu. Luận án điểm lại các khảo cứu chuyên sâu về:
- Nguyễn Quang Thiều: Các tham luận tại hội thảo năm 2012 của Viện Văn học; nghiên cứu của Nguyễn Đăng Điệp, Đỗ Quyên, Mai Văn Phấn, Chu Văn Sơn, Hồ Thế Hà; các bài phân tích tập trường ca Châu thổ của Đào Duy Hiệp (cấu trúc bóng tối), Nguyễn Thị Loan (miền tâm linh), Nguyễn Thị Minh Tâm (không gian văn hóa nguồn cội).
- Mai Văn Phấn: Nhận định của Văn Giá, Nguyễn Việt Chiến, Đỗ Quyên, Trần Thiện Khanh, Văn Chinh, Nguyễn Hoàng Đức; nghiên cứu ngôn ngữ "langue poétique" của Hồ Thế Hà; nghiên cứu biểu tượng sinh thái của Nhã Thuyên; chuyên luận của Ngô Hương Giang và Nguyễn Thanh Tâm; các bài viết đánh giá về các tập thơ Hôm sau, và đột nhiên gió thổi, Bầu trời không mái che, và thể nghiệm thơ thả.
- Dương Kiều Minh: Tọa đàm năm 2012 tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội với ý kiến của Bích Thu, Bằng Việt, Lưu Khánh Thơ (chú trọng thể thơ văn xuôi qua Tựa cửa, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận), Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái.
- Trương Đăng Dung: Nghiên cứu của Hoàng Đăng Khoa, Nguyễn Trọng Đức, Giáng Vân, Nguyễn Thanh Tuấn về chiều kích hiện sinh và cấu trúc không - thời gian.
- Inrasara: Nhận định của Hoàng Quảng Uyên, Phan Hoàng, Mai Văn Phấn, Trần Xuân An, Vũ Nho về sự dung hợp giữa bản sắc văn hóa Chăm và tâm thức hiện đại qua tập thơ đạt giải thưởng ASEAN năm 2005 Lễ tẩy trần tháng Tư.
- Phan Hoàng: Phân tích về tập thơ Chất vấn thói quen (Trần Hoài Anh, Đặng Huy Giang) và trường ca Bước gió truyền kỳ (Hoàng Thụy Anh, Cao Hồng, Nguyễn Vũ Tiềm).
- Các tác giả trẻ: Vi Thùy Linh (Nguyễn Thụy Kha, Chu Văn Sơn, Ngô Văn Giá, Nguyễn Đăng Điệp, Trần Thiện Khanh); Phan Huyền Thư với tập thơ Nằm nghiêng (Văn Cầm Hải, Đào Duy Hiệp, Hà Tâm, Chu Thị Thơm); cùng các khảo cứu về Ly Hoàng Ly, Văn Cầm Hải, Lê Vĩnh Tài, Đinh Thị Như Thúy, Tuệ Nguyên.
Vị trí của luận án được xác định thông qua việc giải quyết khoảng trống học thuật: Đây là công trình tiến hành khảo sát có tính hệ thống, tập hợp các hiện tượng tản mát để khái quát toàn cảnh diện mạo thơ Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015 như một giai đoạn độc lập trong tiến trình văn học sử, có những đặc trưng phân biệt với thơ giai đoạn đổi mới cuối thế kỷ XX.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý luận văn học hiện đại, lý thuyết thi pháp học thể loại và xã hội học văn học để triển khai đề tài:
- Khung lý thuyết: Sử dụng thi pháp học thể loại để phân tích các yếu tố nội tại của tác phẩm thơ (kết cấu, thể loại, hệ thống hình ảnh, ngôn ngữ, nhịp điệu, giọng điệu) và xã hội học văn học để xem xét mối liên hệ giữa đời sống văn học với các chuyển động kinh tế, xã hội, kỹ thuật số.
