CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 1.1 Khái niệm năng lực Có rất nhiều định nghĩa về năng lực và khái niệm này đang thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà nghiên cứu: - Theo các nhà tâm lý học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó có hiệu quả cao[5]. - Trong một báo cáo nghiên cứu về năng lực và mức độ thành công trong kinh doanh, nhóm nghiên cứu của trường Đại học ngoại thương đã nêu rõ năng lực là tổng hợp các thuộc tính về khả năng, tâm lý và phẩm chất của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo đạt kết quả cao như đề ra[5]. Như vậy, tuy có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực nhưng tựu chung lại năng lực được coi là sự kết hợp của tư duy, kỹ năng và thái độ của một cá nhân hay một tổ chức để thực hiện một nhiệm vụ có hiệu quả.
Mức độ và chất lượng hoàn thành công việc sẽ phản ứng mức độ năng lực của người đó. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực Dạy học phát triển năng lực là quá trình thiết kế, tổ chức và phối hợp giữa hoạt động dạy và hoạt động học, tập trung vào kết quả đầu ra của quá trình này. Trong đó nhấn mạnh người học cần đạt được các mức năng lực như thế nào sau khi kết thúc một giai đoạn (hay một quá trình) dạy học. Dạy học phát triển năng lực về bản chất chỉ là cần và coi trọng thực hiện mục tiêu dạy học hiện tại ở các mức độ cao hơn, thông qua việc yêu cầu HS vận dụng những kiến thức, kỹ năng một cách tự tin, hiệu quả và thích hợp trong hoàn cảnh phức hợp và có biến đổi, trong học tập cả trong nhà trường, ngoài nhà trường và trong thực tiễn đời sống.
Việc dạy học thay vì chỉ dừng lại ở hướng tới mục tiêu dạy học kiến thức, kỹ năng và thái độ tích cực ở học sinh thì còn hướng tới mục tiêu xa 4 hơn đó là trên cơ sở kiến thức, kỹ năng được hình thành, phát triển năng lực thực hiện các hành động có ý nghĩa đối với người học. Nói một cách khác, việc dạy học định hướng năng lực về bản chất không thay thế mà chỉ mở rộng hoạt động dạy học hướng nội dung bằng cách tạo một môi trường, bối cảnh cụ thể để HS được thực hiện các hoạt động vận dụng kiến thức, sử dụng kỹ năng và thể hiện thái độ của mình. Khái niệm về năng lực chung Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi,… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động như: Năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán, năng lực giao tiếp, năng lực vận động,… Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống. Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO[4]: Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESCO Năng lực chuyên biệt Học để biết Năng lực phương pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để chung sống Năng lực cá thể Học để khẳng định Hình 1.
Mô hình bốn thành phần năng lực phù hợp với bốn trụ cột theo UNESCO 5 1. Các năng lực chuyên biệt của môn vật lý Trên cơ sở năng lực chung, người ta đưa ra các năng lực chuyên biệt (còn gọi là năng lực đặc thù) môn vật lý. Người ta sẽ dựa trên đặc thù về nội dung, phương pháp nhận thức và vai trò của môn học đối với thực tiễn để đưa ra hệ thống năng lực. Môn vật lý giúp hình thành các năng lực sau: - Năng lực giải quyết vấn đề - Năng lực hợp tác - Năng lực thực nghiệm - Năng lực quan sát - Năng lực tự học - Năng lực sáng tạo… Tuy nhiên việc hình thành, phát triển và đánh giá các năng lực này như một chỉnh thể là một việc làm hết sức khó khăn và đòi hỏi cần có thời gian.
Do đó, ta cần tiếp tục chia nhỏ các năng lực trên thành các năng lực thành phần. Sau đó chỉ ra các thao tác liên quan đến từ năng lực thành phần, mà các thao tác này có thể nhận biết được và đưa ra chỉ bảo rõ ràng về mức độ chất lượng của từng thao tác. Nói tóm lại, khi muốn đánh giá một năng lực ta cần làm rõ nội hàm năng lực đó bằng cách chỉ ra những kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có làm nền tảng cho việc thể hiện, phát triển năng lực đó, sau đó xây dựng các công cụ đo kiến thức, kĩ năng, thái độ quen thuộc. Ví dụ để đánh giá năng lực thực nghiệm, một trong các năng lực quan trọng của học sinh trong học tập vật lý, ta cần chỉ ra những thành tố làm nền tảng của năng lực thực nghiệm như sau[4].
