Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm thơ Nôm Đường luật Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Nôm Đường luật có vị trí quan trọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn học dân tộc. “Thơ Nôm Đường luật là một trong những thể loại độc đáo và đạt được nhiều thành tựu lớn bậc nhất của văn học Việt Nam. Có nhiều tác giả, cũng có rất nhiều những đỉnh cao giá trị văn học thuộc về thơ Nôm Đường luật”[14].
Về khái niệm “thơ Nôm Đường luật”, từ các góc nhìn khác nhau, nhiều học giả đã tìm cách xác định nội hàm của nó. Tác giả Trần Thị Lệ Thanh trong Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX cho rằng: “Khái niệm “thơ Đường luật” là dùng để chỉ một thể loại thơ ca, chứ không phải là một thời đại, một loại hình, hay một trào lưu thơ ca… xét yếu tố văn tự, thơ Đường luật Việt nam bao gồm thơ Đường luật bằng chữ Hán, thơ Đường luật bằng chữ Nôm, và thơ Đường luật bằng chữ Quốc ngữ…Về căn bản thơ Đường luật Việt Nam tuân thủ những quy định cách luật của thơ đời Đường, đời Tống (trừ trường hợp những bài thất ngôn pha lục ngôn là có cội nguồn trong từ khúc). Tuy nhiên, về niêm, luật, vần, đối, và bố cục của một bài Đường luật, khi đưa vào thi cử ở Việt Nam, nhiều quy định đã trở nên khắt khe hơn” [ 14,tr 58]. Tác giả Hoàng Hữu Bội trong cuốn “Thiết kế dạy học ngữ văn 11” thì xác định: “những bài thơ được viết theo các thể Đường luật mà bằng chữ Nôm được gọi là thơ Nôm Đường luật”.
Từ góc nhìn thể loại, tác giả Lã Nhâm Thìn trong cuốn Phân tích tác phẩm văn học Trung đại Việt Nam đã chỉ rõ: “Khái niệm thơ Nôm Đường luật là bao hàm những bài thơ viết bằng chữ Nôm theo luật Đường hoàn chỉnh và cả những bài viết theo thơ luật Đường phá cách có những bài xen câu ngũ ngôn, lục ngôn vào bài thơ thất ngôn”. download by : skknchat@gmail.com 15 Từ những ý kiến trên, theo chúng tôi khái niệm thơ Nôm Đường luật bao hàm cả yếu tố: loại thể (là thơ Đường luật) và ngôn ngữ (là chữ Nôm). Về thể cách, Nôm Đường luật bao gồm những bài tuân thủ quy định cách luật của thơ đời Đường, đời Tống và cả những bài phá cách. Về ngôn ngữ Nôm Đường luật chỉ sử dụng chữ Nôm.
Cả hai yếu tố này đã tạo nên một kiểu thơ Đường đặc sản của Việt Nam. Trong luận văn, chúng tôi sẽ dựa vào khái niệm của Lã Nhâm Thìn làm cơ sở để tìm hiểu về thơ Nôm Đường luật Phan Bội Châu thời kỳ ở Huế. Về cơ bản khái niệm này có sự đồng thuận khá cao trong nghiên cứu thơ Nôm Đường luật Việt Nam từ trước tới nay. Sự vận động thể loại của Nôm Đường luật ở nửa đầu thế kỷ XX.
Quá trình hình thành và phát triển của thơ Nôm Đường luật trước thế kỷ XX. Thơ Nôm Đường luật xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chữ Nôm. Cho đến nay chưa có bằng chứng cụ thể nào về thời gian ra đời chính xác của thơ Nôm Đường luật. Nhưng theo Đại Việt sử kí toàn thư - một bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay của Ngô Sĩ Liên, cũng như theo nhiều nhà nghiên cứu thì chữ Nôm ra đời từ cuối thế kỉ XIII, bắt đầu từ bài Văn tế cá sấu của Hàn Thuyên.
