Khóa luận: Thiết kế Bài tập Lịch sử 10 THPT - Thuyết Đa trí tuệ (Khuất Thị Dung)

Khóa luận thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10, vận dụng thuyết đa trí tuệ giúp học sinh THPT phát triển toàn diện, nâng cao hiệu quả học tập.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa Luận Tốt Nghiệp Đại Học

2019

126
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

prefix.1. Lí do chọn đề tài

prefix.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

prefix.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.4. Mục đích nghiên cứu

prefix.5. Nhiệm vụ nghiên cứu

prefix.6. Phương pháp nghiên cứu

prefix.7. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

prefix.8. Đóng góp của đề tài

prefix.9. Cấu trúc của khóa luận, phụ lục, tài liệu tham khảo

1. Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI TẬP LỊCH SỬ LỚP 10 TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG THPT

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.1.1. Khái niệm bài tập

1.1.2. Khái niệm bài tập Lịch sử

1.1.3. Phân loại các bài tập Lịch sử

1.1.4. Phân biệt giữa bài tập và câu hỏi trong môn Lịch sử

1.2. Giới thiệu lý thuyết Đa trí tuệ

1.2.1. Các loại trí thông minh

1.2.2. Ưu điểm phát triển trí thông minh trong dạy học Lịch sử

1.3. Đặc điểm tâm lí, lứa tuổi HS ở trường THPT

1.4. Yêu cầu đổi mới về phương pháp dạy học Lịch sử hiện nay

1.5. Vai trò và ý nghĩa của việc thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho HS THPT

1.6. Quy trình thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho HS ở trường THPT

1.7. Cơ sở thực tiễn

1.7.1. Thực trạng việc thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho HS THPT

1.7.2. Kết quả điều tra, khảo sát

1.7.3. Quan niệm của giáo viên và học sinh

1.8. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. Chương 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP THIẾT KẾ BÀI TẬP LỊCH SỬ LỚP 10 TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO HS THPT (ÁP DỤNG TỪ NGUỒN GỐC ĐẾN GIỮA THẾ KỈ XIX)

2.1. Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỉ XIX

2.2. Một số yêu cầu khi thiết kế BTLS lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho HS THPT

2.3. Thiết kế bài tập Lịch sử 10 từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho HS THPT

2.3.1. Thiết kế bài tập Lịch sử 10 trên cơ sở vận dụng trí tuệ ngôn ngữ

2.3.2. Thiết kế bài tập Lịch sử 10 trên cơ sở vận dụng trí tuệ giao tiếp

2.3.3. Thiết kế bài tập Lịch sử 10 trên cơ sở vận dụng trí tuệ âm nhạc

2.3.4. Thiết kế bài tập trên cơ sở vận dụng trí tuệ lo-gic toán học

2.4. Thực nghiệm sư phạm

2.4.1. Mục đích thực nghiệm sư phạm

2.4.2. Đối tượng và thời gian thực nghiệm

2.4.3. Tiến hành thực nghiệm

2.4.3.1. Chuẩn bị cho quá trình thực nghiệm
2.4.3.2. Tiến hành thực nghiệm

2.4.4. Kết quả thực nghiệm

2.4.5. Kết luận sau thực nghiệm

2.5. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Cách Thiết Kế Bài Tập Lịch Sử 10 Hiệu Quả

Giáo dục Việt Nam đang hướng tới việc phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất của học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế. Trong bối cảnh đó, việc coi trọng các môn khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là Lịch sử dân tộc, trở nên vô cùng quan trọng. Thực tế cho thấy, nhiều học sinh cảm thấy môn Lịch sử khó ghi nhớ, thiếu hấp dẫn, và chưa thấy được ưu điểm của việc vận dụng các bài học vào thực tiễn. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy và học, trong đó có việc thiết kế bài tập Lịch sử sao cho phù hợp và hiệu quả. Theo Albert Einstein: "Tất cả mọi người trên thế giới đều thông minh, nhưng nếu bạn đánh giá sự thông minh của một con cá qua khả năng leo cây của nó thì con cá đó cả đời nghĩ rằng mình là con cá ngốc nghếch", nhấn mạnh sự đa dạng trong năng lực của mỗi cá nhân. Thiết kế bài tập Lịch sử 10 theo Thuyết Đa trí tuệ là một giải pháp tiềm năng, giúp khai thác và phát triển tối đa tiềm năng của từng học sinh, tạo hứng thú và niềm yêu thích đối với môn học này. Vận dụng Thuyết Đa trí tuệ là một gợi ý tuyệt vời để giáo viên tham khảo, lựa chọn cách thức thiết kế bài tập phù hợp và hay nhất với học sinh, giải thích thắc mắc vì sao bài tập dễ với học sinh này, nhưng khó với học sinh khác. Lâu nay, chúng ta vẫn thường xếp trí thông minh của mỗi người với chỉ số IQ vào cùng loại. Tiến sĩ tâm lí học Howard Gardner đã làm thay đổi cách thức đánh giá của nhiều người trên thế giới về trí thông minh. Hiện nay, các trường trung học đang đổi mới kiểm tra, đánh giá tất cả học sinh theo một cách thức giống nhau có phải là cách ưu việt nhất? Liệu trí thông minh của mỗi cá thể học sinh có phải chỉ được đo bằng chỉ số IQ mà thôi? Một lớp học với 45 học sinh, liệu 45 học sinh có chung loại trí tuệ giống nhau không?

