Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 1. Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX. Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930. Đây là chặng đường thể hiện rõ tính chất giao thời của hai phạm trù văn học.
Chặng đường này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ: Từ đầu thế kỉ XX đến 1920 và từ 1920 đến 1930. Từ đầu thế kỉ XX đến 1920. Vào đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản đã dẹp xong các cuộc nổi dậy chống Pháp của các sĩ phu yêu nước, thực dân Pháp ra sức củng cố sự thống trị của chúng trên đất nước ta và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa. Cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo hướng tư bản chủ nghĩa ở một nước thuộc địa.
Nền văn học cũng bước vào giai đoạn giao thời. Văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng phân hoá và ít nhiều đã có biến đổi về cả tư tưởng lẫn nghệ thuật. Các tác giả cuối cùng của văn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn tiếp tục sáng tác trong những năm đầu của thế kỉ mới nhưng với tâm trạng của kẻ lạc thời. Tam Nguyên Yên Đổ về ẩn dật tại làng quê, cam chịu cuộc sống nghèo túng, vắng vẻ, khước từ mọi sự dụ dỗ, đe doạ, bất hợp tác với giặc để giữ chữ “tiết” của nhà nho nhưng vẫn âm thầm mang nỗi đau của người dân mất nước trong những vần thơ tự trào.
Tú Xương đập thẳng vào cái nhăng nhố của xã hội bằng những vần thơ mang tiếng cười gằn chua chát. Một lớp nhà nho thức thời đã tìm đến tư tưởng dân chủ, khoa học của phương Tây và những nhà cải cách ở Trung Hoa qua những “tân thư”. Những phong trào yêu nước theo đường lối mới dấy download by : skknchat@gmail.com 10 lên mạnh mẽ như Duy Tân hội, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục. Văn chương trong tay họ lúc này đã thực sự trở thành một lợi khí để thức tỉnh quần chúng và tầng lớp trí thức nho học, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự cường và khát vọng canh tân đất nước.
Tuy vẫn sử dụng chữ Hán và các thể loại truyền thống là chủ yếu, nhưng bộ phận văn học này đã có sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng, về quan niệm văn chương và ở một số trường hợp sử dụng những thể loại và ngôn ngữ gần với quần chúng. Trong khu vực văn học hợp pháp cũng xuất hiện những yếu tố của nền văn học mới, vượt ra khỏi phạm vi của văn học trung đại. Ở Nam Bộ, chữ quốc ngữ đã được dùng phổ biến từ những thập kỉ cuối thế kỉ XIX (với sự xuất hiện của báo chí) và được sử dụng để sáng tác văn học. Sự xuất hiện của các tờ báo Đông Dương tạp chí, Nam phong và hàng loạt các tờ báo khác như Hữu thanh, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo,… Báo chí chính là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách sưu tầm câu văn xuôi, giới thiệu văn học Trung Quốc và văn học Pháp, quan trọng hơn, nó là nơi rèn bút của các nhà văn.
Tiểu thuyết sáng tác bằng chữ quốc ngữ xuất hiện sớm nhất là Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (in năm 1887). Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh với hàng chục gương mặt điển hình: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình Phú Đức, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiệp… Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ thời kì này còn mang khá nhiều yếu tố của văn xuôi trung đại nhưng cũng đã có nhiều nét mới về đề tài, đối tượng miêu tả (chủ yếu tập trung vào đời sống và con người Nam Bộ), về việc sử dụng ngôn ngữ (dùng thứ ngôn ngữ gần với tiếng nói thường ngày, mang đặc điểm phương ngữ Nam Bộ). Vào thập niên thứ hai, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ đã lan rộng ra miền Bắc cùng với sự xuất hiện của nhiều tờ báo và tạp chí ở đó. Thành tựu văn học nổi bật nhất trong chặng đường này là văn học cách mạng sản sinh trong các phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh nghĩa download by : skknchat@gmail.com 11 thục, Duy Tân… Các tác giả tiêu biểu cho dòng văn học cách mạng này là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng… Có thể nói, đây chính là sự tiếp nối dòng văn học yêu nước chống Pháp xâm lược ở nửa cuối thế kỉ XIX nhưng đã được nuôi dưỡng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi đầu thế kỉ XX.
Nội dung văn học yêu nước cách mạng thời kì này thể hiện tinh thần yêu nước sôi sục, khí phách anh hùng được soi sáng bởi tinh thần dân chủ, canh tân, lí tưởng và tầm nhìn rộng mở hơn, dồi dào cảm hứng lãng mạn. Tuy vậy, về mặt thể loại, ngôn ngữ, thi pháp… thì hầu như vẫn không có gì mới, vẫn vận động trong quán tính phạm trù văn học trung đại. Nhìn chung, văn học giai đoạn này đã có những biến chuyển đáng kể về mặt nội dung. Chịu sự chi phối bởi ý thức hệ tư sản, nội dung yêu nước trong văn học từ đầu thế kỉ cũng gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản.