Tuy nhiên văn bản chữ viết đầu tiên của thể thơ này còn giữ được là Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi. Có ý kiến cho rằng đây chính là “sự khởi đầu hoành tráng nhất, ấn tượng nhất” của thơ Nôm Việt Nam. Với 254 bài thơ thơ Nôm Đường luật “có khi trần trụi, sần sùi như quặng quý còn vùi trong đất cát, có khi long lanh như ngọc bích đã qua tay người thợ kim hoàn chế tác” [26] Nguyễn Trãi giống như nhà “khai sơn phá thạch” [14, tr 67] đưa nguồn thơ Đường luật bám rễ sâu vào tâm hồn dân tộc đồng thời khẳng định sự hiện diện của thơ Nôm Đường luật với tư cách là một thể loại văn học Việt. Hồng Đức quốc âm thi tập của vua Lê Thánh Tông và hội Tao Đàn là cột “mốc” thứ hai trong tiến trình thơ Nôm Đường luật Việt Nam thời trung đại.
Ra download by : skknchat@gmail.com 16 đời vào thời đại thịnh trị nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, tuy là tác phẩm mang tính chất cung đình nhưng Hồng Đức quốc âm thi tập lại thể hiện khá rõ xu hướng dân tộc hóa thể loại, nhất là ở phương diện ngôn ngữ. Bên cạnh bộ phận ngôn ngữ ngoại nhập (từ Hán Việt, điển tích, thi liệu, Hán học.), Hồng Đức quốc âm thi tập còn có bộ phận ngôn ngữ dân tộc: từ thuần Việt, ngôn ngữ văn học dân gian và thành phần ngôn ngữ đời sống. Chính sự vận dụng ngôn ngữ đời sống một cách sáng tạo, có giá trị nghệ thuật các tác giả Hồng Đức đã góp phần tạo ra những nét riêng biệt giữa Đường luật Nôm với Đường luật Hán, đồng thời cũng khẳng định những thành tựu nghệ thuật đặc sắc không thể thay thế của dòng thơ tiếng Việt trong nền văn học chữ viết dân tộc, là tiền đề cho bước phát triển mới của ngôn ngữ Đường luật Nôm sau này. Sau Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập phải kể đến Bạch Vân am thi tập của Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở thế kỷ XVI - XVII.
So với hai tác phẩm Nôm Đường luật thế kỉ XV, quy mô số lượng của Bạch Vân am thi tập không nhiều (gồm 161 bài thơ Nôm) nhưng dung lượng phản ánh không vì thế bị hạn chế. Đặc biệt “cây đại thụ rợp bóng thế kỉ XVI” đã đưa vào trong những tác phẩm Nôm Đường luật của mình cảm hứng thế sự, những suy tư về thế giới, về xã hội đương thời. Nhà thơ nói về đạo lý, phê phán thói đời nhưng không khô khan mà rất gần gũi, tinh tế. Bước vào nửa cuối thế kỉ XVIII – nửa đầu thế kỉ XIX, thơ Nôm Đường luật ở vào giai đoạn “thịnh trị nhất”.
Người có công lớn chính là “bà chúa thơ Nôm” - Hồ Xuân Hương. Với hơn mười bài luật tuyệt và hơn ba mươi bài luật thi, thơ Nôm Hồ Xuân Hương đã “tiếp tục xu hướng dân chủ hóa đồng thời chuyển nhanh trên con đường dân chủ hóa nội dung và hình thức thể loại” [14, tr 21]. Đặc biệt với tài năng độc đáo của mình “tài nữ quán cổ” đã khiến “thơ Đường luật trở thành một hình thức nghệ thuật bình dân, xa rời những hình thức ước lệ, tượng trưng, gò bó, đã làm cho những quy định của thể cách luật trở nên linh hoạt, biến hóa khôn lường. Từ cách ngắt nhịp, cách gieo vần đến nghệ thuật sắp chữ vốn download by : skknchat@gmail.com 17 vẫn là thao tác quen thuộc của thơ Đường luật, đã được Hồ Xuân Hương làm cho trở nên một nghệ thuật chơi chữ rất tài tình, lời đan ý vô cùng hiệu quả” [14, tr 75].
