Đặt vấn đề Tình trạng ngộ độc thực phẩm hiện đang là vấn đề đáng quan tâm của xã hội bởi ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thậm chí đe dọa tính mạng của con người. Tình trạng này đang lan rộng khắp Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung, và ngày càng khó kiểm soát vì hầu hết các loại thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu con người hằng ngày đều bị ảnh hưởng: từ sản phẩm chăn nuôi đến sản phẩm trồng trọt và cả sản phẩm từ thủy hải sản. Có 2 lý do chính dẫn đến sự ngộ độc thực phẩm. Thứ nhất do thực phẩm không được chế biến đúng cách và đảm bảo yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm.
Thứ hai là do mầm bệnh vốn có trong thực phẩm. Để khắc phục lý do thứ nhất, Nhà nước đã ban hành những quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm và pháp chế buộc người chế biến thực phẩm phải tuân theo. Lý do thứ hai đang tồn tại như một thách thức đối với con người trong cuộc chiến sinh tồn giữa con người với thiên nhiên. Muốn khắc phục chỉ có một cách duy nhất là không ngừng nghiên cứu vì những mầm bệnh đó có tính biến dị luôn luôn thay đổi từng ngày với muôn hình vạn trạng rất khó kiểm soát.
Ở đây, ngộ độc thực phẩm từ các loại rau đang được quan tâm rất sâu sắc vì rau là nguồn thực phẩm rất tốt cho sức khỏe con người. Trong rau có đầy đủ các loại acid amin và vitamin cần thiết cho con người. Ngoại trừ tác dụng tốt cho sức khỏe, rau còn có tác dụng phòng và chữa bệnh rất tốt. Một bữa ăn muốn đủ chất không thể không có rau.
Được biết hiện nay thủy canh là phương pháp canh tác nhằm sản xuất ra các loại cây trồng sạch bệnh trong đó rau là chủ yếu. Bên cạnh đó, rau xà lách có rất nhiều tác dụng dược lý và là loại rau ăn rất phổ biến. Vì vậy, đề tài được tiến hành nghiên cứu và thực hiện mang tên: NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ HỆ THỐNG THỦY CANH HỒI LƯU VÀ TRỒNG THỬ NGHIỆM TRÊN CÂY XÀ LÁCH (Lactuca sativa L.5 Mục đích – yêu cầu 1.1 Mục đích Nghiên cứu thiết kế hệ thống thủy canh hồi lưu qui mô hộ gia đình Khảo sát ảnh hưởng của giá thể và chu kỳ cung cấp dinh dưỡng đến sự sinh trưởng của cây xà lách 1.2 Yêu cầu Theo dõi hoạt động của hệ thống thủy canh hồi lưu. Tính lượng dung dịch tiêu hao và lượng dung dịch còn lại sau khi thu hoạch Theo dõi quá trình sinh trưởng của cây xà lách dưới sự ảnh hưởng của giá thể trồng và chế độ cung cấp dinh dưỡng 1.6 Ý nghĩa Chế tạo được hệ thống trồng rau an toàn với qui mô hộ gia đình.
Từ đó có thể tự trồng các loại cây rau, củ, quả sạch bệnh tại nhà vừa an toàn lại vừa tiết kiệm Nghiên cứu được điều kiện tối ưu trồng cây xà lách cho năng suất cao trên hệ thống thủy canh hồi lưu 2 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tổng quan về rau xà lách (Lactuca sativa L.1 Phân loại Họ: Asteraceae Giống: Lactuca Loài: sativa Tên tiếng Anh: Lettuce Tên tiếng Việt: Rau xà lách Hình 2.2 Nguồn gốc Rất nhiều cây rau thông thường, thuộc nhiều loài thực vật khác nhau, được gọi chung dưới tên xà lách. Ngay tên gọi của xà lách (Lettuce) trong sách vở Anh Mỹ cũng bao gồm nhiều cây rau hình dáng khác nhau. Tên xà lách hiện dùng để chỉ nhóm rau thuộc gia đình Lactuca, họ Thực vật Asteraceae. Những cây rau xà lách khác được gọi chung là Salad Greens bao gồm các cây rau như Arugula, Belgian endive, Chicory, Chard, Escarole.
