Trần Văn Hiệu: Luận văn Thạc sĩ về Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sâu về thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải nửa đầu thế kỷ XX, phân tích giá trị nghệ thuật, cảm hứng chủ đạo và đặc điểm ngôn ngữ.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2018

104
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Đối tượng và mục đích nghiên cứu

0.4. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Cấu trúc của luận văn

0.7. Đóng góp của luận văn

1. Chương 1: THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

1.1. Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX

1.1.1. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930

1.1.2. Giai đoạn từ 1930 – 1945

1.2. Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật

1.3. Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

1.4. Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX

2. Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

2.1. Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

2.2. Cảm hứng yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

2.3. Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

3. Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI

3.1. Đặc trưng nghệ thuật thơ Đường luật Việt Nam

3.1.1. Đặc trưng thể loại

3.2. Á Nam Trần Tuấn Khải và nghệ thuật thơ Đường luật

3.3. Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải và chữ Quốc ngữ

3.4. Đặc điểm ngôn ngữ thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

3.5. Đặc điểm thể loại trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan Thơ Đường luật Á Nam Giá trị Nghiên cứu

Thơ Đường luật là di sản văn học giá trị của Việt Nam. Trong bối cảnh văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX có nhiều biến động, Á Nam Trần Tuấn Khải vẫn kiên trì sáng tác thể thơ này, tạo nên một hiện tượng văn học đáng chú ý. Việc nghiên cứu thơ Đường luật Á Nam trong giai đoạn này là cần thiết để đánh giá đúng những đóng góp của ông vào lịch sử văn học. Mặc dù đương thời Á Nam được nhiều người biết đến, nhưng các công trình nghiên cứu về thơ văn của ông nói chung và thơ Đường luật nói riêng còn rất hạn chế. Các nghiên cứu đánh giá thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải nói chung còn khá mỏng, chưa tương xứng với những gì tác giả để lại.

1.1. Bối cảnh ra đời thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải

Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải ra đời trong bối cảnh giao thời, khi văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng của cả văn hóa phương Đông và phương Tây. Sự du nhập của chữ Quốc ngữ và các thể loại văn học mới đã tạo ra những thách thức cho sự tồn tại và phát triển của thơ Đường luật. Tuy nhiên, Á Nam vẫn kiên trì sáng tác thể thơ này, thể hiện tình yêu đối với văn hóa truyền thống và khả năng sáng tạo trong việc sử dụng thể thơ này để diễn tả những cảm xúc và suy nghĩ mới. Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, tuy không được nhiều người biết đến và đón nhận rầm rộ như những bài hát nói của ông, nhưng trong ngót 70 năm cầm bút, thời kỳ sáng tác được xem là sung sức nhất (những năm 20 đầu thế kỷ), cũng là thời kỳ ông sáng tác nhiều thơ Đường luật nhất.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thơ Đường luật Á Nam

Việc nghiên cứu thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá toàn diện sự nghiệp văn học của ông và đóng góp của ông vào lịch sử văn học Việt Nam. Nghiên cứu này cũng giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự vận động và phát triển của thể thơ Đường luật trong bối cảnh văn học hiện đại. Đặc biệt, đối với bộ phận thơ Đường luật của ông thì tình hình nghiên cứu càng hạn chế hơn. Cho đến nay chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu riêng về vấn đề này để đưa ra những đánh giá thỏa đáng và mang tính hệ thống.

II. Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu XX Bối cảnh Tác động

Nửa đầu thế kỷ XX, văn học Việt Nam chứng kiến sự giao thoa giữa các giá trị truyền thống và hiện đại. Thơ Đường luật dù không còn vị trí độc tôn, vẫn có sức sống mạnh mẽ. Môi trường văn hóa Hán vẫn ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ, trong đó có Á Nam Trần Tuấn Khải. Nghiên cứu cho thấy thơ Đường luật của Á Nam chịu ảnh hưởng từ các phong trào yêu nước và sự thức tỉnh dân tộc.

2.1. Bối cảnh văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX

Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX chứng kiến sự giao thoa mạnh mẽ giữa văn hóa phương Đông và phương Tây. Chữ Quốc ngữ dần thay thế chữ Hán, tạo ra một sự chuyển đổi lớn trong văn học. Các phong trào yêu nước cũng ảnh hưởng sâu sắc đến các tác phẩm văn học, khơi dậy lòng tự hào dân tộc và tinh thần đấu tranh chống ngoại xâm. Văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng phân hoá và ít nhiều đã có biến đổi về cả tư tưởng lẫn nghệ thuật. Các tác giả cuối cùng của văn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn tiếp tục sáng tác trong những năm đầu của thế kỉ mới nhưng với tâm trạng của kẻ lạc thời.