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm ba phương pháp chính:
- Phương pháp xã hội học: Khảo sát mối quan hệ giữa văn học và bối cảnh xã hội; lý giải các khuynh hướng thẩm mỹ, phong trào sáng tác đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, kinh tế thị trường và sự mở rộng của công nghệ thông tin.
- Phương pháp phân tích tác phẩm theo đặc trưng thi pháp thể loại: Xem xét cấu trúc bài thơ, các phương thức tổ chức thi ảnh, thi luật, ngôn từ, các chuyển biến từ chất nhạc truyền thống sang tính chất văn xuôi và điệu nói.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các hiện tượng thơ, đề tài, chủ đề, thủ pháp nghệ thuật vào một chỉnh thể có mối liên hệ nội tại; khảo sát mối liên hệ giữa hệ thống đề tài nội dung và hệ thống hình thức nghệ thuật biểu hiện.
Các thao tác bổ trợ:
- Thao tác thống kê: Sử dụng để thống kê các tuyển tập thơ, các giải thưởng văn học, phân loại lực lượng sáng tác theo độ tuổi, thế hệ và thành tựu được công nhận.
- Thao tác so sánh: Đối sánh các đặc điểm thi pháp của thơ giai đoạn 2000 – 2015 với thơ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và thơ giai đoạn đầu Đổi mới (sau năm 1986) nhằm chỉ ra sự kế thừa và những điểm khác biệt.
- Thao tác phân tích và tổng hợp: Phân tích các trường hợp tác giả, tác phẩm, trào lưu cụ thể từ đó tổng hợp thành các luận điểm khái quát về diện mạo và đặc điểm chung.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
- Văn bản thơ: Các tuyển tập được chọn lọc (Thơ trên Sông Hương 2003-2013, Thơ mười năm đầu thế kỷ XXI); các tập thơ tiêu biểu đạt giải thưởng chuyên môn của Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, giải thưởng Bách Việt, giải thưởng Lá Trầu.
- Tư liệu thứ cấp: Các công trình nghiên cứu, lý luận, phê bình, kỷ yếu hội thảo khoa học, các bài viết trên tạp chí chuyên ngành (Tạp chí Văn nghệ, Tạp chí Sông Hương), các diễn đàn nghiên cứu lý luận (lyluanvanhoc.vn) và các trang mạng văn học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương này điểm lại toàn bộ lịch sử nghiên cứu về thơ Việt Nam đương đại từ sau năm 1975 đến các năm đầu thế kỷ XXI. Tác giả tổng hợp các nguồn tư liệu theo ba hướng: những đánh giá chung về diện mạo, các nhận định về đặc điểm nội dung - nghệ thuật, và các bài viết về những tác giả, tác phẩm cụ thể.
Luận điểm chính của chương khẳng định rằng cho đến thời điểm nghiên cứu, giới phê bình chủ yếu tiếp cận thơ đầu thế kỷ XXI một cách tản mát, chưa xem xét đây là một giai đoạn văn học độc lập với hệ tiêu chí riêng. Các ý kiến còn tồn tại nhiều xung đột, từ cách nhìn nhận tiêu cực về sự "èo uột", "khủng hoảng tư tưởng" đến sự khẳng định về tính chất đa dạng, sự nỗ lực làm mới của các cây bút trẻ và trào lưu hậu hiện đại. Việc hệ thống hóa các tư liệu này tạo tiền đề khoa học để luận án triển khai việc khảo cứu diện mạo và đặc trưng của giai đoạn thơ 2000 – 2015.
Chương 2: Khái quát thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI
Chương 2 tập trung dựng lại diện mạo tổng thể của nền thơ qua ba yếu tố: lực lượng sáng tác, sự chuyển biến trong quan niệm nghệ thuật và các khuynh hướng sáng tạo tiêu biểu.
