CHƯƠNG 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG 1.1 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên và môi trường 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý: Huyện Cai Lậy có vị trí nằm về phía Tây của tỉnh Tiền Giang, sau khi thực hiện Nghị quyết 130/NQ-CP ngày 26 tháng 12 năm 2013. Địa bàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 29.690 nhân khẩu, vị trí địa lý của huyện được xác định như sau: * Về tọa độ địa lý: Kinh độ Đông: Từ 105024’87’’ đến 105045’54’’ Vĩ độ Bắc: Từ 10028’11’’ đến 10053’62’’ * Về ranh giới: Phía Đông: Giáp huyện Tân Phước, Thị xã Cai Lậy và huyện Châu Thành. Phía Tây: Giáp huyện Cái Bè.
Phía Nam: Giáp tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Bến Tre Phía Bắc: Giáp huyện Tân Thạnh tỉnh Long An. Huyện Cai Lậy nằm trong vùng kinh tế đô thị phía Tây của tỉnh Tiền Giang, là đầu mối giao thông thủy bộ quan trọng của khu vực các huyện phía Tây trong tỉnh như: Trục Quốc lộ 1 với chiều dài khoảng 9,6km đi ngang qua trung tâm huyện, đây là tuyến đường huyết mạch trong việc tiếp cận, giao lưu kinh tế văn hóa với các khu vực lân cận. Về đường thủy: Địa bàn huyện có tuyến Sông Tiền, sông Ba Rài (nối liền kênh Nguyễn Văn Tiếp với sông Tiền qua trục kênh 12), giữ vai trò kết nối khu vực Nam Đồng Tháp Mười với sông Tiền. Đồng thời còn là tuyến đường thủy quan trọng vận chuyển lúa gạo phục vụ công nghiệp xay xát - lau bóng trên địa bàn.
Hình 1 Vị trí huyện Cai Lậy trong vùng tỉnh Tiền Giang 1. Khí hậu Điều kiện khí hậu, thời tiết của huyện Cai Lậy mang các đặc điểm chung: Nền nhiệt cao, biên độ nhiệt ngày đêm nhỏ, khí hậu phân hóa thành 2 mùa tương phản (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 trùng với mùa gió Tây Nam và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 trùng với mùa gió Đông Bắc). Thủy văn, xâm nhập mặn Hệ thống kênh rạch trên địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đồng đều từ biển Đông qua sông Tiền và chịu ảnh hưởng lũ từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm. triều và lũ tác động đến hệ thống thủy văn trên địa bàn thông qua hệ thông các kênh rạch chằng chịt với các tuyến trục chính như sau: Sông Tiền: Đoạn chảy qua địa bàn huyện có chiều dài 23,8km, có cao trình đáy sông bình quân từ 6 - 16m, chiều rộng trung bình từ 600 - 1.800m và chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều từ biển Đông.
Lưu lượng nước thấp nhất vào mùa khô (tháng 4) vào khoảng 130-190m3/s và lưu lượng nước cao nhất vào mùa mưa (tháng 10) vào khoảng 2. Sông Năm Thôn: là nhánh rẽ của sông Tiền chia vùng đất phía Nam của huyện thành các cù lao với chiều dài 17,6km. Độ rộng từ 130-380m và có xu hướng rộng dần về phía Đông. Sông Ba Rài: đi qua địa bàn huyện theo hướng Bắc - Nam với chiều dài 11km.
Độ sâu trung bình 7m-8m, bề rộng trung bình 40m, nơi giáp sông Tiền có độ rộng 130m. Hệ thống các kênh: Bao gồm kênh Nguyễn Văn Tiếp, kênh Kháng Chiến, kênh Thanh Niên, kênh 10, kênh Chà Là, kênh Giồng Tre, kênh Lộ Mới, kênh Cả Gáo, kênh Bồi Tường,… là trục dẫn và tưới tiêu nước chính cho khu vực nội đồng. Địa hình, địa mạo, địa chất, ngập lụt * Địa hình Địa bàn huyện tương đối bằng phẳng, cao độ bình quân 0,9- 1,1m và không có hướng dốc rõ ràng. Có thể chia làm 3 dạng địa hình như sau: Địa hình thấp: Cao độ < 0,8m, diện tích khoảng 13.000 ha, chiếm 43% diện tích đất tự nhiên, tập trung khu vực phía Bắc (phần diện tích giữa kênh Nguyễn Văn Tiếp và QL.
