Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho học sinh ở trường THPT” “Chương 2 : Một số biện pháp thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho học sinh THPT (áp dụng phần LSVN giai đoạn từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX.” 7 download by : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI TẬP LỊCH SỬ LỚP 10 TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm bài tập “Bài tập đối với các môn học ở THPT không phải là điều mới lạ, nhƣng không phải ai cũng hiểu biết thấu đáo, chính xác và khoa học về khái niệm này. Trong cuộc sống hằng ngày, Bài tập đƣợc hiểu đơn giản là hoạt động rèn luyện vật chất hoặc tinh thần. Trong dạy học “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”, hoặc là hƣớng tới chủ thể - ngƣời học”[29, tr.
Qua đó, chúng ta có thể thấy đƣợc vai trò quan trọng của bài tập đối với bất kì môn học nào. Ở góc độ gắn bó giữa bài tập và ngƣời giải bài tập thì Giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang chỉ rõ bài tập chỉ thực sự là bài tập khi một ngƣời nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tƣợng hoạt động, mong muốn giải bài tập –tức là có ngƣời giải bài tập. Bài tập và ngƣời giải bài tập trở thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, liên hệ chắt chẽ và tác động qua lại với nhau. Do đó, bài tập trong dạy học gắn liền với ngƣời giải là HS, chứ không hƣớng tới GV.
Do vậy, trong quá trình thiết kế bài tập GV cần phải xuất phát từ ngƣời học để xây dựng bài tập cho hợp lí. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Đằng cho rằng: Bài tập là một câu hỏi, một vấn đề, một tình huống đƣợc đƣa ra giúp thầy và trò hoạt động. Thầy (cô) đóng vai trò là ngƣời hƣớng dẫn, HS giữ vai trò trung tập, độc lập suy nghĩ, sáng tạo, thảo luận để tìm ra kết quả. Thêm nữa quan niệm trên, nhắc nhở ngƣời dạy, ngƣời thiết kế bài tập không phải nhắc tới kiến thức đã học một cách máy móc, biến ngƣời học trở thành những “con vẹt” hay ngƣời “sao chép lại kiến thức”.
Điều đặc biệt cần chú trọng chính là hƣớng tới giáo dục phẩm chất, trí tuệ, kiến thức, kĩ n ng mới và tiềm n ng sáng tạo ở ngƣời học.” Có quá nhiều quan điểm, khái niệm về bài tập, tuy nhiên tựu chung lại có thể thống nhất rằng: - Bài tập có vai trò quan trọng đối với quá trình dạy và học. - Bài tập gắn với ngƣời học, chứ không phải GV; còn GV khi thiết kế bài tập cần xuất phát từ ngƣời học. 8 download by : skknchat@gmail.com - Bài tập cần hƣớng tới rèn luyện kĩ n ng, kiến thức, phẩm chất cho HS. Bài tập là một thành tố giữ vai trò quan trọng trong môi trƣờng học tập mà giáo viên cần thiết kế để điều khiển giờ học, còn ngƣời học cần hoàn thành nhiệm vụ của nội dung học tập.
Quá trình thiết kế và tổ chức lớp học cần hƣớng tới phát triển n ng lực và trí tuệ nổi trội ở HS. Khái niệm bài tập Lịch sử “Bài tập Lịch sử là khái niệm chỉ một hệ thống thông tin về tổ chức quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh về các lĩnh vực nhận thức (khoa học và tư tưởng), xúc cảm- tình cảm và kĩ năng, kĩ xảo”[30]. Tiến sĩ Trần Quốc Tuấn cũng chỉ rõ những đặc trƣng cơ bản của bài tập Lịch sử nhƣ: -“Trong dạy học LS, BTLS chứa hệ thống thông tin các nhiệm vụ mà GV yêu cầu HS cần hoàn thiện. coi là một hệ thống thông tin quy định nhiệm vụ mà học sinh phải thực hiện.
Các bài tập LS góp phần hình thành nhận thức, tình cảm- xúc cảm và kĩ n ng, kĩ xảo.” - Điểm chung khi tiến hành dạy các BTLS là HS nghiên cứu tài liệu mới, khái quát hóa kiến thức, đánh giá, vận dụng tri thức LS vào thực tế. - “Bài tập nhận thức tìm tòi đóng vai trò quan trọng đối với phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy n ng lực tƣ duy tìm tòi, sáng tạo của HS.” - BTLS là con đƣờng dẫn HS rèn luyện kĩ n ng tự học, tự nghiên cứu tri thức. “Nhƣ vậy, BTLS có vai trò quan trong trong dạy học LS, nhằm phát triển n ng lực cho HS, là thƣớc đo của kiểm tra đánh giá. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, là nhiệm vụ cần thiết và bắt buộc đối với giáo viên.
Tuy nhiên cần lƣu ý tới mức độ nhận thức tri thức LS của HS để thiết kế hệ thống bài tập phù hợp, nhằm kích thích tƣ duy ham học hỏi, sáng tạo của HS. Phân loại các bài tập Lịch sử Việc phân loại bài tập nói chung và bài tập Lịch sử nói riêng có vai trò quan trọng. Có rất nhiều cách phân loại bài tập dựa theo tiêu chí, mỗi cách phân loại đều có ƣu và nhƣợc điểm khác nhau. Dựa vào nhiệm vụ dạy học của bộ môn, có các bài tập củng cố, hệ thống kiến 9 download by : skknchat@gmail.com thức cũ, bài tập thực hành, bài tập kiểm tra đánh giá giữa kì và cuối kì.
Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh: + “Bài tập nhận biết Lịch sử: bài tập chủ yếu tái tạo lại quá khứ, nhằm rèn luyện kĩ n ng ghi nhớ các sự kiện Lịch sử. Với dạng BTLS trên, phù hợp với để xây dựng các bài tập trắc nghiệm khách quan hoặc bài tự luận.” + “Bài tập nhận thức Lịch sử là tổ hợp gồm bài tập nhận biết LS và bài tập nhận thức LS, các sự kiện cơ bản trong bài tập nhận thức là cơ sở để HS làm bài tập nhận thức. Dạng bài tập này, đòi hỏi HS tƣ duy, tích cực tìm tòi, khám phá tri thức.” + Bài tập thực hành: tạo biểu tƣợng chính xác, vận dụng tri thức đã học vào thực tế cuộc sống. Giúp HS rèn luyện kĩ n ng, kĩ xảo,…làm cho HS biết phân tích, giải thích, nhận xét,…bồi dƣỡng cho HS những đức tính, phẩm chất tốt đẹp.
+ Bài tập tổng hợp Lịch sử là loại bài tập nhận biết và bài tập nhận thức, đòi hỏi HS cần tƣ duy, lập luận, phát hiện tri thức mới và nâng cao trình độ. “Dựa vào n ng lực học sinh có thể xây dựng bài tập theo các dạng: bài tập tái hiện, bài tập vận dụng, bài tập giải quyết vấn đề.” “Dựa vào nội dung dạy học có: bài tập xác định không gian, bài tập tìm hiểu nguyên nhân, kết quả, ý nghĩa, bài tập xác định bản chất của sự kiện lịch sử,…” Có rất nhiều ý kiến đƣa ra các loại bài tập và chƣa thể đi đến thống nhất.TS Phan Ngọc Liên có 4 loại bài tập Lịch sử: Bài tập nhận thức, bài tập rèn luyện, bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm.TS Nguyễn Thị Côi chia làm 4 loại bài tập: bài tập hình thành khả n ng và xác định bản chất sự kiện, hiện tƣợng lịch sử bài tập yêu cầu lí giải, phân tích, bài tập phát triển nhận thức cho HS, bài tập rèn luyện khả n ng vận dụng kiến thức đã học.TS Trịnh Đình Tùng, bài tập gồm 3 loại: bài tập nhận thức, bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm.TS Vũ Quang Hiển và TS Hoàng Thanh Tú chia bài tập gồm 3 loại: Bài tập trắc nghiệm khách quan, bài tập nhận thức, bài tập thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.TS Trần Vĩnh Tƣờng chia 4 loại bài tập: bài tập mô tả, tái hiện lịch sử, bài tập phân tích tính chất sự kiện, bài tập nghiên cứu, phát hiện, bài tập vận dụng [31, tr.TS Đặng V n Hồ và Trần Quốc Tuấn chia bài tập theo nhóm và theo các tác giả có 3 nhóm: bài tập nhận biết, bài tập nhận thức, bài tập thực hành [30, tr. 10 download by : skknchat@gmail.com Vì vậy, thiết kế bài tập đƣợc coi là quan trọng và đƣợc tiến hành nghiêm túc, sáng tạo. Ngƣời dạy học phải nắm vững yêu cầu đối với từng nội dung kiến thức sử dụng các bài tập sao cho hiệu quả để giúp học sinh phát triển tƣ duy, khả n ng sáng tạo.
Phân biệt giữa bài tập và câu hỏi trong môn Lịch sử “Thực tiễn dạy học, có một tình trạng phổ biến là hầu nhƣ các học sinh, thậm chí là giáo chƣa hiểu rõ về khái niệm “Bài tập” và “câu hỏi”. Cần phân biệt rõ ràng các khái niệm “bài tập” và “câu hỏi” trong môn Lịch sử, dƣờng nhƣ hai khái niệm này khá gần gũi với nhau. Câu hỏi đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong đời sống và dạy học, nhƣng câu hỏi trong đời sống và dạy học không giống nhau. Trong dạy học, Câu hỏi là những câu hỏi giáo viên đƣa ra mang yếu tố mở, yếu tố khám phá hay khám phá lại dƣới dạng một thông tin khác bằng cách cho học sinh tìm ra các con đƣờng tạo ra một câu hỏi.” “Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Đằng chỉ ra rằng: bài tập có thể là câu hỏi, nhƣng không có nghĩa câu hỏi nào cũng là bài tập.
Nếu câu hỏi đƣa ra yêu cầu hoặc nhiệm vụ để HS trả lời thì bài tập vừa chứa dữ liệu điều kiện vừa chứa yêu cầu hoặc câu hỏi, đòi hỏi HS c n cứ vào cơ sở dữ liệu đó để hoàn thiện bài tập.” “Nhƣ vậy, bài tập phức tạp hơn câu hỏi và một bài tập có thể chƣa nhiều câu hỏi, dữ liệu. Việc phân biệt hai khái niệm này là cần thiết, giúp GV tránh nhầm lẫn khi xây dựng bài tập Lịch sử cho học sinh.” 11 download by : skknchat@gmail. Giới thiệu lý thuyết Đa trí tuệ 1. Quan niệm về Thuyết Đa trí tuệ “Nếu câu hỏi “Bạn có nghĩ mình thông minh không? đƣợc đặt ra thì nhiều khả n ng câu trả lời của bạn chỉ dựa vào những bài kiểm tra IQ trong lớp học.
Hoặc thông minh là làm đƣợc những việc nhƣ học thuộc lòng, giải toán nhanh, viết chữ đẹp,…Theo bạn chỉ số IQ là gì? (IQ là từ viết tắt của Intelligence Quotient), là thƣớc đo trí thông minh của con ngƣời thông qua một bài kiểm tra.