Tổng quan nghiên cứu

Dạy học tác phẩm văn học theo thể loại là nguyên tắc cốt lõi nhằm phát triển năng lực thẩm mỹ và cảm thụ nghệ thuật của học sinh phổ thông. Tuy nhiên, trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông hiện hành, thể loại kịch chỉ chiếm thời lượng vô cùng khiêm tốn với tổng cộng 6 tiết cho toàn bộ ba khối lớp, trong đó trích đoạn "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" thuộc Hồi V vở kịch Vũ Như Tô của tác giả Nguyễn Huy Tưởng chỉ được phân bổ 2 tiết giảng dạy tại học kỳ I lớp 11. Thực trạng tiếp nhận văn bản kịch hiện nay thường bị cô lập khỏi môi trường biểu diễn sân khấu, khiến học sinh chỉ tiếp cận tác phẩm như một văn bản tự sự thông thường, dẫn đến tình trạng học tập thụ động, thiếu cảm xúc và không nắm bắt được xung đột kịch tính.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm giải quyết điểm nghẽn phương pháp luận trên thông qua việc xây dựng quy trình thiết kế và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học trích đoạn "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài". Mục tiêu trọng tâm của đề tài là chuyển hóa tiến trình đọc hiểu văn bản từ tiếp nhận thụ động sang tương tác chủ động, gắn kết lý thuyết với thực hành biểu diễn và chiêm nghiệm chiều sâu triết lý nhân sinh. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào học sinh khối 11 ban khoa học cơ bản tại 6 trường Trung học phổ thông thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định trong năm học 2016-2017. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc nâng tỷ lệ học sinh hứng thú học tập kịch bản văn học từ mức dưới 30% lên trên 75%, đồng thời trang bị khung năng lực chuyên biệt gồm cảm thụ thẩm mỹ, giao tiếp ngôn ngữ và tư duy phản biện nghệ thuật cho người học.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp liên ngành giữa tâm lý học hoạt động, giáo dục học hiện đại và lý luận tiếp nhận văn học:

Thứ nhất, chu trình học tập qua trải nghiệm của David A. Kolb đóng vai trò mô hình điều phối tiến trình dạy học. Chu trình này vận hành qua 4 giai đoạn nối tiếp: Trải nghiệm cụ thể (tiếp xúc văn bản kịch qua đọc phân vai, xem tư liệu biểu diễn), Quan sát và phản hồi (phân tích hành động, ngôn ngữ nhân vật Đan Thiềm và Vũ Như Tô), Khái quát hóa tri thức (đúc kết triết lý về mối quan hệ giữa nghệ thuật siêu đẳng và đời sống nhân sinh), và Chủ động thử nghiệm (sân khấu hóa, giải quyết tình huống giả định).

Thứ hai, lý thuyết hoạt động và thuyết văn hóa lịch sử của Lev Vygotsky khẳng định nhân cách và năng lực cá nhân chỉ được hình thành thông qua hoạt động tự giác và tương tác xã hội. Quá trình học tập phải đặt học sinh vào vai trò chủ thể khám phá có sự định hướng sư phạm.

Thứ ba, thuyết đa trí tuệ của Howard Gardner và lý thuyết phát triển nhận thức của Jean Piaget cung cấp cơ sở để đa dạng hóa hình thức hoạt động, khơi dậy trí tuệ không gian, trí tuệ ngôn ngữ và trí tuệ tương tác cá nhân.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu bao gồm: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (hoạt động giáo dục có mục đích, người học trực tiếp tham gia tạo ra giá trị mới), Kịch bản văn học (phương diện ngôn từ của nghệ thuật sân khấu), Xung đột kịch (sự đối đầu gay gắt giữa khát vọng nghệ thuật vĩ đại và quyền lợi thiết thân của quần chúng lao động), và Năng lực cảm thụ kịch bản sân khấu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ khảo sát diện rộng kết hợp thực nghiệm sư phạm đối chứng:

Về quy mô mẫu khảo sát thực trạng, tác giả thu thập dữ liệu sơ cấp từ 60 giáo viên tổ môn Ngữ văn tại 6 trường Trung học phổ thông và 200 học sinh thuộc 6 lớp 11 của 3 trường Trung học phổ thông trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (gồm Trung học phổ thông Tống Văn Trân với 65 học sinh, Trung học phổ thông Mỹ Tho với 67 học sinh và Trung học phổ thông Lý Nhân Tông với 68 học sinh).

Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu cụm phân tầng ngẫu nhiên nhằm đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực trung tâm huyện lẫn các xã vùng ven, phản ánh chính xác tương quan trình độ giảng dạy và năng lực học sinh đại trà.

Phương pháp phân tích dữ liệu kết hợp thống kê mô tả tần số, tỷ lệ phần trăm và đối sánh định lượng kết quả bài kiểm tra đánh giá sản phẩm sáng tạo giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm lượng hóa chính xác sự chuyển biến về năng lực thực hành của học sinh, đồng thời loại trừ tối đa các sai số cảm tính trong đánh giá văn học. Toàn bộ lộ trình thu thập dữ liệu và triển khai thực nghiệm được tiến hành chặt chẽ trong khung thời gian từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 5 năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực trạng cho thấy những khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn giảng dạy thể loại kịch:

Thứ nhất, tồn tại sự sai lệch rõ rệt trong nhận thức về bản chất hoạt động trải nghiệm sáng tạo. Dữ liệu khảo sát chỉ ra có tới 31,7% giáo viên và 38,0% học sinh ngộ nhận hoạt động này chỉ đơn thuần là các chuyến tham quan dã ngoại ngoại khóa; 30,0% giáo viên xem đây là hoạt động ngoài giờ lên lớp thông thường. Chỉ có 18,3% giáo viên và 10,5% học sinh hiểu đúng bản chất đây là phương thức học tập tích cực mà học sinh trực tiếp làm chủ thể trải nghiệm kiến thức.

Thứ hai, mức độ sẵn sàng và nhu cầu học tập trải nghiệm của học sinh ở mức rất cao nhưng chưa được đáp ứng tương xứng. Có tới 75,0% học sinh bày tỏ thái độ tích cực khi tham gia trải nghiệm sáng tạo môn Văn (trong đó 30,0% rất hứng thú và 45,0% hứng thú), 62,0% học sinh khẳng định việc tổ chức hoạt động này là thực sự cần thiết. Tuy nhiên, có đến 68,3% giáo viên thừa nhận chỉ thỉnh thoảng hoặc hiếm khi tổ chức hoạt động do rào cản thời gian và áp lực kiểm tra định kỳ.

Thứ ba, cấu trúc lựa chọn hình thức tổ chức có sự ưu tiên rõ rệt cho nghệ thuật sân khấu. Khi được khảo sát về hình thức trải nghiệm kịch, 41,7% giáo viên lựa chọn sân khấu hóa tác phẩm văn học, 25,0% lựa chọn kỹ thuật đóng vai, 18,3% lựa chọn hoạt động giao lưu với nghệ sĩ và 15,0% lựa chọn hình thức diễn đàn trao đổi.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tích cho thấy việc giảng dạy đoạn trích "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" lâu nay rơi vào bế tắc do phương pháp thuyết giảng một chiều. Khi bị tách rời khỏi không gian sàn diễn, các chỉ dẫn sân khấu và hệ thống đối thoại đa thanh của Nguyễn Huy Tưởng bị biến thành các đoạn trích tĩnh, làm triệt tiêu tính hành động của nhân vật Vũ Như Tô và nỗi đau xé lòng của Đan Thiềm.

Dữ liệu khảo sát khi được trực quan hóa qua biểu đồ cột đối sánh sẽ phản ánh một nghịch lý sâu sắc: trong khi 75,0% người học khao khát được nhập vai và tương tác thì chỉ có 30,0% giáo viên tiến hành tổ chức thường xuyên. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc phân bổ quỹ thời gian 2 tiết quá eo hẹp trong phân phối chương trình, khiến 50,0% giáo viên gặp lúng túng trong khâu quản lý tiến trình và thiết lập tiêu chí đánh giá.

So sánh với các công trình nghiên cứu giảng dạy theo loại thể của các học giả chuyên ngành trước đây, việc ứng dụng quy trình 4 hình thức trải nghiệm sáng tạo (Đọc kịch bản diễn cảm, Xem băng hình sân khấu có định hướng, Sân khấu hóa tương tác trích đoạn và Tọa đàm nhân vật) mang lại bước đột phá thực sự. Kết quả thực nghiệm sư phạm chứng minh tỷ lệ học sinh đạt điểm giỏi về năng lực phân tích xung đột và sáng tạo tiểu phẩm ở lớp thực nghiệm đạt mức vượt trội so với lớp đối chứng truyền thống, khẳng định trải nghiệm sân khấu chính là chìa khóa tháo gỡ bi kịch tiếp nhận văn bản kịch trong nhà trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng dạy học kịch bản văn học nói chung và đoạn trích hồi V vở kịch Vũ Như Tô nói riêng, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình thiết kế bài dạy học trải nghiệm sáng tạo 4 pha theo chu trình Kolb. Giáo viên bộ môn Ngữ văn cần trực tiếp phân chia tiến trình 2 tiết học thành các chặng hoạt động: giao việc chuẩn bị kịch bản tại nhà, khởi động bằng đọc phân vai có chỉ dẫn hành động, phân tích giải mã xung đột qua video diễn xuất mẫu của Nhà hát Kịch Việt Nam, và tổ chức biểu diễn trích đoạn tại lớp. Mục tiêu định lượng hướng tới là đạt 100% học sinh tham gia trực tiếp vào ít nhất một khâu sản xuất tiểu phẩm trong học kỳ 1 năm học.

Thứ tư, xây dựng kho học liệu số đa phương tiện về kịch bản văn học Trung học phổ thông. Tổ chuyên môn Ngữ văn tại các trường cần chủ trì thu thập, cắt dựng tối thiểu 5 video trích đoạn sân khấu chuẩn mực, hồ sơ âm thanh tiếng động hậu trường và tư liệu lịch sử thời Lê Tương Dực. Thời hạn hoàn thành xây dựng kho học liệu trong vòng 6 tháng đầu năm học nhằm hỗ trợ học sinh hình dung trực quan bối cảnh Thăng Long thế kỷ XVI.

Thứ ba, tái cấu trúc công cụ kiểm tra và tiêu chí đánh giá năng lực học sinh. Ban giám hiệu và tổ chuyên môn cần ban hành bộ công cụ đánh giá Rubrics gồm 4 tiêu chí rõ ràng: kỹ năng nhập vai, mức độ thấu hiểu xung đột tư tưởng, năng lực cộng tác nhóm và sản phẩm sáng tạo (kịch bản chuyển thể hoặc bài thu hoạch cảm thụ). Tỷ trọng điểm đánh giá quá trình hoạt động trải nghiệm cần chiếm tối thiểu 30% tổng điểm kiểm tra thường xuyên của học môn Ngữ văn.

Thứ hai, tổ chức các khóa tập huấn chuyên đề cấp cụm trường về kỹ thuật sân khấu tương tác. Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các trường Đại học Sư phạm định kỳ tổ chức 1 chuyên đề chuyên sâu mỗi học kỳ, nhằm trang bị cho 100% giáo viên giảng dạy khối 11 kỹ năng đạo diễn cơ bản, kỹ thuật tổ chức diễn đàn tranh biện và phương pháp quản lý lớp học trải nghiệm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng trong hệ sinh thái giáo dục:

Thứ nhất, giáo viên Ngữ văn cấp Trung học phổ thông trực tiếp sử dụng hệ thống giáo án thực nghiệm mẫu, các phiếu học tập trải nghiệm và kịch bản phân vai trích đoạn "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" để áp dụng linh hoạt vào các tiết dạy trên lớp hoặc các chuyên đề ngoại khóa văn học.

Thứ hai, cán bộ quản lý giáo dục và tổ trưởng chuyên môn các trường Trung học phổ thông khai thác bộ công cụ khảo sát thực trạng, khung ma trận đánh giá năng lực theo định hướng đổi mới phương pháp để xây dựng kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn định kỳ cho giáo viên trong tổ.

Thứ ba, sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Ngữ văn sử dụng công trình như một tài liệu tham khảo chuẩn mực về cách vận dụng lý thuyết học tập trải nghiệm của David Kolb và thuyết đa trí tuệ vào thiết kế bài học cụ thể theo đặc trưng thể loại kịch.

Thứ tư, các chuyên gia biên soạn chương trình và tác giả sách giáo khoa Ngữ văn tham khảo các minh chứng thực nghiệm định lượng từ 6 trường phổ thông để điều chỉnh thời lượng, thiết kế các câu hỏi bài tập trải nghiệm phù hợp hơn trong các bộ sách giáo khoa mới.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao trích đoạn "Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài" bắt buộc phải dạy học qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo? Bản chất của kịch là nghệ thuật tổng hợp gắn liền với sàn diễn. Trích đoạn chứa đựng xung đột đỉnh điểm giữa nghệ thuật thuần túy và đời sống nhân dân với 9 lớp kịch dồn dập. Nếu chỉ đọc văn bản đơn thuần, học sinh không thể cảm nhận được nhịp điệu hành động và nỗi bi phẫn của nhân vật Vũ Như Tô khi đài Cửu Trùng bị thiêu rụi.

  2. Quỹ thời gian 2 tiết trên lớp có đủ để triển khai các hoạt động trải nghiệm sân khấu hóa không? Hoàn toàn khả thi nếu giáo viên áp dụng mô hình lớp học đảo ngược. Học sinh được chia nhóm chuẩn bị kịch bản, trang phục và tập dượt lời thoại từ trước ở nhà. Thời lượng 90 phút trên lớp được tối ưu hóa cho 15 phút khởi động đọc diễn cảm, 40 phút phân tích thảo luận xung đột và 35 phút trình diễn tiểu phẩm kết hợp đánh giá nhận xét.

  3. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có làm phân tán kiến thức trọng tâm phục vụ thi cử của học sinh không? Không làm phân tán mà ngược lại giúp củng cố kiến thức sâu sắc hơn. Dữ liệu thực nghiệm chứng minh học sinh được trải nghiệm nhập vai hiểu rất sâu lý do bế tắc của Vũ Như Tô và vẻ đẹp của Đan Thiềm, từ đó đạt điểm số phân tích nhân vật và bình luận triết lý cao hơn 15% đến 20% so với học sinh học vẹt lý thuyết.

  4. Tiêu chí nào giúp giáo viên đánh giá công bằng sản phẩm trải nghiệm của từng học sinh trong nhóm? Giáo viên sử dụng bảng Rubrics định lượng chi tiết gồm 4 mức độ cho 3 cấu phần: điểm chuẩn bị kịch bản cá nhân, điểm kỹ năng diễn xuất phối hợp nhóm trên sân khấu và điểm bài thu hoạch tự chiêm nghiệm sau tiết học, đảm bảo phản ánh chính xác đóng góp của từng cá nhân.

  5. Cần xử lý thế nào khi một bộ phận học sinh rụt rè, không có năng khiếu diễn xuất kịch? Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động đa dạng hóa vai trò. Những học sinh không trực tiếp đóng vai nhân vật chính có thể lựa chọn các nhiệm vụ phù hợp với năng lực cá nhân như: viết kịch bản phân cảnh, làm đạo cụ sân khấu, chọn âm thanh ánh sáng, hoặc tham gia ban giám khảo phản biện tình huống kịch.

Kết luận

Nghiên cứu đã giải quyết trọn vẹn mục tiêu lý luận và thực tiễn trong việc đổi mới phương pháp dạy học trích đoạn kịch bản văn học lớp 11:

  • Hệ thống hóa cơ sở khoa học liên ngành vững chắc, tích hợp thành công chu trình trải nghiệm 4 giai đoạn của David Kolb vào đặc thù tiếp nhận văn bản kịch.
  • Phân tích bức tranh thực tiễn chi tiết từ khảo sát 60 giáo viên và 200 học sinh, chỉ rõ điểm nghẽn nhận thức và khẳng định nhu cầu trải nghiệm cấp thiết của người học.
  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống 4 quy trình tổ chức trải nghiệm sáng tạo linh hoạt bám sát xung đột kịch tính của hồi V tác phẩm Vũ Như Tô.
  • Thực nghiệm sư phạm minh chứng tính khả thi vượt trội, nâng cao rõ rệt năng lực cảm thụ thẩm mỹ và kỹ năng hợp tác sáng tạo của học sinh Trung học phổ thông.
  • Đóng góp mô hình sư phạm mẫu có khả năng chuyển giao và nhân rộng cho các văn bản kịch khác trong toàn bộ chương trình Ngữ văn phổ thông.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã thiết lập cầu nối vững chắc đưa kịch bản văn học trở về đúng bản thể sân khấu sinh động trong môi trường giáo dục phổ thông. Lộ trình tiếp theo trong 12 đến 24 tháng tới cần mở rộng quy mô thực nghiệm sang các tác phẩm chính kịch và hài kịch khác. Các cơ sở giáo dục và quý thầy cô hãy chủ động vận dụng khung quy trình trải nghiệm sáng tạo này nhằm biến mỗi giờ học Ngữ văn thành một không gian nghệ thuật truyền cảm hứng cho học sinh.