phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn. Chƣơng 2 Thiết kế và sử dụng câu hỏi TNKQ trong dạy học môn sinh học động vật – Sinh học 11 Chƣơng 3 Thực nghiệm sƣ phạm 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Tổng quan về câu hỏi trắc nghiệm khách quan 1.1 Trên thế giới Vào thế kỉ 17-18, khoa học đánh giá bằng trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc áp dụng ở khoa Vật lí – Tâm lí của trƣờng Đại Học LEIPZING (Đức) năm 1879.
Ban đầu các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứu đến thời gian nhận thức, tốc độ học tập. Prancis Galton vận dụng nguyên tắc của Darwin trong tác phẩm “Nguồn gốc các loài” (Origin of species – 1859) về sự khác nhau giữa các loài, vào khảo sát sự khác biệt giữa các cá thể về tính chất tâm lí và sinh lí liên quan đến yếu tố di truyền. Nhằm chọn lọc những ngƣời có thể làm cha mẹ tốt, Galton đã triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con ngƣời liên quan đến trí tuệ. Bài trắc nghiệm này nhanh chóng đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc, vì nó tỏ ra là một công cụ hữu hiệu hơn bất kì một phƣơng pháp nào khác để phân biệt trí tuệ của trẻ em ở các trƣờng học.
Giữa thế kỉ 20, cùng với những ứng dụng rộng rãi của công nghệ tin học, ngƣời ta đã kết hợp cài đặt các chƣơng trình, xử lí kết quả trên diện rộng, nhờ đó phƣơng pháp TNKQ đã đƣợc coi là phƣơng pháp khoa học và hiện đại trong kiểm tra đánh giá. TNKQ hiện nay rất phổ biến trong các trƣờng học ở các nƣớc Âu Mỹ. Có rất nhiều nghiên cứu về kĩ thuật đo lƣờng trong giáo dục bằng TNKQ, nhiều nghiên cứu kĩ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ, ƣu và nhƣợc điểm của chúng, đánh giá chính xác kết quả học tập kết hợp xử lí trên máy tính các số liệu về xây dựng và sử dụng nhanh chóng TNKQ, Popham, Glaer… nghiên cứu ƣu 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com điểm của trắc nghiệm, tiêu chí, nguyên tắc, thủ tục, kĩ thuật xây dựng loại câu hỏi trắc nghiệm này, tính toán độ giá trị, độ tin cậy của câu hỏi trắc nghiệm, bài trắc nghiệm, giải thích các điểm số của bài trắc nghiệm. Nhiều công trình nghiên cứu đo lƣờng, đánh giá kết quả học tập đã công bố nhƣ: Erwin, Hopkins, Stanley… Các tác giả này đi sâu vào phƣơng pháp đo lƣờng từng lĩnh vực của mục tiêu giáo dục, phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, xác định nguyên tắc xây dựng và sử dụng từng loại trắc nghiệm.
Ở nhiều cuộc thi Olympic Sinh Học có sử dụng câu hỏi TNKQ để đo mức độ tƣ duy của HS, đã đƣợc sự hƣởng ứng của đông đảo các nƣớc tham gia và tỏ ra có nhiều ƣu điểm trong khâu chấm bài, làm bài vì các HS dự thi đa số bất đồng về ngôn ngữ. Ở Việt Nam * Ở miền Bắc Phƣơng pháp TNKQ đã đã đƣợc sử dụng cho nhiều hiệu quả nhất định, đi đầu là các trƣờng Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Sự Phạm, Đại Học Quốc Gia Hà Nội và Đại Học Y Khoa Hà Nội. Các trƣờng đã mở nhiều cuộc hộ thảo cho vấn đề áp dụng TNKQ trong kiểm tra đánh giá do các tổ chức phi chính phủ của nƣớc ngoài tài trợ (Melboume của Australia, SIDA Thụy Điển), hơn nữa còn mở lớp tập huấn về “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi trắc nghiệm” nhằm trang bị nhƣng lí luận cơ bản cho việc thực thi phƣơng pháp này ở các trƣờng học. Năm 1971 Giáo sƣ Trần Bá Hoành công bố “Dùng phƣơng pháp Test để kiểm tra nhân thức của HS về một số khái niệm trong chƣơng trình sinh học đại cƣơng lớp 9”.