Về lực lượng sáng tác, tác giả vận dụng quan niệm phân chia thế hệ của Chu Văn Sơn (lớp trước, lớp giữa, lớp sau) để phân loại người viết thành ba nhóm:
- Thế hệ trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ: Phần lớn thuộc thế hệ sinh thập niên 1930, 1940 (Nguyễn Đình Thi, Lê Đạt, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Ý Nhi, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Y Phương, Bằng Việt, Trần Nhuận Minh, Hoàng Trần Cương...). Thơ của họ duy trì đề tài hồi ức chiến tranh, kết hợp với những suy ngẫm triết lý về nhân sinh.
- Thế hệ sinh thập niên 1950, 1960 trưởng thành sau năm 1975: Đóng vai trò lực lượng chủ đạo của giai đoạn này (Mai Văn Phấn, Dương Kiều Minh, Nguyễn Quang Thiều, Inrasara, Trần Quang Quý, Nguyễn Bình Phương, Trần Anh Thái, Trương Đăng Dung, Phan Hoàng...). Họ mang lại những thể nghiệm nghệ thuật sâu sắc, diễn tả nỗi đau thân phận và chuyển tải chất liệu đời thường.
- Thế hệ trẻ sinh thập niên 1970, 1980: Gồm các gương mặt như Văn Cầm Hải, Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Tuệ Nguyên, Nguyễn Phong Việt, Lữ Thị Mai... Lớp nhà thơ này thể hiện ý thức khẳng định cái tôi mạnh mẽ, tạo sự đa dạng về phong cách nhưng chưa hình thành được trào lưu có tính thống nhất bao quát.
Bảng tổng hợp số liệu tác giả đạt giải thưởng văn học (gồm Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nhà văn Hà Nội, Hội Nhà văn Thành phố Hồ Chí Minh, giải Bách Việt, giải Lá Trầu) giai đoạn 2000 – 2015 do luận án khảo sát:
| Nhóm thế hệ tác giả |
Số lượng tác giả đạt giải |
Tỷ lệ phần trăm (%) |
| Thế hệ sinh thập niên 1940 trở về trước |
25 |
38,5% |
| Thế hệ sinh thập niên 1950, 1960 |
31 |
47,7% |
| Thế hệ trẻ sinh thập niên 1970, 1980 |
9 |
13,8% |
| Tổng cộng |
65 |
100% |
Về các hoạt động thơ, luận án ghi nhận sự duy trì các hình thức sinh hoạt truyền thống (trại sáng tác, cuộc thi thơ, Ngày thơ Việt Nam tổ chức từ năm 2003, các giải thưởng tư nhân như Lá Trầu, Bách Việt), sự xuất hiện của mô hình sinh hoạt dân chủ "Bàn tròn văn chương", và sự tác động sâu sắc của Internet. Môi trường mạng (website như tanhinhthuc.com, các diễn đàn văn học, blog cá nhân) đã tạo ra không gian công bố tác phẩm tự do, đưa các trào lưu mới (thơ tân hình thức, thơ trình diễn, thơ thị giác, thơ hậu hiện đại) phát triển, đồng thời kết nối sáng tác trong nước với hải ngoại.
Về quan niệm nghệ thuật và khuynh hướng sáng tạo, luận án phân tích:
- Sự chuyển biến quan niệm: Đổi mới thơ trở thành nhu cầu cấp thiết; thơ chuyển từ việc gánh vác các nhiệm vụ xã hội sang việc biểu đạt đời sống tinh thần cá thể, khám phá bản ngã.
- Ba khuynh hướng sáng tác chính: Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống; Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống; Khuynh hướng cách tân thơ triệt để.
Chương 3: Những chuyển động của nội dung thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI
Chương này phân tích các chuyển dịch về nội dung và cảm hứng tư tưởng trong thơ ca giai đoạn khảo sát, tập trung vào bốn mạch nội dung chính:
- Cảm hứng dân tộc lịch sử: Thơ ca duy trì mạch nguồn truyền thống nhưng có sự biến chuyển về điểm nhìn. Chủ đề biển đảo quê hương trở thành điểm nhấn nổi bật trong cảm hứng lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Cách tiếp cận lịch sử và truyền thống dân tộc chuyển từ khuynh hướng sử thi thuần túy sang cảm quan tự nghiệm, đa chiều, gắn với số phận con người cụ thể.