Vì thế thơ Nôm Đường luật đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu trong xã hội lúc bấy giờ. Cùng với Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan cũng là nữ tác giả có nhiều đóng góp vào quá trình dân chủ hóa nội dung và hình thức thơ Nôm Đường luật. Tuy chỉ có sáu bài thơ Đường luật, Bà huyện Thanh Quan cũng có một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học dân tộc. Nhờ những vần thơ của bà mà tâm hồn dân tộc Việt được thể hiện một cách tuyệt vời trong lối thơ trang nhã mang phong vị Đường thi rõ rệt.
Đến giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX, Nguyễn Khuyến, Tú Xương là hai tác giả đã chuyển thơ Nôm Đường luật từ văn học thời trung đại sang văn học thời cận – hiện đại. Với hơn năm chục bài luật thi và khoảng hai mươi bài luật tuyệt, Tú Xương tiếp tục lối thơ trào phúng được manh nha từ thời Nguyễn Trãi nhưng đã trở thành “bậc thầy của dòng thơ trào phúng Việt Nam” [14, tr 75]. Còn thơ Nôm Nguyễn Khuyến đã có sự thay đổi về ngôn ngữ, lối nói, cách diễn đạt,… Đặc biệt cụ Tam Nguyên Yên Đổ “đã kích thích để sự chặt chẽ, hoàn thiện của thể thơ Đường luật trở nên rộng rãi cởi mở. Ông đã thêm vào nội dung phản ánh của thể thơ này những tương quan mới mà trước đó các tác giả khác đã dùng như một quy ước” [14, tr 76].
Có thể nói cả hai nhà thơ đều đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trào phúng và trữ tình trong những vần thơ “cười ra nước mắt và hơn ai hết, họ để lại phong cách tác giả trong thơ Nôm Đường luật” (Lã Nhâm Thìn). Tóm lại trước thế kỉ XX, thơ Nôm Đường luật đã tồn tại và phát triển trong bảy thế kỉ. Với diện mạo “không có tuổi ấu thơ chập chững cũng như không có tuổi già” (chữ dùng của PGS- TS Lã Nhâm Thìn), thơ Nôm Đường luật đã “nảy nở những tài năng độc đáo, những tiền đề của phong cách cá nhân” [14, tr 70] đúng như “Tản Đà tiên sinh đã đánh giá: Thơ Nguyễn Khuyến phóng túng, thơ Tú Xương sâu sắc, thơ Bà Huyện Thanh Quan nền nếp, thơ Nguyễn Trãi trang download by : skknchat@gmail.com 18 trọng tao nhã, thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm và Nguyễn Công Trứ trăn trở trước nhân tình thế thái, thơ Tôn Thọ Tường vịnh sử hay, thơ Hồ Xuân Hương trào lộng châm biếm, tả tình hay…”[29]. Vì vậy thơ Nôm Đường luật đã tạo nên một dòng thơ mang đậm dấu ấn riêng của con người, đất nước, bản sắc văn hóa Việt Nam.
Thơ Nôm Đường luật ở nửa đầu thế kỉ XX. Bước sang đầu thế kỉ XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc. Từ Nam ra Bắc nhiều đô thị, thị trấn mọc lên cùng những trung tâm kinh tế, văn hóa, hành chính của xã hội thực dân. Ở đó, những giai cấp, tầng lớp xã hội mới như tiểu tư sản, tư sản, công nhân,… ngày càng xuất hiện đông đảo với nhu cầu và thị hiếu thẩm mĩ mới.
Văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn học Trung Quốc, mở rộng giao lưu tiếp xúc với văn hóa phương Tây mà chủ yếu là văn hóa Pháp. Luồng văn hóa mới này thông qua tầng lớp trí thức Tây học ngày càng thấm sâu vào ý thức và tâm hồn người cầm bút.