Địa hình cao: Cao độ > 1m, với tổng diện tích trên 11.000 ha (chiếm 37% diện tích tự nhiên), phân bố ở khu vực đất cao ven sông Tiền hình thành do quá trình lên liếp, lập vườn, lập khu dân cư Địa hình trung bình: Cao độ từ 0,8m đến 1m, phân bổ ở khu vực phía Nam QL. Biến đổi khí hậu Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng dễ bị tác động nhiều nhất trên trái đất do biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tiền Giang cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng, dễ xảy ra các thiên tai: lũ lụt, bão, thủy triều cao, xâm nhập mặn. Ngoài ra việc xây dựng các đập thủy lợi, thủy điện của Trung Quốc, nhà máy thủy điện của Lào, Campuchia trên sông Mê Kông sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vùng hạ lưu sông Mê Kông và cộng đồng cư dân ở đây, các đập này tác động đến khu vực là làm lượng nước thượng nguồn về giảm dẫn đến mặn xâm nhập sâu vào nội đồng.
Những năm gần đây, do các tác động của việc biến đổi khí hậu toàn cầu, mưa nhiều hơn trong mùa khô với lượng mưa khá lớn, hiện tượng bão, lốc xoáy, áp thấp nhiệt đới ở khu vực phía Nam xảy ra thường xuyên, phức tạp và khó dự báo hơn, huyện Gò Công Đông do tiếp giáp với biển nên bị ảnh hưởng khá nhiều. Biến đổi khí hậu đang và sẽ ảnh hưởng mạnh đến sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Đã có hiện tượng “lũ mặn” đối với khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Lũ mặn là lũ do nước biển dâng, khi nguồn nước từ thượng nguồn sông Mekong bị hạn chế bởi hệ thống đập thì ở hạ nguồn thiếu nước, từ đó tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập mặn vào các tháng mùa kiệt theo các tuyến sông: sông Tiền, sông Vàm Cỏ Tây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và sinh hoạt của người dân các huyện phía Đông của tỉnh, trong đó có huyện Gò Công Đông.
Các nguồn tài nguyên 1. Tài nguyên đất Qua kết quả nghiên cứu cho thấy thổ nhưỡng trên địa bàn huyện Cai Lậy chủ yếu thuộc nhóm đất phù sa, thích nghi cho canh tác lúa và có thể lên liếp canh tác vườn, bao gồm các nhóm đất chính sau: * Nhóm đất phù sa ngọt Diện tích 23. Đất phù sa có ưu thế nổi trội là không có độc tố, pHKCL=4,5-5,5; giàu mùn: 1,80%-5,16%; đạm tổng số giàu: 0,12%-0,22%; lân tổng số trung bình: 0,06%- 0,12%; kali khá: 0,66%-1,59%. Đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp, đất giàu mùn, hàm lượng chất độc thấp, hàng năm được bồi đắp bởi một lượng phù sa từ nguồn nước sông Tiền và lũ Đồng Tháp Mười tràn về, thích hợp với nhiều loại cây trồng trong điều kiện ngập tự nhiên và kinh tế vườn trong điều kiện lên liếp.
* Nhóm đất cát Diện tích 331,75 ha, chiếm tỷ lệ 1,12% diện tích đất tự nhiên, phân bổ ở khu vực giồng cát Bình Phú, Phú An, Cẩm Sơn. Do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nguồn gốc đất cát biển đã phong hóa, tỷ lệ cát cao 80 - 90% nên đất có kết cấu rời rạc, khả năng giữ nước và phân hủy kém, chỉ thích hợp cho việc sử dụng làm thổ cư và canh tác cây ăn trái và rau màu. Hóa tính: Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong đất nghèo, mùn < 1%, đạm tổng số < 0,04%, lân tổng số 0,06%. Để canh tác có hiệu quả, cần bón nhiều phân hữu cơ và bón cân đối phân vô cơ ( N,P,K) thích hợp cho từng loại cây trồng.
* Nhóm đất phèn Diện tích 3.077,37 ha chiếm tỷ lệ 10,40% diện tích tự nhiên, phân bổ chủ yếu ở khu vực trũng thấp: dọc theo kinh Nguyễn Văn Tiếp thuộc các xã Phú Cường, Thạnh Lộc (Sp2) và các xã Mỹ Thành Nam, Phú Nhuận (Sj2). Đất có thành phần cơ giới nặng, giàu hữu cơ nhưng chưa phân hủy hết, lượng độc tố tương đối cao, độ sâu của tầng sinh phèn biến động từ 50-100 cm. Hóa tính: có pHKCL= 3,0 - 3,2 nhưng lại giàu mùn (6,8% - 15,5%); giàu đạm (0,21% - 0,60%); nghèo lân ( 0,01% - 0,02%) và nghèo Kali (0,7%). Song, do phần lớn diện tích đất chủ động được nước ngọt và rửa phèn hợp lý nên hàm lượng SO4 của tầng mặt đã giảm còn 0,2% do đó có thể trồng được 3 vụ lúa/năm.
Ngoài ra còn lại 2.469,90 ha đất sông, rạch chiếm tỷ lệ 8,34% tổng diện tích tự nhiên.2 Tài nguyên nước Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt trong khu vực huyện Cai Lậy trực tiếp phụ thuộc vào hai nguồn chính là: nước mưa và nước ngọt trên các tuyến sông, kênh rạch. Nước từ thượng nguồn đỗ về hệ thống sông Tiền và thông qua hệ thống kênh rạch chằn chịt cung cấp nước cho toàn bộ khu vực. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nước mặt đang ngày càng có chiều hướng xấu đi do ô nhiễm vi sinh, hóa chất thải ra từ sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi, nước thải sinh hoạt,… Nguồn nước ngầm: Theo khảo sát, nguồn nước ngầm trên địa bàn huyện có chất lượng khá tốt nhưng phải khai thác ở độ sâu từ 200m - 400m, thuộc tầng Pleistocen. Đây là nguồn nước ngọt quan trọng có chất lượng khá tốt và ổn định, góp phần bổ sung nguồn nước sạch cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân.
Tuy nhiên, nước ngầm là tài nguyên quý hiếm, để đảm bảo khai thác và sử dụng lâu dài theo hướng ổn định và bền vững, cần được quan tâm khai thác hợp lý nhằm bảo vệ lâu dài nguồn tài nguyên nước ngầm trên địa bàn huyện.3 Tài nguyên nhân văn Kế thừa và phát huy truyền thống của cha ông xưa, ngày nay Đảng bộ và nhân dân huyện Cai Lậy ra sức phấn đấu vươn lên tầm cao mới, khai thác những tiềm năng và thế mạnh của huyện thực hiện thắng lợi mục tiêu, quy hoạch đề ra. Thực trạng môi trường Môi trường có tầm quan trọng rất đặc biệt đối với đời sống con người và sinh vật, liên quan chặt chẽ không chỉ với các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn sự phát triển kinh tế - xã hội và sự tồn tại của con người. Theo các kết quả quan trắc, các chỉ số môi trường trên địa bàn huyện có thể tổng hợp như sau: Về môi trường nước mặt: Khu vực các kênh rạch ven sông Tiền bắt đầu bị nhiễm bẩn hữu cơ, ảnh hưởng đến tình hình phát triển dân cư, chăn nuôi và sử dụng phân bón vô cơ cho cây trồng ven sông rạch. Về môi trường không khí: nồng độ bụi và mức ồn do hoạt động giao thông còn thấp do mật độ dân cư thấp, tình trạng đô thị hóa và công nghiệp hóa trên địa bàn không cao.
Mật độ giao thông thấp. Tuy nhiên, tại một số đoạn đường nông thôn chưa bêtông hóa có hiện tượng gia tăng hàm lượng bụi trong không khí.