- Dòng thơ thế sự chiếm vị trí chủ đạo: Thơ bám sát các biến động xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, kỹ trị và toàn cầu hóa. Các nhà thơ phản ánh những lo âu trước sự tha hóa nhân cách, mặt trái của lối sống kim tiền; tìm về các giá trị truyền thống, cội nguồn nông thôn như một giải pháp cứu rỗi tâm hồn; đồng thời duy trì niềm tin, hy vọng vào sự phục thiện của con người.
- Tình yêu và khát khao nhục cảm: Tình yêu được nhìn nhận như chủ đề vĩnh cửu nhưng được tiếp cận ở khía cạnh trần thế, trực diện. Thơ thời kỳ này không né tránh mà công khai biểu đạt khát khao nhục cảm, giải phóng những ẩn ức bản năng, thể hiện rõ qua tiếng nói ái quyền của các cây bút nữ.
- Cái tôi bản thể và vùng mờ tâm linh, vô thức: Thơ đi sâu vào thế giới nội tâm phức tạp, khám phá những góc khuất tâm lý, vùng mờ tâm linh và tiềm thức mang màu sắc siêu thực. Nhân vật trữ tình không còn là đại diện cho cộng đồng mà là cái tôi cá thể đối diện với sự cô đơn, tính chất phi lý và những âu lo hiện sinh.
Chương 4: Đa dạng hóa nghệ thuật biểu hiện
Chương 4 khảo sát các biến đổi về mặt thi pháp hình thức qua bốn phương diện cơ bản:
- Mở rộng đường biên thể loại: Diễn ra sự biến đổi của các thể thơ truyền thống (như thơ lục bát được làm mới về nhịp điệu, cách ngắt nhịp và hình ảnh) song song với xu hướng tự do hóa triệt để hình thức câu thơ. Sự phát triển mạnh mẽ của thơ tự do không vần, thơ văn xuôi, trường ca mở rộng cấu trúc, cùng các thể nghiệm thể thơ ba câu học tập thể Haiku Nhật Bản (như trường hợp thơ thả).
- Hệ thống ngôn ngữ: Thơ hình thành sự đan xen giữa ngôn ngữ giản dị, hàm súc với xu hướng gia tăng mạnh mẽ ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, thậm chí cả từ ngữ thô mộc, trần tục nhằm phản ánh chân thực nhịp sống đô thị. Bên cạnh đó là các thể nghiệm sử dụng chất liệu biểu đạt phi ngôn ngữ như ký hiệu, con số, khoảng trắng trình bày thị giác.
- Hệ thống hình ảnh: Có sự chuyển dịch rõ rệt từ hình ảnh ước lệ cổ điển sang hệ thống hình ảnh đời thường, trần tục, gắn với các chi tiết cụ thể của đời sống sinh hoạt. Cùng lúc đó, xuất hiện xu hướng tạo dựng hình ảnh lạ hóa, phi logic, mang màu sắc tượng trưng, siêu thực và các cấu trúc hình ảnh bắt nguồn từ trật tự giấc mơ.
- Hướng tới đa giọng điệu: Giọng điệu ngâm vịnh truyền thống nhường chỗ cho giọng độc thoại – giãi bày chiếm vị trí chủ đạo. Bên cạnh đó, thơ ca đương đại tích hợp nhiều sắc thái giọng điệu mới: giọng đối thoại đời thường, giọng triết lý suy tư, giọng giễu nhại, tự trào mang âm hưởng văn hóa hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về thơ Việt Nam giai đoạn 15 năm đầu thế kỷ XXI (2000 – 2015), tách giai đoạn này thành một đối tượng nghiên cứu độc lập để phục dựng diện mạo và tiến trình vận động, không ghép chung một cách đơn giản vào thơ sau năm 1975 hay thơ sau Đổi mới 1986.