Mặc dù thế, các tác giả vẫn chưa thực sự thoát khỏi quan niệm mỹ học thời phong kiến. Về mặt nghệ thuật, các tác phẩm vẫn nằm trong khuôn khổ thi pháp văn học trung đại. Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước kia. Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng.
Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật cũ. Các tác giả còn ít dùng chữ Quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ được lối văn biền ngẫu; thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy. Trường hợp những bài thơ bị pha trộn một vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến trong giai đoạn này. Sang những năm hai mươi của thế kỉ trước, diện mạo văn học nước nhà có những chuyển biến rõ rệt hơn theo hướng hiện đại.
Không chỉ đổi mới về mặt nội dung, văn học giai đoạn này còn có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt nghệ thuật và đạt được rất nhiều thành tựu. Nhiều tác phẩm có giá trị, nhiều tác giả thể hiện được tài năng và sức sáng tạo dồi dào của mình. download by : skknchat@gmail.com 12 Trong khu vực văn học hợp pháp, văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh cả ở Nam Bộ và miền Bắc. Hồ Biểu Chánh là cây bút tiêu biểu nhất Nam Bộ với hàng loạt các tiểu thuyết.
Tuy nội dung các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn đậm tính chất đạo lí và yếu tố nghệ thuật vẫn chưa thật hiện đại nhưng ông vẫn được xem là một trong những nhà văn khơi dòng cho khuynh hướng hiện thực trong văn học thời kì này. Truyện ngắn xuất hiện nhiều, tiêu biểu là tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học. Đặc biệt, năm 1925, tiểu thuyết Tố Tâm ra đời đã tạo ra một tiếng vang lớn trên diễn đàn và công chúng từ Bắc chí Nam. Tố Tâm được coi là cái mốc quan trọng trong sự hình thành tiểu thuyết tâm lí Việt Nam hiện đại.
Bên cạnh đó, phải kể đến một số tiểu thuyết khác như Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và nhiều tác phẩm khác của Đặng Trần Phất, Nguyễn Tử Siêu. Trong lĩnh vực thơ, khuynh hướng lãng mạn nảy nở khá phong phú gắn liền với một số tên tuổi như Đông Hồ, Tương Phố, Đoàn Như Khuê, đặc biệt là Tản Đà, Trần Tuấn Khải. Tản Đà – thi sĩ được coi là “viên gạch nối” hai thời đại thi ca, là “con người của hai thế kỉ”, có công lớn trong việc ươm mầm cho phong trào Thơ mới. Với hồn thơ lãng mạn, đa tình, cái tôi u sầu, không đánh mất cốt cách của một nhà nho nhưng nhiều khi vẫn phóng túng, tìm cách vượt lên chính mình, Tản Đà thể hiện sự bứt phá khỏi khuôn khổ nghệ thuật thi ca trung đại.
Trần Tuấn Khải xuất hiện với một phong cách khác. Ông luôn biểu lộ tình cảm với đất nước trong những điệu thơ đậm tính dân gian, dân tộc. Giai đoạn này cũng đã có sự xuất hiện của kịch nói hiện đại. Một số vở kịch gây được sự chú ý như: Chén thuốc độc, Toà án lương tâm (Vũ Đình Long), Ông Tây An Nam (Nam Xương), Bạn và vợ (Nguyễn Hữu Kim).
Đóng góp vào sự hình thành của nền văn học giai đoạn này phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động biên khảo, dịch thuật. Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những dịch giả tiêu biểu, có công lớn trong việc giới thiệu, dịch thuật nhiều tác phẩm văn học Pháp và những quan niệm văn chương của phương Tây, download by : skknchat@gmail.com 13 các thể loại tiểu thuyết, kịch nói. Các tiểu thuyết cổ điển của văn học Trung Quốc cũng được lựa chọn, dịch và giới thiệu khá nhiều ở Nam Bộ, nhất là những tiểu thuyết võ hiệp, tài tử, giai nhân. Xuất hiện một số công trình biên khảo khá công phu, nghiêm túc về văn học, văn hoá như công trình của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Ngọc.
Trong những năm này, bộ phận văn học cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản tuy không còn thật sôi nổi, mạnh mẽ nhưng vẫn tiếp tục phát triển, chủ yếu là thơ ca trong tù của các chí sĩ cách mạng. Nhiều tác phẩm xuất sắc như: Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Xăng Tê thi tập của Phan Châu Trinh. Đặc biệt là đóng góp của Nguyễn Ái Quốc với hàng loạt các sáng tác trong thời kì hoạt động ở Pháp (truyện ngắn, kí, kịch, tiểu phẩm, chính luận). Sáng tác của Nguyễn Ái Quốc trong thời kì này không chỉ đã mở ra một hướng đi mới gắn với tư tưởng cách mạng vô sản cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là một thành tựu nổi bật của văn học cách mạng, đồng thời là một đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam.
Có thể nói, ở chặng này, nền văn học đã tiến mạnh hơn trên con đường hiện đại hoá với nhiều thành tựu. Tuy nhiên, nhiều yếu tố của nền văn học cổ vẫn còn tồn tại.