Khi xây dựng các công cụ đánh giá, ta có thể xây dựng công cụ đánh giá từng thành tố hoặc động thời nhiều thành tố của năng lực, tuy nhiên để việc đánh giá được chính xác và độ tin cậy cao, ta đánh giá 6 * Bảng năng lực chuyên biệt môn vật lý Nhóm năng lực thành Năng lực thành phần trong môn vật lý phần HS có thể: - K1: Trình bày được kiến thức về các hiện tượng, đại lượng, định luật, nguyên lý vật lý cơ bản, các phép đo, các hằng số vật lý Nhóm NLPT liên quan - K2: Trình bày được mối quan hệ giữa các kiến thức đến sử dụng kiến thức vật vật lý lý - K3: Sử dụng được kiến thức vật lý để thực hiện các nhiệm vụ học tập - K4: Vận dụng (giải thích, dự đoán, tính toán, đề ra giải pháp, đánh giá giải pháp … ) kiến thức vật lý vào các tình huống thực tiễn HS có thể: - P1: Đặt ra những câu hỏi về một sự kiện vật lý - P2: mô tả được các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ vật lý và chỉ ra các quy luật vật lý trong hiện tượng đó - P3: Thu thập, đánh giá, lựa chọn và xử lý thông tin từ Nhóm NLTP về phương các nguồn khác nhau để giải quyết vấn đề trong học pháp (tập trung vào năng tập vật lý lực thực nghiệm và năng - P4: Vận dụng sự tương tự và các mô hình để xây lực mô hình hóa) dựng kiến thức vật lý - P5: Lựa chọn và sử dụng các công cụ toán học phù hợp trong học tập vật lý. - P6: chỉ ra được điều kiện lí tưởng của hiện tượng vật lý - P7: đề xuất được giả thuyết; suy ra các hệ quả có thể 7 kiểm tra được. - P8: xác định mục đích, đề xuất phương án, lắp ráp, tiến hành xử lí kết quả thí nghiệm và rút ra nhận xét. - P9: Biện luận tính đúng đắn của kết quả thí nghiệm và tính đúng đắn các kết luận được khái quát hóa từ kết quả thí nghiệm này.
HS có thể - X1: trao đổi kiến thức và ứng dụng vật lý bằng ngôn ngữ vật lý và các cách diễn tả đặc thù của vật lí - X2: phân biệt được những mô tả các hiện tượng tự nhiên bằng ngôn ngữ đời sống và ngôn ngữ vật lý (chuyên ngành ) - X3: lựa chọn, đánh giá được các nguồn thông tin khác nhau, - X4: mô tả được cấu tạo và nguyên tắc hoạt động của Nhóm NLTP trao đổi các thiết bị kĩ thuật, công nghệ thông tin - X5: Ghi lại được các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm… ) - X6: trình bày các kết quả từ các hoạt động học tập vật lí của mình (nghe giảng, tìm kiếm thông tin, thí nghiệm, làm việc nhóm… ) một cách phù hợp - X7: thảo luận được kết quả công việc của mình và những vấn đề liên quan dưới góc nhìn vật lý - X8: tham gia hoạt động nhóm trong học tập vật lý HS có thể Nhóm NLTP liên quan - C1: Xác định được trình độ hiện có về kiến thức, kĩ đến cá nhân năng , thái độ của cá nhân trong học tập vật lý - C2: Lập kế hoạch và thực hiện được kế hoạch, điều 8 chỉnh kế hoạch học tập vật lý nhằm nâng cao trình độ bản thân. - C3: chỉ ra được vai trò (cơ hội) và hạn chế của các quan điểm vật lý đối trong các trường hợp cụ thể trong môn Vật lý và ngoài môn Vật lý - C4: so sánh và đánh giá được - dưới khía cạnh vật lý - các giải pháp kĩ thuật khác nhau về mặt kinh tế, xã hội và môi trường - C5: sử dụng được kiến thức vật lý để đánh giá và cảnh báo mức độ an toàn của thí nghiệm, của các vấn đề trong cuộc sống và của các công nghệ hiện đại - C6: nhận ra được ảnh hưởng vật lý lên các mối quan hệ xã hội và lịch sử. Đặc trưng cơ bản của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực Một là, dạy học thông qua các tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập giúp học sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn.
Hai là, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác SGK và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm những kiến thức đã có, suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới,… Định hướng cho học sinh cách tư duy như: phân tích, tổng hợp, đặc biệt hóa, khái quát hóa, tương tự, quy lạ về quen để dần hình thành và phát triển tìm năng sáng tạo. Ba là, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở thành môi trường giao tiếp giữa GV – HS, HS – HS nhằm vận động sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung. 9 Bốn là, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học.