- Làm rõ các đặc điểm chuyển động về nội dung (sự gia tăng của tính chất thế sự, tiếng nói bản thể, yếu tố nhục cảm và tâm linh) và sự đổi mới hình thức biểu hiện (sự văn xuôi hóa, đa giọng điệu, mở rộng thể loại, tự do hóa ngôn ngữ và hình ảnh), từ đó cung cấp căn cứ để xác nhận những giá trị mà thơ ca giai đoạn này đạt được.
Về mặt thực tiễn:
- Khảo sát, phân loại cụ thể lực lượng sáng tác qua ba thế hệ; thống kê số liệu về các tác giả đạt giải thưởng văn học uy tín trong giai đoạn 2000 – 2015.
- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo có hệ thống cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, giúp người đọc có cái nhìn bao quát về các khuynh hướng, trào lưu và các hiện tượng tác giả tiêu biểu.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất từ văn bản:
- Cần có sự nhìn nhận khách quan, cởi mở đối với các tìm tòi, thể nghiệm nghệ thuật của các nhà thơ; không nên áp đặt các chuẩn mực thẩm mỹ cũ để phán xét những cách tân hình thức mới.
- Công tác phê bình văn học cần nâng cao năng lực lý luận, bám sát thực tiễn sáng tác đang vận động để thực hiện tốt vai trò cầu nối định hướng giữa tác phẩm và công chúng tiếp nhận.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu được luận án chỉ rõ:
- Đối tượng nghiên cứu là một nền thơ đang trong quá trình chuyển động, chưa có độ lùi thời gian cần thiết; nhiều thể nghiệm, trào lưu và phong cách tác giả chưa thực sự định hình ổn định, gây khó khăn cho việc đưa ra các kết luận dứt khoát.
- Số lượng tác phẩm và người viết trong giai đoạn này quá lớn, xuất hiện ồ ạt trên cả sách in, báo chí và không gian mạng internet, khiến công trình không thể khảo sát tuyệt đối toàn bộ thực tế sáng tác mà phải giới hạn ở các hiện tượng, tuyển tập và giải thưởng tiêu biểu.
- Phạm vi nghiên cứu chưa bao quát mảng thơ thiếu nhi và mảng sáng tác của các tác giả người Việt ở hải ngoại (chỉ dừng ở mức tham khảo ảnh hưởng của phong trào Tân hình thức).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Khi có thêm độ lùi thời gian, các nghiên cứu tiếp theo có thể đi sâu giải mã, đánh giá định lượng và định tính kỹ lưỡng hơn về sự tồn tại hay suy thoái của từng trào lưu thể nghiệm (như thơ hậu hiện đại, thơ tân hình thức, thơ trình diễn).
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các đối tượng chuyên biệt như thơ thiếu nhi, các trường hợp tác giả ở hải ngoại và sự tương tác giữa văn học mạng với văn học xuất bản truyền thống.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Lý luận văn học trong việc tra cứu tư liệu, tham khảo khung phân tích thi pháp và hệ thống hóa các tác giả thơ giai đoạn 2000 – 2015.
- Giảng viên đại học và cao đẳng khi xây dựng bài giảng, chuyên đề về văn học Việt Nam đương đại, tiến trình thơ hiện đại sau năm 1975.
- Giới phê bình văn học và các nhà quản lý văn hóa, xuất bản trong việc nắm bắt diễn biến tư tưởng, các xung đột thẩm mỹ và thực trạng của đời sống thi ca đương thời.
Các phần có giá trị tham khảo cao trong văn bản gồm phần tổng quan tài liệu có hệ thống (Chương 1), bảng phân loại và số liệu thống kê giải thưởng theo ba thế hệ tác giả cùng tác động của không gian mạng Internet (Chương 2), và hệ thống tiêu chí phân tích thi pháp ngôn ngữ, giọng điệu, thể loại (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia lực lượng sáng tác thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI theo mô hình thế hệ nào và số liệu giải thưởng phân bố ra sao?