Năm 1996 – 1997, ông đã đề cập nhiều lần đến TNKQ trong các tài liệu “Đánh giá trong giáo dục”, “Tài liệu bồi dƣỡng dạy sách giáo khoa lớp 12 cải cách giáo dục môn sinh học”, “Đổi mới phƣơng pháp dạy học, nội dung chƣơng trình sách giáo khoa”. Ông đã nhiều lần soạn thảo bộ câu hỏi với ba phƣơng án chọn nhằm giúp giáo viên có ngân hàng câu hỏi, giúp HS ôn tập, củng cố kiến thức.[10] 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tháng 2/1994, Bộ GD –ĐT theo hƣớng đổi mới kiểm tra, đánh giá, đã phối hợp với viện công nghệ Hoàng gia Melbourne của Australia, tổ chức các cuộc hội thảo với chủ đề “Kỹ thuật xây dựng câu hỏi TNKQ” tại thành phố Hồ Chí Minh - Huế - Hà Nội. Nội dung hội thảo đã trang bị cho nhiều cán bộ giảng dạy đại học những lý luận cơ bản về việc thực thi phƣơng pháp này. Năm 1994 – 1995, với sự tài trợ của Liên hiệp quốc, Đại học Tổng hợp Hà Nội cũng đã mở những lớp dài hạn bồi dƣỡng về phƣơng pháp xây dựng câu hỏi TNKQ và việc sử dụng nó trong giảng dạy.
Vào những năm này, PGS. Lê Đình Trung với nghiên cứu về “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng MCQ để kiểm tra hiệu quả của việc giảng dạy tích cực ở trƣờng phổ thông” và “chuyên đề câu hỏi, bài tập trong dạy học sinh học” đã khẳng định đƣợc tác dụng lớn lao của TNKQ trong đánh giá kết quả học tập.[26] Và gần đây nhất, TS.Ngô Văn Hƣng đã biên soạn “tài liệu bồi dƣỡng cán bộ quản lí và giáo viên về biên soạn đề kiển tra, xây dựng thƣ viện câu hỏi và bài tập môn sinh – cấp THPT” đã nhấn mạnh đƣợc vai trò của câu hỏi TNKQ trong quá trình dạy học.[11] Từ năm 1996 – 2000, nhiều luận văn thạc sĩ nhƣ: Nguyễn Thị Kim Giang, Nguyễn Thị Lý, Nguyễn Kỳ Loan - dƣới sự hƣớng dẫn của PGS. Lê Đình Trung – đã xây dựng đƣợc bộ câu hỏi TNKQ dùng cho sinh viên đại học và cao đẳng trong cả nƣớc. Tác giả Nguyễn Thanh Mỹ cũng xây dựng đƣợc hệ thống TNKQ dạng MCQ dùng cho chƣơng trình sinh học 10 THPT dƣới sự hƣớng dẫn của TS Lê Đình Trung và TS Lê Văn Trực.
Với sự hƣớng dẫn của GS. Trần Bá Hoành, tác giả Dƣơng Thị Thu Hiền cũng đã xây dựng đƣợc luận văn “Sử dụng câu hỏi trắc nghiệm khách quan dạng nhiều lựa chọn (MCQ) để tổ chức dạy – học kiến thức mới phần di truyền học, sinh học 12 ban cơ bản – trung học phổ thông” đã góp phần xây dựng thêm hệ thống câu hỏi TNKQ để giúp GV trong quá trình dạy học.[7] 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ năm 2000 – 2003, PGS. Lê Đình Trung và PGS.Trịnh Nguyên Giao đã chủ biên nhiều cuốn sách dùng cho ôn thi học sinh giỏi, ôn thi THPT, Cao Đẳng, Đại Học. theo hƣớng TNKQ nhƣ: “1111 câu hỏi trắc nghiệm sinh học”, “Tuyển tập sinh học 1000 câu hỏi và bài tập”, “Chuyên đề luyện thi đại học”.
* Ở miền Nam Phƣơng pháp TNKQ đƣợc sử dụng sớm hơn so với miền bắc, nó đƣợc áp dụng rải rác trong các trƣờng học từ năm 1950. Từ năm 1956 đến năm 1960 trong các trƣờng học đã sử dụng rộng rãi hình thức TNKQ ở bậc trung học, sớm nhất là trong Sinh học. Năm 1963, “Trắc nghiệm Vạn vật lớp 12” của Lê Quang Nghĩa đƣợc xuất bản năm 1964; “Phƣơng pháp học và thi vạn vật lớp 12” của Phùng Văn Hƣớng đƣợc xuất bản. Năm 1969, Dƣơng Thiêu Tống đã giảng dạy “Trắc nghiệm thành quả học tập” cho các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại ĐHSP Sài Gòn.
Nhƣ vậy, khoa học TNKQ chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình đào tạo GV và các nghiên cứu về TNKQ cũng khá phát triển lúc bấy giờ, Nhà khảo thí (Trực thuộc bộ giáo dục chế độ cũ) là nơi chuyên phát hành đề thi TNKQ trong các kì thi cho các trƣờng trung học. Năm 1974, kì thi tú tài toàn phần đã đƣợc thi bằng TNKQ, sau năm 1975 một số trƣờng vẫn áp dụng TNKQ song có nhiều tranh luận nên hay không nên áp dụng TNKQ trong thi cử. Tại trƣờng Đại học Huế vào năm 1993 đã đồng loạt triển khai việc soạn thảo bộ ngân hàng câu hỏi Test cho từng chuyên ngành, đồng thời có các nghiên cứu cho sự định chuẩn các câu hỏi bằng phƣơng pháp hiện đại. Ngƣời đóng góp tích cực cho lĩnh vực này là GS.Nguyễn Phụng Hoàng (ĐH Sƣ phạm Huế).
Từ năm 1995 đến nay, GS. Đặng Ứng Vân đứng đầu nhóm các nhà khoa học thuộc trung tâm đảm bảo chất lƣợng và nghiên cứu phát triển giáo dục đã xây dựng hệ thống câu hỏi MCQ dùng trong kiểm tra, đánh giá kết quả 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của sinh viên ở các trƣờng Đại học, Cao đẳng. Sinh viên trực tiếp làm bài trên máy và biết kết quả ngay sau khi làm bài xong. Khái niệm về câu hỏi trắc nghiệm khách quan.
Khái niệm về câu hỏi Theo quan điểm logic thì Aristot là ngƣời đầu tiên phân tích câu hỏi, ông cho rằng : “Câu hỏi là một mệnh đề trong đó có chứa đựng cả cái đã biết và cái chƣa biết “câu hỏi đó là bài làm mà khi hoàn thành chúng học sinh phải tiến hành hoạt động tái hiện, có thể trả lời miệng, trả lời viết hoặc có thể kèm theo thực hành hoặc xác minh bằng thực nghiệm”. Khái niệm câu hỏi cũng còn đƣợc diễn đạt dƣới dạng khác nhau nhƣ : Câu hỏi là dạng cấu trúc ngôn ngữ, diễn đạt một nhu cầu, một đòi hỏi, hay một mệnh lệnh cần đƣợc giải quyết. Câu hỏi thuộc phạm trù khả năng, nghĩa là sẽ đƣợc giải quyết, nó chứa đựng cả hai yếu tố, sự có mặt của cái chƣa rõ cần đƣợc giải quyết và điều đã biết liên quan đến điều cần tìm. Tuy có nhiều khái niệm khác nhau nhƣng về dấu hiệu bản chất của các câu hỏi đều đƣợc các tác giả nêu ra đó là: Xuất hiện điều chƣa rõ cần đƣợc giải quyết từ điều đã biết.
Trong đời sống cũng nhƣ trong nghiên cứu khoa học, con ngƣời chỉ nêu ra thắc mắc, tranh luận khi đã biết nhƣng chƣa đầy đủ, cần biết thêm. Sự tƣơng quan giữa cái đã biết và cái chƣa biết thúc đẩy việc mở rộng hiểu biết của con ngƣời. Khái niệm về trắc nghiệm Theo chữ Hán: “Trắc” là đo, “nghiệm” là suy xét, xác nhận.