Tên thực vật Lactuca phát xuất từ tiếng la-tinh, “lac” nghĩa là “sữa” do chất nhựa đục như sữa tiết ra từ thân cây rau. sativa là ở sự kiện cây rau đã được trồng từ rất lâu đời. Tên Anh “lettuce” do từ tiếng la-tinh mà ra. Tên gọi tại các nơi : Laitue cultivée (Pháp), Lattich (Đức), Latouw (Hoà Lan), Salat (Đan mạch), Lattuga (Ý), Lechuga (Tây ban Nha).
Vì chất “sữa” trong rau xà lách được cho là có tính kích dục (aphrodisiac) nên người Ai-cập đã dùng rau xà lách để dâng cho Thần Min (coi sóc việc phì nhiêu, sanh đẻ nhiều). Cây xà lách hoang dại (Lactuca serriola) có lẽ phát xuất từ quanh vùng Địa trung Hải, và đã là một cây rau ăn từ thời Cổ đại. Xà lách thuộc chung gia đình thực vật với các cây Cúc và Gai sữa, những dạng cây khởi đầu có cọng dài 3 và lá to. Cây xuất hiện trong những khu vườn tại La Mã và Hy lạp từ khoảng 500 năm trước thời Ki-Tô giáo, nhưng lúc đó được xem là món sang trọng dành cho ngày lễ hội, hay cho giới quý tộc.
Antonius Musa, y sĩ riêng của Hoàng Đế Augustus, đã biên toa dùng xà lách làm thuốc bổ dưỡng. Hoàng đế Domitian đã sáng chế ra nước sốt trộn xà lách (salad dressing), và nó đã trở thành món ăn “hors d'oeuvre” thông dụng. Sau đó, Horace ghi chép rằng “muốn thành một bàn tiệc cho đúng nghĩa, bắt buộc phài có món xà lách hay củ cải (radish) để khai vị”. Tại Trung Đông, các nhà Vua Ba tư đã biết dùng xà lách từ 550 BC Columbus đã đưa hạt giống cây xà lách đến Châu Mỹ vào năm 1493 và cây rau đã phát triển nhanh chóng ngay từ năm 1494 tại Bahamas, đến 1565 cây trở thành loại rau thông dụng nhất tại Haiti và cây đến Ba Tây từ 1610.
Tại Hoa Kỳ, cây rau xà lách cũng theo chân các tay thực dân và đến 1806 đã có đến 16 loài xà lách được trồng tại các nhà vườn Mỹ, để sau đó trở thành loại cây hoa màu đáng giá nhất và 85 % sản lượng tại Mỹ là do vùng phía Tây cung cấp : California, Arizona, Colorado, Washington, Oregon và Idaho. Nhiều chủng loại sau đó đã được lai tạo, cho những cây rau hình dáng thay đổi, từ lá úp lại như bắp cải đến lá xoăn, lá mọc dài. Xà lách được xếp thành 5 nhóm thông dụng gồm : Crisphead (Iceberg); Butterhead (Boston, Bibb), Cos (Romaine), Lá (Bunching) và Cọng (Celtuce) 2.3 Thành phần hóa học Trong lá xà lách có những enzyme như : Lettucine, thuộc loại protease có những hoạt tính loại trypsine, ly giải casein Succinic semialdehyde dehydrogenase (SSADH) Ngoài ra còn có : Lactucarium, đây là một hổn hợp chứa một lactone loại ssesquiterpen: lactucin (0.2%), một tinh dầu bay hơi, caoutchouc, mannitol và lactucerol (taraxa sterol). Trong nhựa còn có lactucerin là chất chuyển hóa acetyl của taraxasterol Chlorophyll, Asparagin 4 2.4 Thành phần dinh dưỡng Bảng 2.1 Thành phần dinh dưỡng của xà lách Iceberg Bibb/Boston Leaf Romaine Celtuce Calories 13 13 18 16 22 Chất đạm 1,01 g 1,29 g 1,30 g 1,62 g 0,85 g Chất béo 0,19 g 0,22 g 0,30 g 0,20 g 0,30 g Chất sơ 0,53 g n/a 0,70 g 0,70 g 0,40 g Calcium 19 mg n/a 68 mg 36 mg 39 mg Sắt 0,50 mg 0,30 mg 1,40 mg 1,10 mg 0,55 mg Magnesium 9 mg n/a 11 mg 6 mg 28 mg Phosphorus 20 mg n/a 25 mg 45 mg 39 mg Potassium 158 mg 257 mg 264 mg 290 mg 330 mg Sodium 9 mg 5 mg 9 mg 8 mg 11 mg Kẽm 0,22 mg 0,17 mg n/a n/a n/a Đồng 0,028 mg 0,023 mg n/a n/a n/a Manganese 0,151 mg 0,133 mg Beta-carotene (A) 330 IU 970 IU 1900 IU 2600IU 3500 IU Thiamine (B1) 0,046 mg 0,060 mg 0,05 mg 0,1 mg 0,055 mg Riboflavine (B2 0,030 mg 0,060 mg 0,08 mg 0,1 mg 0,075 mg Niacin (B3) 0,187 mg 0,3 mg 0,4 mg 0,5 mg 0,4 mg Pantothenic acid 0,046 mg n/a 0,2 mg n/a n/a Pyridoxine 0,04 mg n/a n/a n/a n/a Folic acid 56 mcg 73,3 mcg 135,7 mcg n/a Ascorbic acic (C) 3,9 mg 8 mg 18 mg 24 mg 19,5 mg Nguồn: http://www.5 Một số đặc tính dược học: Chất nhựa trắng lấy từ các cây xà lách hoang và cây xà lách trứng , còn được gọi là Lettuce opium.
Gần đây trên thị trường “Health Food” , lettuce opium được quảng cáo là có tác dụng “kích thích”, thay thế được ma túy có thể dùng “hút” riêng hay phối hợp với cần sa để tăng thêm độ “phê”! Một số thành phẩm như Lettucine, Black Gold, Lettucene, Lettuce Hash, Lopium có chứa các chất chuyển hóa từ xà lách, phần chính là Lactucarium, phương thức sử dụng là hút bằng ống vố hay bằng điếu bát (kiểu hút thuốc lào), thường cần phải “nuốt hơi” có thể có một số ảo giác nhẹ loại hallucinogic. Tuy nhiên các nghiên cứu dược học chưa chứng minh được hoạt tính này, tuy lactucin và lactucopicrin có những tác dụng gây trầm cảm và trấn an thần kinh trung ương, nhưng các chất này đều ít ổn định và có rất ít hay hầu như không có trong các chế phẩm kể trên.2 Tổng quan về tình hình sản xuất và tiêu thụ rau tại Việt Nam 2.1 Xu hướng phát triển sản xuất rau Việt Nam Trong thời gian qua, nhất là kể từ đầu thập kỷ 90, diện tích rau, quả của Việt Nam phát triển nhanh chóng và ngày càng có tính chuyên canh cao. Tính đến năm 2004, tổng diện tích trồng rau, đậu trên cả nước đạt trên 600 nghìn ha, gấp hơn 3 lần so với năm 1991. Đồng bằng sông Hồng là vùng sản xuất lớn nhất, chiếm khoảng 29% sản lượng rau toàn quốc.
Điều này là do đất đai ở vùng Đồng bằng sông Hồng tốt hơn, khí hậu mát hơn và gần thị trường Hà Nội. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trồng rau lớn thứ 2 của cả nước, chiếm 23% sản lượng rau của cả nước. Đà Lạt, thuộc Tây Nguyên, cũng là vùng chuyên canh sản xuất rau cho xuất khẩu và cho nhu cầu tiêu thụ thành thị, nhất là thị trường thành phố Hồ Chí Minh và cho cả thị trường xuất khẩu. Cũng trong giai đoạn từ đầu thập kỷ 90, tổng sản lượng rau đậu các loại đã tăng tương đối ổn định từ 3,2 triệu tấn năm 1991 lên đạt xấp xỉ 8,9 triệu tấn năm 2004.2 Diện tích và sản lượng rau của Việt Nam, 1991 - 2004 Năm Diện tích (nghìn ha) Sản lượng (nghìn tấn) 1991 197,5 3213,4 1992 202,7 3304,7 1993 291,9 3483,5 1994 303,4 3793,6 1995 328,3 4155,4 1996 360,0 4706,9 1997 377,0 4969,9 1998 411,7 5236,6 1999 459,1 5792,2 2000 464,6 5732,1 2001 514,6 6777,6 2002 560,6 7485,0 2003 577,8 8183,8 2004 605,9 8876,8 Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2005 2.2 Tình hình tiêu thụ rau tại Việt Nam Hiện nay có một số nghiên cứu về tình hình tiêu thụ các loại rau quả của Việt Nam trong thời gian qua.
Các nghiên cứu cho thấy rau và quả là hai sản phẩm khá phổ biến trong các hộ gia đình.