Luận án vận dụng quan niệm của Chu Văn Sơn để phân chia người viết thành ba lớp: thế hệ trưởng thành từ kháng chiến chống Mỹ (chủ yếu sinh thập niên 1930, 1940), thế hệ sinh thập niên 1950, 1960 (trưởng thành sau năm 1975, là lực lượng chủ đạo), và thế hệ trẻ sinh thập niên 1970, 1980. Trong 65 tác giả đạt các giải thưởng văn học uy tín từ năm 2000 đến 2015 được khảo sát, thế hệ 4X trở về trước chiếm 25 tác giả (38,5%), thế hệ 5X và 6X chiếm 31 tác giả (47,7%), và thế hệ 7X, 8X chiếm 9 tác giả (13,8%).
2. Không gian mạng Internet tác động như thế nào đến sự vận động của thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI?
Theo luận án, Internet tạo ra phương thức công bố và truyền bá tác phẩm tự do không qua kiểm duyệt, thúc đẩy các khuynh hướng mới hình thành như thơ tân hình thức, thơ trình diễn, thơ thị giác, thơ hậu hiện đại. Mạng Internet là cầu nối giao lưu giữa thơ trong nước và hải ngoại, đồng thời là diễn đàn cập nhật các lý thuyết văn học mới thông qua các trang web chuyên ngành và blog cá nhân. Tuy nhiên, đây cũng là nơi xuất hiện các thể nghiệm mang tính nổi loạn ngôn từ cực đoan.
3. Luận án xác định thơ Việt Nam giai đoạn 2000 – 2015 vận động theo các khuynh hướng sáng tạo chính nào?
Luận án xác định ba khuynh hướng sáng tạo cơ bản: Khuynh hướng bảo tồn các giá trị thơ truyền thống; Khuynh hướng cách tân trên cơ sở truyền thống; và Khuynh hướng cách tân thơ triệt để.
4. Những nét mới nổi bật trong nghệ thuật ngôn ngữ và hình ảnh thơ được luận án chỉ ra là gì?
Về ngôn ngữ, thơ ca gia tăng việc sử dụng ngôn ngữ đời thường, khẩu ngữ, từ ngữ trần tục bên cạnh việc duy trì lối diễn đạt giản dị, hàm súc; đồng thời có các thể nghiệm sử dụng ký hiệu, số và khoảng trắng trình bày. Về hình ảnh, thơ chuyển mạnh sang hệ thống hình ảnh thực tế đời thường, kết hợp với các hình ảnh lạ hóa, đa nghĩa mang tính chất tượng trưng, siêu thực và cấu trúc theo giấc mơ.
5. Vì sao tác giả luận án nhận định việc nghiên cứu thơ Việt Nam đầu thế kỷ XXI là một việc làm mạo hiểm và thử thách?
Tác giả lý giải việc này mạo hiểm vì nền thơ đang trong quá trình chuyển động liên tục, nhiều yếu tố thi pháp chưa ổn định và chưa có đủ độ lùi thời gian để định hình. Thử thách đến từ số lượng tác phẩm và người viết quá đồ sộ, phong phú về khuynh hướng và thể nghiệm trên nhiều phương tiện xuất bản, gây khó khăn cho việc bao quát toàn bộ thực tế sáng tác.
Kết luận
Luận án "Thơ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI" của tác giả Trần Thị Minh Tâm là công trình nghiên cứu văn học sử đã bao quát diện mạo và các đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn 2000 – 2015. Bằng việc kết hợp phương pháp thi pháp học thể loại, xã hội học văn học và thao tác thống kê, công trình đã làm rõ sự dịch chuyển thế hệ sáng tác, sự xuất hiện của không gian mạng cùng các xu hướng vận động thẩm mỹ từ truyền thống đến cách tân. Luận án cung cấp hệ thống tư liệu khoa học, góp phần định vị vị trí của giai đoạn thơ 15 năm đầu thế kỷ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại.