CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC CÓ HƯỚNG DẪN THEO MÔĐUN 1. Đổi m i nền giáo dụ đại h c 1. Xu hướng đổi mới nền giáo dục đại học ở nước ta Theo chiến lược phát triển giáo dục "Tự học, tự đào tạo là một con đường phát triển suốt đời của mỗi con người trong điều kiện kinh tế, x ã hội nước ta hiện nay và cả mai sau ; đó cũng là giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Ngày nay, giáo dục đại học đang có bước phát triển vượt bậc cả về chất lượng và số lượng.
Để đảm bảo chất lượng đào tạo, giáo dục đại học đang đổi mới theo xu hướng: - Hiện đại hoá nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo, chú trọng nâng cao năng lực thực hành cho sinh viên để họ thích ứng nhanh chóng với thị trường lao động. - Hệ thống đại học với hai chức năng đào tạo quan trọng như nhau là đào tạo ban đầu và đào tạo thường xuyên nhằm đảm bảo cho người lao động sau khi có học vấn đại học ban đầu luôn có nhu cầu và điều kiện cập nhật được với sự tiến bộ của khoa học và công nghệ, t đó đứng vững và phát triển được trong nền sản xuất hiện đại. - Thực hiện cuộc cách mạng về PPDH, chuyển hoá những thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ vào thực tiễn dạy học. Trong đó có sử dụng công nghệ môđun hoá nội dung dạy học, sử dụng những phương tiện kỹ thuật dạy học và tài liệu giáo khoa biên soạn theo môđun, chuyển sang hệ thống dạy học mới, hệ dạy học " tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn” Như vậy khi thực hiện đổi mới đào tạo đại học chúng ta chuyển sang đào tạo với những nội dung, phương pháp, phương tiện mà nền kinh tế thị trường đ i hỏi.
Trong điều kiện nền kinh tế nước ta c n kém phát triển, nguồn lực đầu tư cho giáo dục nói chung, cho giáo dục đại học nói riêng c n rất hạn hẹp muốn đáp ứng được yêu cầu của đất nước trong giai đoạn trước mắt và những năm tiếp theo cần có những chủ trương đúng đắn ở cấp quản lý v mô, đồng thời phải tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ và biện pháp tương ứng ở các trường một cách sâu sắc và cụ thể. Một số chủ trương đổi mới PPDH đại học * Đổi mới PPDH thực chất là một quá trình nâng cao hiệu quả của công việc dạy học, làm cho công tác này gắn bó, phục vụ tốt hơn và ngày càng cao hơn cho việc hình thành và phát triển các phẩm chất nhân cách của con người Việt Nam hiện đại và tương lai. T năm 1988 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra và tổ chức thực hiện một loạt chủ trương về đổi mới PPDH đại học.pha 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.pha Tập trung xây dựng hệ thống sách giáo khoa cho các trường đại học nhằm hiện đại hoá nội dung và phương pháp đào tạo. Làm sao cho sách giáo khoa là "người thầy" giúp đỡ SV tự học, tự nghiên cứu để chiếm l nh nội dung dạy học.
Cải tiến PPDH, dùng các phương pháp sư phạm tích cực để tăng tính tích cực, chủ động của SV. Đây là nét nhân cách rất cần thiết của SV khi đang học tập ở trường đại học cũng như khi họ bước vào đời sống sản xuất. * Các chủ trương trên đây đã được nhiều trường đại học hưởng ứng và thực hiện. Nhiều trường đã xây dựng lại chương trình đào tạo theo hướng môđun hoá kiến thức và đã viết được một số tài liệu giáo khoa mới phục vụ đào tạo.
Nhưng đó mới chỉ là những chuyển biến bước đầu, thực hiện đổi mới PPDH ở đại học trong những năm gần đây cho thấy: nếu thiết kế được những mô hình tốt về phương pháp và tổ chức huấn luyện chu đáo cho đội ngũ giảng viên, đảm bảo những điều kiện vật chất cần thiết thì những PPDH mới theo tiếp cận hướng vào người học (Leamer Centered Approach) s sớm trở thành phổ biến. Hoà nhập với hệ thống đại học, cao đẳng cả nước. Trường CĐCNCP cũng đang tiến hành những cải cách về nội dung và phương pháp đào tạo SV. Phương hướng đổi mới là: Khuyến khích và tạo điều kiện phát triển tư duy độc lập, sáng tạo của người học.
Luận văn với nội dung ứng dụng tiếp cận môđun để thiết kế lại nội dung dạy học học phần HĐC và tổ chức dạy học học phần này theo phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun cho SV trường CĐCN Cẩm Phả là góp phần thực hiện các chủ trương và biện pháp đổi mới PPDH đã nêu trên đây ở một l nh vực cụ thể. Cơ sở lý luậ ủ quá trì tự 1. Các hệ thống dạy học Ngày nay với sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự tăng trưởng mạnh m về kinh tế, sự biến đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường, sự giao lưu quốc tế rộng rãi đ i hỏi phải thiết kế được một hệ dạy học mềm dẻo, linh hoạt cho phép người học dễ thích nghi với cơ chế thị trường và có tính hiệu quả cao. Bản chất của hệ dạy học này là "tự học - cá thể hoá - có hướng dẫn".
Vai trò hướng dẫn chính ở đây là do tài liệu giáo khoa biên soạn theo môđun, các loại tài liệu tham khảo khác và các phương tiện kỹ thuật dạy học đảm nhiệm. Việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập được tiến hành cuối mỗi học phần. Mỗi SV s học theo tốc độ và nhịp độ riêng của cá nhân mình. GV là người tổ chức chính quá trình học tập của SV thông qua hoạt động thiết kế nội dung học tập, biên soạn tài liệu, kiểm tra đánh giá khi cần thiết.
Hệ dạy học cá thể hoá này tương ứng với nền giáo dục có qui mô lớn và có trình độ phát triển rất cao, với hệ thống ngành, chuyên ngành đào tạo phong phú, đa dạng và (LUAN.pha 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.pha luôn biến động, với những hình thức tổ chức đào tạo đa dạng và linh hoạt đáp ứng nhu cầu học tập của số đông người trong đào tạo ban đầu và đào tạo thường xuyên. Các phương tiện dạy học được sử dụng trong hệ thống dạy học này rất phong phú và hiện đại. Chúng tiếp nhận được những tiến bộ của khoa học và công nghệ thời đại. Nhưng điểm khác biệt căn bản giữa hai hệ thống dạy học cá thể hoá là ở chỗ: trong hệ thống cũ người học tập cá thể hoá theo nhịp độ riêng dưới sự dạy dỗ trực tiếp của thầy giáo, c n trong hệ thống dạy học mới người học tự học, theo chương trình riêng, với nhịp độ cá nhân phù hợp dưới sự giúp đỡ hướng dẫn trực tiếp của tài liệu là chủ yếu và của hệ thống người hướng dẫn khi cần thiết.
Cũng chính nhờ áp dụng phương pháp tự học có hướng dẫn theo môđun mà chất lượng và hiệu quả dạy học học phần HĐC được nâng cao. Các hình thức tổ chức dạy học ở bậc đại học Việc dạy học ở bậc đại học khác căn bản với dạy học ở trường phổ thông. Sự khác nhau này thể hiện ở cả mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học. Nội dung trí dục ở phổ thông là những kiến thức chung nhất cần thiết của người lao động.
Nội dung dạy học ở đại học là những kiến thức và kỹ năng tương ứng với những thành tựu hiện đại của khoa học và công nghệ. PPDH ở đại học khác căn bản và ở trình độ cao hơn nhiều so với PPDH ở phổ thông. Ở đại học SV phải lấy tự học, tự nghiên cứu là chính để đạt được mục tiêu đào tạo. Vì thế mọi ý đồ sử dụng những PPDH sẵn có ở trường phổ thông cho trường đại học nói chung là không hợp lý.
Những năm qua ở nước ta, người ta đã xây dựng và sử dụng một số hình thức tổ chức dạy học ở đại học như sau: - Bài giảng - Xêmina - Bài thực hành, bài tập lớn, luận văn tốt nghiệp - Tự học và phụ đạo. Ngày nay, chúng ta đã bước đầu triển khai đào tạo đại học theo hình thức tự học có hướng dẫn. Ở đây quá trình đào tạo được tiến hành rất mềm dẻo, linh hoạt. SV lấy tự học là chính, với sự hướng dẫn của GV và tài liệu họ có thể chiếm l nh được nội dung dạy học.
Với hình thức tự học có hướng dẫn thì phương pháp xêmina (c n gọi là thảo luận tổ) là phương pháp phù hợp và hiệu quả. Xêmina có một số đặc trưng cơ bản sau: - Phải có chủ đề khoa học nhất định để SV căn cứ vào đó mà trình bày báo cáo, thảo luận, tranh luận. - Phải có thầy hướng dẫn, điều khiển. Các nghiên cứu về tâm lí nhận thức đã phát hiện ra rằng trí nhớ bị tác động bởi việc chúng ta xử lí kiến thức mới đến mức độ nào.
Nếu đơn giản chỉ là nghe hoặc nhắc (LUAN.pha 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.pha lại một điều gì đó thì khó có thể nhớ lại những thông tin đó khi chúng ta cần sử dụng. Nếu chúng ta chuẩn bị kỹ lưỡng việc học tập bằng cách suy ngh về quan hệ giữa học tập với những cái mà chúng ta biết hoặc bằng cách nói về nó: giải thích, tóm tắt hoặc đặt câu hỏi thì chúng ta s khắc sâu hơn và có thể nhớ ra khi cần sử dụng sau này. Phương pháp xêmina đặc biệt thích hợp khi GV muốn làm những việc sau: - Giúp SV học cách suy ngh về những vấn đề của môn học bằng cách cho họ thực hành suy ngh. - Giúp SV đánh giá tính logic và quan điểm của người khác và của chính mình.
- Tạo cơ hội cho SV đưa ra những phương pháp áp dụng các nguyên tắc - Giúp SV nhận thức và phát biểu vấn đề, sử dụng thông tin t các bài đọc và bài giảng của GV. - Tạo động cơ để SV học lên cao hơn nữa. - Đưa ra phản hồi nhanh về sự hiểu hoặc hiểu sai của SV. Việc học tập s rất hiệu quả nếu được hướng dẫn đầy đủ để đảm bảo sự thành công.
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng việc hướng dẫn là rất hữu ích ở giai đoạn đầu của quá trình học tập và vì vậy, vai tr của người GV trong giai đoạn đầu quan trọng hơn là ở giai đoạn cuối.