Luận Án Về Khuynh Hướng Hiện Sinh Trong Thơ Việt Nam Đương Đại

Khám phá khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại, phân tích các tác phẩm và ảnh hưởng đến văn hóa nghệ thuật hiện nay.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
164
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại

1.2. Phương pháp nghiên cứu

1.3. Đóng góp của luận án

1.4. Cấu trúc của luận án

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại

Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại đã trở thành một chủ đề quan trọng trong nghiên cứu văn học. Từ những năm 1986, khi công cuộc đổi mới diễn ra, thơ ca Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Khuynh hướng hiện sinh không chỉ phản ánh những trăn trở về thân phận con người mà còn thể hiện sự tìm kiếm ý nghĩa trong cuộc sống. Các nhà thơ đã tiếp thu và vận dụng triết lý hiện sinh để tạo ra những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân và xã hội.

1.1. Khái niệm về khuynh hướng hiện sinh trong văn học

Khuynh hướng hiện sinh được hiểu là một trào lưu triết học, trong đó con người được xem là trung tâm của mọi vấn đề. Nó nhấn mạnh sự tự do và trách nhiệm của cá nhân trong một thế giới đầy phi lý. Trong văn học, điều này thể hiện qua những tác phẩm phản ánh sự cô đơn, buồn nôn và tìm kiếm bản thể của con người.

1.2. Sự phát triển của khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca

Từ những năm 1986, thơ Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện của nhiều nhà thơ theo khuynh hướng hiện sinh. Họ đã mang đến những thể nghiệm mới mẻ, giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về cuộc sống và con người. Những tác phẩm này không chỉ đơn thuần là nghệ thuật mà còn là những phản ánh chân thực về xã hội.

II. Vấn đề và thách thức trong việc nghiên cứu khuynh hướng hiện sinh

Việc nghiên cứu khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại không hề đơn giản. Có nhiều ý kiến trái chiều về giá trị và ý nghĩa của nó. Một số nhà phê bình cho rằng khuynh hướng này chỉ là một trào lưu tạm thời, trong khi những người khác lại khẳng định nó là một phần không thể thiếu trong văn học hiện đại. Sự đa dạng trong cách tiếp cận và cảm nhận về khuynh hướng này tạo ra những thách thức lớn cho các nhà nghiên cứu.

2.1. Những ý kiến trái chiều về khuynh hướng hiện sinh

Có nhiều ý kiến khác nhau về khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam. Một số nhà phê bình cho rằng nó mang lại những giá trị mới mẻ, trong khi những người khác lại cho rằng nó chỉ là một sự bắt chước từ phương Tây. Điều này tạo ra một bức tranh đa chiều về khuynh hướng này.

2.2. Thách thức trong việc xác định giá trị của khuynh hướng hiện sinh

Việc xác định giá trị của khuynh hướng hiện sinh trong thơ ca gặp nhiều khó khăn. Các nhà nghiên cứu cần phải xem xét nhiều yếu tố, từ bối cảnh lịch sử đến cảm nhận cá nhân của từng tác giả. Điều này đòi hỏi một cái nhìn sâu sắc và toàn diện hơn về văn học.

III. Phương pháp nghiên cứu khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam

Để nghiên cứu khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Phương pháp lịch sử giúp xác định diễn tiến của thơ ca, trong khi phương pháp phân tích - tổng hợp giúp làm rõ các nội dung biểu hiện. Sự kết hợp giữa các phương pháp này tạo ra một cái nhìn toàn diện về khuynh hướng hiện sinh.

3.1. Phương pháp lịch sử trong nghiên cứu

Phương pháp lịch sử giúp các nhà nghiên cứu nhìn nhận sự phát triển của khuynh hướng hiện sinh trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Điều này cho phép họ hiểu rõ hơn về những ảnh hưởng từ triết học hiện sinh đến thơ ca Việt Nam.

3.2. Phương pháp phân tích tổng hợp

Phương pháp phân tích - tổng hợp giúp làm rõ các đặc điểm của khuynh hướng hiện sinh trong thơ. Qua đó, các nhà nghiên cứu có thể nhận diện được những yếu tố nghệ thuật và nội dung biểu hiện trong các tác phẩm.

IV. Ứng dụng thực tiễn của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam

Khuynh hướng hiện sinh không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có ứng dụng thực tiễn trong đời sống văn học. Những tác phẩm thơ mang đậm ảnh hưởng của khuynh hướng này đã giúp người đọc cảm nhận sâu sắc hơn về thân phận con người và những trăn trở trong cuộc sống. Điều này tạo ra một cầu nối giữa tác giả và độc giả, giúp họ chia sẻ những suy tư về cuộc sống.

4.1. Tác động của khuynh hướng hiện sinh đến độc giả

Khuynh hướng hiện sinh trong thơ đã tạo ra những tác động mạnh mẽ đến độc giả. Những tác phẩm này không chỉ đơn thuần là nghệ thuật mà còn là những phản ánh chân thực về cuộc sống, giúp người đọc cảm nhận được những trăn trở và suy tư của tác giả.

4.2. Vai trò của khuynh hướng hiện sinh trong việc phát triển thơ ca

Khuynh hướng hiện sinh đã góp phần quan trọng vào sự phát triển của thơ ca Việt Nam. Nó không chỉ mang lại những giá trị mới mẻ mà còn tạo ra những cơ hội cho các nhà thơ thể hiện bản thân và khám phá những khía cạnh mới của cuộc sống.

V. Kết luận và tương lai của khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam

Khuynh hướng hiện sinh trong thơ Việt Nam đương đại đã khẳng định được vị trí của mình trong văn học. Những tác phẩm mang đậm ảnh hưởng của khuynh hướng này không chỉ phản ánh những trăn trở về thân phận con người mà còn mở ra những hướng đi mới cho thơ ca. Tương lai của khuynh hướng này hứa hẹn sẽ tiếp tục phát triển và tạo ra những giá trị mới cho văn học Việt Nam.

5.1. Tương lai của khuynh hướng hiện sinh trong văn học

Khuynh hướng hiện sinh có thể sẽ tiếp tục phát triển trong tương lai, khi mà các nhà thơ tiếp tục khám phá những khía cạnh mới của cuộc sống. Điều này sẽ tạo ra những tác phẩm mang đậm dấu ấn cá nhân và xã hội.

5.2. Đánh giá tổng quan về khuynh hướng hiện sinh

Khuynh hướng hiện sinh đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong thơ Việt Nam. Việc nghiên cứu và đánh giá khuynh hướng này sẽ giúp người đọc có cái nhìn rõ hơn về văn học và những giá trị mà nó mang lại.

17/07/2025
Luận án khuynh hướng hiện sinh trong thơ việt nam đương đại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Về nghiên cứu chủ nghĩa hiện sinh và những biểu hiện của chủ nghĩa hiện sinh trong văn học Việt Nam hiện đại 1. Việc giới thiệu chủ nghĩa hiện sinh, mối liên hệ giữa chủ nghĩa hiện sinh với văn học và văn học Việt Nam hiện đại “Hiện sinh”, “Chủ nghĩa hiện sinh” là những khái niệm đã khá quen thuộc với người Việt đương đại.

Sự phổ biến của chúng trong ngữ vựng tiếng Việt có thể đã bắt đầu từ giữa thập niên 1950 - 1960 ở miền Nam nước ta. Theo Từ điển Tiếng Việt, “chủ nghĩa hiện sinh” là “khuynh hướng triết học quan niệm con người là độc nhất và đơn độc trong một vũ trụ lãnh đạm, thậm chí thù địch, con người là hoàn toàn tự do và chịu trách nhiệm về những hành động của mình” [160, tr. Điều đáng chú ý là Từ điển Tiếng Việt coi “hiện sinh” là một danh từ nói tắt của “chủ nghĩa hiện sinh”, và cụm danh từ đồng nghĩa với nó là “chủ nghĩa sinh tồn” (được xem là từ cũ) [160, tr. Thực ra, “Hiện sinh” hay hơn thế nữa, “chủ nghĩa hiện sinh” không đơn thuần chỉ là triết thuyết (chủ nghĩa, lý luận, lý thuyết, học thuyết, …) hay chỉ là một phương pháp nghiên cứu phê bình, một cảm hứng sáng tạo hay khuynh hướng sáng tác hay đơn giản hơn nữa - một thái độ chính trị, tôn giáo.

“Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism - còn gọi là Thuyết sinh tồn, Thuyết hiện sinh, Triết hiện sinh, Phong trào hiện sinh) là một trào lưu triết học phi duy lý phát triển với nhịp điệu chóng mặt (theo cách nói của một số học giả nghiên cứu về triết thuyết hiện sinh) ở châu Âu và nhanh chóng trở thành xu hướng thời thượng của xứ này sau thế chiến II. Khoảng hai mươi năm sau năm 1945 là thời kỳ hoàng kim của triết thuyết này. Chủ nghĩa hiện sinh cắm rễ và lan tỏa đến mọi ngõ ngách của đời sống, thấm cả vào những lĩnh vực khó biểu hiện nhất như âm nhạc. Cũng có thể nói “Hiện sinh trở thành tôn chỉ cho phong cách sống của những người dám là chính mình và sống cho chính mình” [29, tr.

Theo Trần Nhật Thu, thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” (L'existentialisme) được nhà triết gia Pháp Grabiel Marcel tuyên xưng lần đầu và ngay sau đó được J. Sartre sử dụng trong bài thuyết trình của mình vào ngày 29 tháng 11 năm 1945 tại Paris. Bài thuyết trình sau đó được xuất bản thành sách mỏng với tựa đề “L’existentialisme est un humanisme” (Thuyết hiện sinh là một thuyết nhân 6 bản)”. Điều đáng chú ý là cuốn “sách mỏng với tựa đề L’existentialisme est un humanisme” này đã được dịch giả Thụ Nhân dịch sang tiếng Việt Hiện sinh - một nhân bản thuyết và xuất bản ở Sài Gòn năm 1965 [124].

Trần Đình Sử cho rằng “Chủ nghĩa hiện sinh đi theo cách nghĩ của hiện tượng học, kiên quyết phản đối đối lập bản chất với hiện tượng mà chủ trương hiện tượng tức bản chất, kêu gọi trở về với bản thân sự vật”. Bản thể luận của họ chính là tồn tại luận. Vì thói quen ở đây vẫn dùng bản thể, nhưng sẽ hiểu là tồn tại luận. Theo Heidegger vấn đề căn bản của triết học là đi tìm ý nghĩa của tồn tại (sein), chứ không phải vật tồn tại, khách thể (seinde), mà tồn tại thì chỉ có con người là hiểu được, bởi con người nêu ra vấn đề ý nghĩa của tồn tại.

Ông gọi con người là Dasein - Tồn tại đó (Da nghĩa là đó, đây, này, cái có thể nhìn thấy trước mặt. Việt Nam có người dịch là Hữu đó, Trung Quốc dịch là Thử tại, tức tồn tại này. Trần Công Tiễn dịch là hiện hữu, cái hữu hiện đó. Cái tồn tại đó khác các vật tồn tại khác ở chỗ ngay từ đầu, nó đã cảm thấy mình ở đó, bị ném ở đó, và do đó mà khác với mọi vật.

Sự tự cảm thấy mình đó gọi là hiện sinh - ex-sistenz. Do có năng lực tự nhận biết mình, biết ý nghĩa của tồn tại mình mà sự tồn tại được hiện ra. Không có con người thì tồn tại sẽ vô nghĩa. Chủ nghĩa hiện sinh xem sự tồn tại của con người là một hiện sinh, thực tồn (existenz/existence) và phân tích trạng thái hiện sinh đó [128].

Theo Lê Công Sự, thuật ngữ Existentialism (Chủ nghĩa hiện sinh), có gốc từ “Existence” có nghĩa là sự tồn tại hay hiện hữu, nhưng không phải là sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng vật lý hay sự tồn tại của sinh vật mà là sự tồn tại của con người” [130]. Như vậy, đi tìm một định nghĩa đầy đủ về chủ nghĩa hiện sinh là rất khó “vì nó là trào lưu vào loại phức tạp nhất, được diễn đạt dưới dạng tư tưởng phi lý, bằng loại tư duy và từ vựng còn xa lạ nhiều với chúng ta” [127, tr. Chủ nghĩa hiện sinh nghiên cứu về con người đang hiện hữu, đang sinh hoạt vật chất và đầy cảm xúc sinh học. Theo 150 thuật ngữ văn học, “Chủ nghĩa hiện sinh là khuynh hướng triết học hình thành trước Thế chiến I ở Nga (L.

Bedyaev), sau Thế chiến I ở Đức (M. Buber), trong thời kỳ Thế chiến II ở Pháp (J. Sartre, Merleau-Ponty, A. de Beauvoir), sau đó phổ biến ở các nước khác tại châu Âu và ở Hoa Kỳ [17, tr.

Bắt đầu là hiện tượng học thuần túy của Husserl, tiếp đến là hiện tượng học hiện sinh của M. Heidegger và sau đó là triết học hiện sinh của J. Các nhà triết học đã có cái nhìn mới về con người với tư cách là chủ 7 thể trong quan hệ với khách thể. Triết học hiện sinh đã xuất hiện như là triết học nhân sinh trong bối cảnh đổ vỡ và khủng hoảng trên nhiều lĩnh vực của đời sống ở phương Tây.

Triết học hiện sinh mặc dù đã tiếp thu những quan điểm cơ bản của hiện tượng học, nhưng nó đã phát triển những quan điểm đó thành một học thuyết có ý nghĩa nhân văn sâu sắc về con người, nó kêu gọi con người chủ động dấn thân và nhập cuộc để vượt lên những lo âu và bất an thường trực thế giới phi lí, nơi con người từ khi bị sinh ra đã phải nhận bản án là “sẽ phải chết như một con chó” (ý của Kafka trong tác phẩm Vụ án). Triết học hiện sinh cho thấy nỗi lo âu và sự tha hóa là những hiện tượng đi cùng với nhau, cùng tăng lên hoặc giảm đi trong quá trình lịch sử nhân loại. Xã hội hiện đại đang phát sinh những nỗi lo âu mới, bên cạnh nỗi sợ có nguồn gốc tự nhiên đã xuất hiện nỗi sợ có nguồn gốc xã hội do mối quan hệ giữa người với người ngày càng xấu đi. Mỗi khi thế giới thay đổi thì cái sinh tồn cũng thay đổi theo.

Trong chủ nghĩa hiện sinh, triết học được khảo sát như một lĩnh vực nhận thức gần với sáng tác nghệ thuật và khác với khoa học. Nhận thức duy lý được coi là bất cập đối với hiện sinh (esistenia) của con người. Các đại diện của chủ nghĩa hiện sinh nhiều khi trình bày quan điểm của mình không phải dưới hình thức những luận văn có cấu tạo hệ thống hóa mà là dưới hình thức tác phẩm nghệ thuật, như tiểu thuyết, kịch. hoặc thông qua việc phân tích sáng tác nghệ thuật.

Chủ nghĩa hiện sinh được xem là triết học của sự khủng hoảng bởi nó ra đời vào thời kỳ của những chấn động và tai biến xã hội. Chủ nghĩa hiện sinh có phái hiện sinh hữu thần và hiện sinh vô thần. Nhánh vô thần có sự thừa nhận Thượng đế đã chết, sự tồn tại của con người đã mất hết ý nghĩa. Nhánh hữu thần cho rằng chính nghệ thuật là cái sáng tạo ra nội dung nhân loại cho thế giới.

Điểm gặp gỡ của các nhánh hiện sinh là “có chung niềm tin rằng tư duy triết học xuất phát từ chủ thể cá nhân con người - không chỉ đơn thuần là chủ thể tư duy mà còn là chủ thể hành động, cảm nhận và sống [158]. Trong văn học, chủ nghĩa hiện sinh chỉ bộc lộ rõ rệt như một trào lưu ở Pháp thời kỳ trước và trong thế chiến II (1939 - 1945) và thời kỳ ngay sau chiến tranh. Sartre đã đưa chủ nghĩa hiện sinh đến với nhiều người trên thế giới. Với công trình nghiên cứu “Hành trình khám phá triết học phương Tây”, William F.

Lawhead đã nghiên cứu rất kĩ về các nhà hiện sinh như S.Kierkegaard - Người sáng lập hiện sinh tôn giáo, F. Nietsche - người sáng lập chủ nghĩa hiện sinh thế tục. Công trình nghiên cứu của William F. Lawhead đã diễn giải khá tường tận về tư tưởng, quan điểm của các nhà hiện sinh từ hữu thần đến vô thần và các nhánh 8 hiện sinh khác” [92, tr.

Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm đến thân phận con người. Con người sinh ra không có bản chất sẵn có, tự con người tạo nên chính nó. Chủ nghĩa hiện sinh quan tâm nhiều đến con người bản thể, soi chiếu vào chiều sâu với nhiều chiều kích bên trong phức tạp, bí ẩn. Triết học hiện sinh là triết học về con người.

Đây được xem là một “nhân bản thuyết”. Với thuyết hiện sinh “nó coi trọng tính độc đáo tuyệt đối của con người có vị trí quan trọng, hàng đầu” [113, tr. Chủ nghĩa hiện sinh được du nhập nhiều vào các nước phương Đông trong đó có Việt Nam và có ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống tinh thần xã hội cũng như văn học ở các nước này. Ở nước ta, có thể nói chủ nghĩa hiện sinh được du nhập sớm hơn cả cũng như đã thực sự tạo dựng ảnh hưởng sâu rộng quy mô xã hội là ở miền Nam.

Huỳnh Như Phương đã dựng lại diễn trình du nhập của chủ nghĩa hiện sinh tại miền Nam trong “Chủ nghĩa hiện sinh ở miền Nam Việt Nam 1954 - 1975 (trên bình diện lý thuyết)”. Theo ông, “Để chọn một lý thuyết triết học và mỹ học được du nhập và có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong lý luận và sáng tác văn học ở miền Nam Việt Nam những năm 1954 -1975, có lẽ nhiều người sẽ không ngần ngại chọn chủ nghĩa hiện sinh. Ảnh hưởng đó thể hiện ở chỗ đây là trào lưu, tuy lúc đậm lúc nhạt, nhưng đã hiện diện gần như trọn cả một giai đoạn lịch sử đen tối và phức tạp. Ảnh hưởng đó thể hiện cả trên bình diện lý luận lẫn trên bình diện sáng tác, cả trong giới chuyên môn lẫn trong độc giả phổ cập, cả trong nhà trường lẫn ngoài nhà trường” [117, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám Phá Khuynh Hướng Hiện Sinh Trong Thơ Việt Nam Đương Đại" mang đến cái nhìn sâu sắc về xu hướng hiện sinh trong thơ ca Việt Nam hiện đại. Tác giả phân tích các đặc điểm nổi bật của thể loại này, từ những cảm xúc nội tâm đến những câu hỏi về sự tồn tại và ý nghĩa cuộc sống. Độc giả sẽ tìm thấy những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về khuynh hướng này, giúp họ cảm nhận và đánh giá thơ ca một cách sâu sắc hơn, đồng thời mở rộng tầm nhìn về nghệ thuật và triết lý sống.

Để khám phá thêm về nghệ thuật thơ ca, bạn có thể tham khảo tài liệu Thế giới nghệ thuật thơ triều la vỹ, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các đặc điểm nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo trong thơ. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ hay thơ việt nam những năm đầu thế kỷ xxi sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những đặc điểm và xu hướng của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XXI. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật sẽ mang đến cái nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật về thơ ca trên các phương tiện truyền thông. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá sâu hơn về thế giới thơ ca Việt Nam.