2.2. Ảnh hưởng của văn hóa Hán đến thơ Đường luật

Mặc dù chữ Quốc ngữ ngày càng phổ biến, văn hóa Hán vẫn có ảnh hưởng sâu sắc đến thơ Đường luật. Các nhà thơ vẫn sử dụng điển tích, điển cố và các hình ảnh quen thuộc trong văn hóa Hán để diễn tả những cảm xúc và suy nghĩ của mình. Tuy nhiên, họ cũng đồng thời tìm cách đổi mới và sáng tạo, đưa vào thơ Đường luật những yếu tố mới của thời đại. Những nhà Nho yêu nước, những người theo phái cũ đã không ngừng đấu tranh để gìn giữ những giá trị truyền thống của dân tộc trong đó có thể thơ từng giữ địa vị độc tôn trên thi đàn là thơ Đường luật.

III. Phong cách thơ Đường luật Á Nam Yêu nước Đổi mới

Thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải nổi bật với tinh thần yêu nước sâu sắc và sự đổi mới trong cách diễn đạt. Ông sử dụng thể thơ truyền thống để thể hiện những cảm xúc và suy nghĩ về thời cuộc, về đất nước và con người Việt Nam. Phong cách thơ Á Nam mang đậm tính dân tộc, gần gũi với đời sống và tâm tư của người dân.

3.1. Tinh thần yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam

Tình yêu nước là một trong những chủ đề chính trong thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải. Ông thể hiện tình yêu nước qua những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của quê hương, những bài thơ bày tỏ lòng xót xa trước cảnh đất nước bị xâm lược, và những bài thơ kêu gọi tinh thần đoàn kết và đấu tranh. Thơ văn của ông khiến người ta không khỏi gợi nhớ tới thơ văn của các nhà nho yêu nước trong văn học trung đại Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh., đó là quan niệm “Văn dĩ tải đạo”.

3.2. Sự đổi mới trong thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải

Bên cạnh việc kế thừa những giá trị truyền thống, Á Nam Trần Tuấn Khải cũng có những đổi mới trong thơ Đường luật. Ông sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống hàng ngày, và đưa vào thơ những hình ảnh và biểu tượng mới. Á Nam tỏ ra rất nhậy cảm về những đổi thay của thời cuộc, dẫn đến những đổi thay trong sáng tác, đặc biệt là đổi thay thị hiếu trong việc lựa chọn thể loại phù hợp với tư tưởng mới của thời đại.

3.3. Ảnh hưởng của Á Nam đến thơ ca Việt Nam hiện đại

Các sáng tác thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải góp phần không nhỏ tạo nên dòng chảy của văn học yêu nước Việt Nam giai đoạn này. Có thể nói rằng: yêu nước, thương giống nòi chính là tuyên ngôn nghệ thuật của thơ Á Nam Trần Tuấn Khải. Thơ ca của Á Nam vẫn sống mãi cùng với một nhân cách cao đẹp vẹn nguyên như thuở ban đầu.

IV. Phân tích Cảm hứng chủ đạo Thiên nhiên Thế sự Đời tư

Thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện nhiều cảm hứng chủ đạo, bao gồm cảm hứng về thiên nhiên, thế sự và đời tư. Những cảm hứng này được thể hiện qua những hình ảnh và biểu tượng giàu tính nghệ thuật, tạo nên một thế giới thơ phong phú và đa dạng.

4.1. Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải

Thiên nhiên là một trong những nguồn cảm hứng lớn nhất trong thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải. Ông miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam với tình yêu và sự trân trọng. Thiên nhiên hiện lên trong thơ Á Nam với những hình ảnh tươi đẹp, thanh bình và gần gũi. Không gian làng quê là một không gian gần gũi thân thuộc, nơi đó có gốc đa, sân đình, có ruộng lúa, nương dâu, con đò, có dòng sông bến nước, có non xanh nước bạc, và đó còn có hội hè, lễ tết và các phong tục tập quán thuần chất Việt Nam.

4.2. Cảm hứng thế sự và đời tư trong thơ Đường luật Á Nam

Bên cạnh thiên nhiên, Á Nam Trần Tuấn Khải cũng thể hiện những cảm xúc và suy nghĩ về thế sự và đời tư trong thơ Đường luật. Ông bày tỏ lòng yêu nước, sự lo lắng cho vận mệnh dân tộc, và những trăn trở về cuộc sống con người. Đó là coi văn học nghệ thuật cũng là một mặt trận, và trên mặt trận đặc biệt ấy, các nhà văn, nhà thơ chính là những chiến sĩ, trong tập Bút quan hoài Quyển thứ nhì có bài Nhắn bạn Tiên Long.

V. Nghệ thuật Thơ Đường luật Á Nam Ngôn ngữ Thể loại

Nghệ thuật thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ông sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống, đồng thời vẫn tuân thủ những quy tắc của thể thơ Đường luật. Điều này tạo nên một phong cách thơ độc đáo và dễ đi vào lòng người.

5.1. Đặc điểm ngôn ngữ trong thơ Đường luật của Á Nam

Đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải là sự giản dị, trong sáng và gần gũi với đời sống hàng ngày. Ông sử dụng nhiều từ ngữ thông dụng và các thành ngữ, tục ngữ quen thuộc trong dân gian. Tuy nhiên, ông cũng không quên sử dụng những từ ngữ Hán Việt để tạo nên sự trang trọng và uyển chuyển cho câu thơ. Thể thơ thất ngôn bát cú, có 01 bài: Vịnh anh thợ bừa. Bài thơ là một khúc ca về người lao động, là cái nhìn đầy nhân ái với người nông dân. Á Nam Trần Tuấn Khải viết về họ với một tình cảm đặc biệt quý mến.

5.2. Thể loại và thi pháp Đường luật trong thơ Á Nam

Á Nam Trần Tuấn Khải tuân thủ những quy tắc cơ bản của thể thơ Đường luật, bao gồm niêm, luật, vần và đối. Tuy nhiên, ông cũng có những sáng tạo trong việc sử dụng thể thơ này để diễn tả những cảm xúc và suy nghĩ mới. Ông đã tiếp nối truyền thống của thơ ca dân gian để đưa vào thơ ca những hình ảnh thiên nhiên tươi đẹp về non sông đất nước. Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhì (Trích), có 03 bài, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên, có 02 bài là bài: Mùa hè nhà quê và Thăm thú làm vườn.

VI. Kết luận Đánh giá Giá trị Thơ Đường luật Á Nam

Thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải là một phần quan trọng trong di sản văn học Việt Nam. Những đóng góp của ông vào việc phát triển và làm giàu thêm cho thể thơ này cần được ghi nhận và đánh giá cao. Nghiên cứu sâu hơn về thơ Á Nam sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.

6.1. Tổng kết những đóng góp của Á Nam cho thơ Đường luật

Á Nam Trần Tuấn Khải đã có những đóng góp quan trọng vào việc phát triển và làm giàu thêm cho thể thơ Đường luật Việt Nam. Ông đã sử dụng thể thơ này để diễn tả những cảm xúc và suy nghĩ về thời cuộc, về đất nước và con người Việt Nam, tạo nên một phong cách thơ độc đáo và dễ đi vào lòng người. Cùng viết về đề tài thiên nhiên, qua khảo sát, chúng tôi còn thấy trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), có 01 bài viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú: Ở nhà quê.

6.2. Giá trị văn học và ý nghĩa lịch sử của thơ Á Nam

Thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khảigiá trị văn họcý nghĩa lịch sử to lớn. Nó là một phần không thể thiếu trong bức tranh văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, và nó góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Các sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện một cách sâu sắc và chân thành tâm sự yêu nước, thương dân nên có sức chiến đấu mạnh mẽ (Tiễn chân anh khóa xuống tàu, Trường thán thi, Hai chữ nước nhà, Hỡi cô bán nước, bài thơ đề đầu cuốn “Hồn tự lập” tập II.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 1. Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930. Đây là chặng đường thể hiện rõ tính chất giao thời của hai phạm trù văn học.

Chặng đường này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ: Từ đầu thế kỉ XX đến 1920 và từ 1920 đến 1930. Từ đầu thế kỉ XX đến 1920. Vào đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản đã dẹp xong các cuộc nổi dậy chống Pháp của các sĩ phu yêu nước, thực dân Pháp ra sức củng cố sự thống trị của chúng trên đất nước ta và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa. Cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo hướng tư bản chủ nghĩa ở một nước thuộc địa.

Nền văn học cũng bước vào giai đoạn giao thời. Văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng phân hoá và ít nhiều đã có biến đổi về cả tư tưởng lẫn nghệ thuật. Các tác giả cuối cùng của văn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn tiếp tục sáng tác trong những năm đầu của thế kỉ mới nhưng với tâm trạng của kẻ lạc thời. Tam Nguyên Yên Đổ về ẩn dật tại làng quê, cam chịu cuộc sống nghèo túng, vắng vẻ, khước từ mọi sự dụ dỗ, đe doạ, bất hợp tác với giặc để giữ chữ “tiết” của nhà nho nhưng vẫn âm thầm mang nỗi đau của người dân mất nước trong những vần thơ tự trào.

Tú Xương đập thẳng vào cái nhăng nhố của xã hội bằng những vần thơ mang tiếng cười gằn chua chát. Một lớp nhà nho thức thời đã tìm đến tư tưởng dân chủ, khoa học của phương Tây và những nhà cải cách ở Trung Hoa qua những “tân thư”. Những phong trào yêu nước theo đường lối mới dấy download by : skknchat@gmail.com 10 lên mạnh mẽ như Duy Tân hội, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục. Văn chương trong tay họ lúc này đã thực sự trở thành một lợi khí để thức tỉnh quần chúng và tầng lớp trí thức nho học, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự cường và khát vọng canh tân đất nước.

Tuy vẫn sử dụng chữ Hán và các thể loại truyền thống là chủ yếu, nhưng bộ phận văn học này đã có sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng, về quan niệm văn chương và ở một số trường hợp sử dụng những thể loại và ngôn ngữ gần với quần chúng. Trong khu vực văn học hợp pháp cũng xuất hiện những yếu tố của nền văn học mới, vượt ra khỏi phạm vi của văn học trung đại. Ở Nam Bộ, chữ quốc ngữ đã được dùng phổ biến từ những thập kỉ cuối thế kỉ XIX (với sự xuất hiện của báo chí) và được sử dụng để sáng tác văn học. Sự xuất hiện của các tờ báo Đông Dương tạp chí, Nam phong và hàng loạt các tờ báo khác như Hữu thanh, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo,… Báo chí chính là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách sưu tầm câu văn xuôi, giới thiệu văn học Trung Quốc và văn học Pháp, quan trọng hơn, nó là nơi rèn bút của các nhà văn.

Tiểu thuyết sáng tác bằng chữ quốc ngữ xuất hiện sớm nhất là Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (in năm 1887). Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh với hàng chục gương mặt điển hình: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình Phú Đức, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiệp… Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ thời kì này còn mang khá nhiều yếu tố của văn xuôi trung đại nhưng cũng đã có nhiều nét mới về đề tài, đối tượng miêu tả (chủ yếu tập trung vào đời sống và con người Nam Bộ), về việc sử dụng ngôn ngữ (dùng thứ ngôn ngữ gần với tiếng nói thường ngày, mang đặc điểm phương ngữ Nam Bộ). Vào thập niên thứ hai, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ đã lan rộng ra miền Bắc cùng với sự xuất hiện của nhiều tờ báo và tạp chí ở đó. Thành tựu văn học nổi bật nhất trong chặng đường này là văn học cách mạng sản sinh trong các phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh nghĩa download by : skknchat@gmail.com 11 thục, Duy Tân… Các tác giả tiêu biểu cho dòng văn học cách mạng này là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng… Có thể nói, đây chính là sự tiếp nối dòng văn học yêu nước chống Pháp xâm lược ở nửa cuối thế kỉ XIX nhưng đã được nuôi dưỡng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi đầu thế kỉ XX.

Nội dung văn học yêu nước cách mạng thời kì này thể hiện tinh thần yêu nước sôi sục, khí phách anh hùng được soi sáng bởi tinh thần dân chủ, canh tân, lí tưởng và tầm nhìn rộng mở hơn, dồi dào cảm hứng lãng mạn. Tuy vậy, về mặt thể loại, ngôn ngữ, thi pháp… thì hầu như vẫn không có gì mới, vẫn vận động trong quán tính phạm trù văn học trung đại. Nhìn chung, văn học giai đoạn này đã có những biến chuyển đáng kể về mặt nội dung. Chịu sự chi phối bởi ý thức hệ tư sản, nội dung yêu nước trong văn học từ đầu thế kỉ cũng gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản.

Mặc dù thế, các tác giả vẫn chưa thực sự thoát khỏi quan niệm mỹ học thời phong kiến. Về mặt nghệ thuật, các tác phẩm vẫn nằm trong khuôn khổ thi pháp văn học trung đại. Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước kia. Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng.

Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật cũ. Các tác giả còn ít dùng chữ Quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ được lối văn biền ngẫu; thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy. Trường hợp những bài thơ bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến trong giai đoạn này. Sang những năm hai mươi của thế kỉ trước, diện mạo văn học nước nhà có những chuyển biến rõ rệt hơn theo hướng hiện đại.

Không chỉ đổi mới về mặt nội dung, văn học giai đoạn này còn có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt nghệ thuật và đạt được rất nhiều thành tựu. Nhiều tác phẩm có giá trị, nhiều tác giả thể hiện được tài năng và sức sáng tạo dồi dào của mình. download by : skknchat@gmail.com 12 Trong khu vực văn học hợp pháp, văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh cả ở Nam Bộ và miền Bắc. Hồ Biểu Chánh là cây bút tiêu biểu nhất Nam Bộ với hàng loạt các tiểu thuyết.

Tuy nội dung các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn đậm tính chất đạo lí và yếu tố nghệ thuật vẫn chưa thật hiện đại nhưng ông vẫn được xem là một trong những nhà văn khơi dòng cho khuynh hướng hiện thực trong văn học thời kì này. Truyện ngắn xuất hiện nhiều, tiêu biểu là tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học. Đặc biệt, năm 1925, tiểu thuyết Tố Tâm ra đời đã tạo ra một tiếng vang lớn trên diễn đàn và công chúng từ Bắc chí Nam. Tố Tâm được coi là cái mốc quan trọng trong sự hình thành tiểu thuyết tâm lí Việt Nam hiện đại.

Bên cạnh đó, phải kể đến một số tiểu thuyết khác như Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và nhiều tác phẩm khác của Đặng Trần Phất, Nguyễn Tử Siêu. Trong lĩnh vực thơ, khuynh hướng lãng mạn nảy nở khá phong phú gắn liền với một số tên tuổi như Đông Hồ, Tương Phố, Đoàn Như Khuê, đặc biệt là Tản Đà, Trần Tuấn Khải. Tản Đà – thi sĩ được coi là “viên gạch nối” hai thời đại thi ca, là “con người của hai thế kỉ”, có công lớn trong việc ươm mầm cho phong trào Thơ mới. Với hồn thơ lãng mạn, đa tình, cái tôi u sầu, không đánh mất cốt cách của một nhà nho nhưng nhiều khi vẫn phóng túng, tìm cách vượt lên chính mình, Tản Đà thể hiện sự bứt phá khỏi khuôn khổ nghệ thuật thi ca trung đại.

Trần Tuấn Khải xuất hiện với một phong cách khác. Ông luôn biểu lộ tình cảm với đất nước trong những điệu thơ đậm tính dân gian, dân tộc. Giai đoạn này cũng đã có sự xuất hiện của kịch nói hiện đại. Một số vở kịch gây được sự chú ý như: Chén thuốc độc, Toà án lương tâm (Vũ Đình Long), Ông Tây An Nam (Nam Xương), Bạn và vợ (Nguyễn Hữu Kim).

Đóng góp vào sự hình thành của nền văn học giai đoạn này phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động biên khảo, dịch thuật. Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những dịch giả tiêu biểu, có công lớn trong việc giới thiệu, dịch thuật nhiều tác phẩm văn học Pháp và những quan niệm văn chương của phương Tây, download by : skknchat@gmail.com 13 các thể loại tiểu thuyết, kịch nói. Các tiểu thuyết cổ điển của văn học Trung Quốc cũng được lựa chọn, dịch và giới thiệu khá nhiều ở Nam Bộ, nhất là những tiểu thuyết võ hiệp, tài tử, giai nhân. Xuất hiện một số công trình biên khảo khá công phu, nghiêm túc về văn học, văn hoá như công trình của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Ngọc.

Trong những năm này, bộ phận văn học cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản tuy không còn thật sôi nổi, mạnh mẽ nhưng vẫn tiếp tục phát triển, chủ yếu là thơ ca trong tù của các chí sĩ cách mạng. Nhiều tác phẩm xuất sắc như: Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Xăng Tê thi tập của Phan Châu Trinh. Đặc biệt là đóng góp của Nguyễn Ái Quốc với hàng loạt các sáng tác trong thời kì hoạt động ở Pháp (truyện ngắn, kí, kịch, tiểu phẩm, chính luận). Sáng tác của Nguyễn Ái Quốc trong thời kì này không chỉ đã mở ra một hướng đi mới gắn với tư tưởng cách mạng vô sản cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là một thành tựu nổi bật của văn học cách mạng, đồng thời là một đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam.

Có thể nói, ở chặng này, nền văn học đã tiến mạnh hơn trên con đường hiện đại hoá với nhiều thành tựu. Tuy nhiên, nhiều yếu tố của nền văn học cổ vẫn còn tồn tại.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