1.1. Vai Trò Của Bài Tập Lịch Sử 10 THPT Trong Dạy Học

Bài tập không chỉ là công cụ kiểm tra kiến thức mà còn là phương tiện để học sinh vận dụng những điều đã học, rèn luyện kĩ năng, và phát triển tư duy. Một bài tập tốt cần gắn liền với người học, khơi gợi sự hứng thú và mong muốn giải quyết vấn đề. Giáo viên cần xuất phát từ người học để xây dựng bài tập hợp lý, hướng tới rèn luyện kĩ năng, kiến thức, và phẩm chất cho học sinh. Bài tập cần hướng tới rèn luyện kỹ năng, kiến thức, phẩm chất cho học sinh. Bài tập là một thành tố giữ vai trò quan trọng trong môi trường học tập mà giáo viên cần thiết kế để điều khiển giờ học, còn người học cần hoàn thành nhiệm vụ của nội dung học tập. Quá trình thiết kế và tổ chức lớp học cần hướng tới phát triển năng lực và trí tuệ nổi trội ở học sinh.

1.2. Giới Thiệu Thuyết Đa Trí Tuệ Và Ứng Dụng

Thuyết Đa trí tuệ (TĐTT) của Howard Gardner cho rằng mỗi người sở hữu nhiều loại hình trí thông minh khác nhau, bao gồm trí thông minh ngôn ngữ, logic-toán học, không gian, vận động cơ thể, âm nhạc, giao tiếp, nội tâm, và thiên nhiên. Mỗi người sẽ có một hoặc vài loại hình trí thông minh nổi trội hơn so với những loại hình còn lại. Việc áp dụng TĐTT vào thiết kế bài tập Lịch sử 10 giúp giáo viên tạo ra các hoạt động học tập đa dạng, phù hợp với nhiều phong cách học tập khác nhau của học sinh. "Thuyết Đa trí tuệ của Gardner là một học thuyết về nhận thức, đề nghị thừa nhận mỗi chúng ta đều có năng khiếu trong tất cả 8 dạng trí tuệ. Tuy nhiên, 8 dạng trí tuệ này được hoạt động phối hợp theo những cách thức khác nhau ở mỗi người" [39]. Lí thuyết của Gardner tập trung vào 8 dạng trí tuệ và nêu lên sự cần thiết của tính đa dạng trí tuệ của người học. Các dạng trí tuệ khác nhau được coi là công cụ cho học sinh học tập, tạo cơ hội cho các em phát triển khả năng của mình. Giúp chúng ta khám phá ra một sự thật rằng: “Chúng ta là một người tài năng”, hướng tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

II. Vấn Đề Thách Thức Trong Dạy Học Lịch Sử 10 Hiện Nay

Thực tế dạy học Lịch sử ở trường phổ thông cho thấy nhiều học sinh cảm thấy môn học này khó ghi nhớ, thiếu tính hấp dẫn, và chưa thấy được ưu điểm của việc vận dụng các bài học vào thực tiễn đời sống. Thậm chí, nhiều học sinh còn "sợ" môn Lịch sử. Bên cạnh đó, phương pháp kiểm tra, đánh giá hiện nay đôi khi chưa thực sự đánh giá được khả năng tiềm ẩn của học sinh. Việc đánh giá năng lực học sinh còn nhiều hạn chế. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy và học, trong đó có việc thiết kế bài tập Lịch sử sao cho phù hợp và hiệu quả. Một lớp học với 45 học sinh, liệu 45 học sinh có chung loại trí tuệ giống nhau không? TĐTT bao gồm tám loại trí thông minh: Trí thông minh ngôn ngữ, trí thông minh lôgic, trí thông minh âm nhạc, trí thông minh không gian, trí thông minh vận động cơ thể, trí thông minh giao tiếp, trí thông minh nội tâm và trí thông minh thiên nhiên. Mỗi chúng ta đều chiếm hữu cả tám loại trí thông minh này, đặc biệt mỗi cá nhân sẽ có loại trí thông minh vượt trội."

2.1. Thực Trạng Dạy Và Học Lịch Sử 10 THPT

Học sinh khó ghi nhớ kiến thức, thiếu hứng thú với môn học, phương pháp kiểm tra đánh giá chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, giáo viên còn gặp nhiều khó khăn trong việc thiết kế bài tập phù hợp với nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Giáo viên cần chuẩn bị giờ học như thế nào ”, giáo viên cần “quy định một cách hợp lí những bài tập cho học sinh khi nghiên cứu tài liệu mới lần đấu tiên, khi học tập ở nhà, khi kiểm tra kiến thức và khi ôn tập” [22, tr. Để quá trình nhận thức tích cực thì “Học sinh phải thực hiện chu trìnhđầy đủ những hoạt động trí tuệ, bao gồm: tri giác tài liệu; thông hiểu, ghi nhớ (ghi nhớ ban đầu, ghi nhớ, củng cố thường kỳ và ôn tập); luyện kĩ năng, kĩ xảo; khái quát hóa, hệ thống hóa kiến thức”[16,tr.

2.2. Hạn Chế Trong Thiết Kế Bài Tập Lịch Sử 10

Bài tập chưa phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh, chưa phù hợp với đặc điểm tâm lý và phong cách học tập của từng cá nhân. Thiết kế bài tập chưa khai thác và phát triển tối đa tiềm năng của từng học sinh. Mỗi bài tập LS lớp 10 được thiết kế trên cơ sở vận dụng TĐTT giúp HS thể hiện quan điểm cá nhân khi được đóng vai, thuyết trình trước lớp, thỏa sức sáng tạo,…giáo viên tìm hiểu rõ hơn về đặc điểm tâm lí lứa tuổi học sinh THPT, giữa học sinh với học sinh thêm hiểu nhau hơn. Như vậy, có thể thấy thiết kế bài tập LS lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho học sinh THPT là cần thiết.

III. Phương Pháp Thiết Kế Bài Tập Lịch Sử 10 Theo TĐTT

Để khắc phục những hạn chế trên, cần áp dụng Thuyết Đa trí tuệ vào thiết kế bài tập Lịch sử 10. Giáo viên cần hiểu rõ về các loại hình trí thông minh khác nhau, từ đó tạo ra các hoạt động học tập đa dạng, phù hợp với nhiều phong cách học tập khác nhau của học sinh. Cần lựa chọn hình thức tổ chức lớp học: Đối với bài tập trên lớp, giáo viên có thể tổ chức buổi họp báo, học xemina, học dự án, học theo góc, mô hình lớp học đảo ngược,.Đổi với bài tập để rèn kĩ năng tự học cho học sinh ở nhà, giáo viên nên thiết kế BTLS trên ứng dụng Kahoot, edmodo, google from, phiếu học tập,…Giờ học có thành công hay không? Học sinh có phát triển được trí tuệ ưu việt? Học sinh có hứng thú với học Lịch sử hay không phụ thuộc rất lớn vào hình thức tổ chức, không khí lớp học. Giáo viên cần theo dõi diễn biến của từng đối tượng học sinh qua các hoạt động để đánh giá hứng thú của học sinh và yêu cầu học sinh tự chọn đăng kí BTLS.

3.1. Xác Định Mục Tiêu Và Nội Dung Bài Học

Xác định rõ kiến thức, kĩ năng, thái độ cần đạt được trong bài học. Gắn mục tiêu với kiến thức, kĩ năng, thái độ với việc thúc đẩy sự phát triển của một trí thông minh nào đó. Đặc biệt, khi giáo viên đã lựa chọn kĩ năng sử dụng tranh ảnh, tổ chức họp báo, tham gia trò chơi, hoạt động nhóm,…đều liên quan trực tiếp tới việc phát triển trí thông minh nhất định như trí thông minh âm nhạc, trí thông minh vận động,…

3.2. Lựa Chọn Hoạt Động Học Tập Phù Hợp

Thiết kế các hoạt động học tập đa dạng, phù hợp với nhiều loại hình trí thông minh khác nhau của học sinh. Ví dụ: học sinh có trí thông minh ngôn ngữ có thể tham gia các hoạt động thuyết trình, viết báo cáo; học sinh có trí thông minh không gian có thể tham gia các hoạt động vẽ sơ đồ, thiết kế mô hình. Chuẩn bị phương tiện hỗ trợ cho các hoạt động như máy chiếu, bảng, sơ đồ,…Bên cạnh, các trường được đầu tư về cơ sở vật chất hiện đại thì vẫn tồn tại một số nơi thiếu thốn thiết bị dạy học, chưa có phòng học chuyên dụng. Giáo viên cần phải chủ động mượn hoặc tự thiết kế đồ dung dạy học.

3.3. Đánh Giá Quá Trình Và Kết Quả Học Tập

Sử dụng các hình thức đánh giá đa dạng, không chỉ tập trung vào kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng, và thái độ của học sinh. Thiết kế BTLS hướng tới sự phát triển trí thông minh nổi trội ở học sinh nên cần có sự đánh giá tương xứng, nhịp nhàng và linh hoạt. Học sinh hoàn thiện BTLS không chỉ là tham gia cho đủ hoạt động của bài học, điều quan trọng là giáo viên cần đưa ra những nhiệm vụ cụ thể cho cá nhân hoặc nhóm. Hình thức thể hiện cần phong phú, đa dạng, linh hoạt. Khi tiến hành hoạt động nhóm, học sinh cần tích cực tham gia, qua đó học sinh với học sinh, giáo viên với học sinh hiểu nhau hơn. Các bài kiểm tra ở trên lớp, cần thiết kế đẹp mắt, tạo sức hút với học sinh và đáng chú cần bám sát mục tiêu bài học.

IV. Bí Quyết Phát Triển Các Loại Hình Trí Tuệ Trong LS 10

Để phát triển trí thông minh trong dạy học Lịch sử, cần liên tục cọ sát với các phương pháp để hiện thực hóa tiềm năng vốn có bằng cách chủ động tiếp cận hoặc làm việc với người giỏi, đọc sách, nghiên cứu chuyên sâu một lĩnh vực nào đó có hiệu quả cao. Đồng thời, cần có sự cam kết của cá nhân để phát triển tài năng.

4.1. Phát Triển Trí Thông Minh Ngôn Ngữ Trong LS 10

HS có thể tới tham gia các ngày hội sách lớn, tọa đàm chia sẻ về những cuốn sách hay, thú vị. Thông qua trò chuyện, trao đổi với người viết sách, những người bạn yêu sách, thích khám phá phần nào sẽ cung cấp thêm cho cá nhân khối lượng lớn từ vựng.Thường xuyên tới thư viện và nhà sách để tìm tòi khám phá tri thức giữ vai trò quan trong trong dạy và học LS. Hãy lên kế hoạch mỗi tuần đọc một cuốn sách và tạo lập thư viện cá nhân. Dành thời gian nói chuyện với gia đình, bạn bè về những câu chuyện LS mà em biết.

4.2. Phát Triển Trí Thông Minh Âm Nhạc Trong LS 10

Học sinh cảm thụ về âm nhạc, tìm hiểu về loại hình nghệ thuật, sáng tác thơ, …có liên quan tới bài học LS .Tích cực sưu tầm các bài hát yêu thích và nghe chúng mỗi ngày. Hình thành thói quen hát hò trong sinh hoạt gia đình.Sáng tạo những giai điệu âm nhạc cho riêng mình. Tham gia các chương trình âm nhạc ở trường, hát từ thiện,…Khám phá tiểu sử của các nhà soạn nhạc, ca sĩ nổi tiếng. Mua một nhạc cụ để chơi, học những giai điệu và hợp âm đơn giản. Thành lập ban nhạc bằng cách tập hợp những người bạn lại với nhau và thành lập nhóm nhạc rock, rap, dàn hợp ca hoặc ban nhạc jazz.

4.3. Phát Triển Trí Thông Minh Vận Động Cơ Thể Trong LS 10

Tham gia lớp học diễn xuất, kịch câm hay tham gia các nhóm biểu diễn tạp kỹ ở địa phương, trường học. Tạo ra các thói quen hàng ngày đòi hỏi sự uyển chuyển như nghệ thuật trà đạo của Nhật.

V. Nghiên Cứu Thực Nghiệm Đánh Giá Hiệu Quả Phương Pháp

Để đánh giá hiệu quả của việc thiết kế bài tập LS lớp 10 dựa trên vận dụng TĐTT , cần phải thực hiện bằng các bài kiểm tra , phiếu khảo sát.

5.1. Quan Niệm Của GV Và HS

Quan niệm của giáo viên về vấn đề đổi mới phương pháp dạy học: nhận thức đúng đắn về yêu cầu của đổi mới phương pháp dạy học sẽ định hướng cho giáo viên trong quá trình thực hiện từng bài học nói chung, thiết kế bài tập lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho HS THPT nói riêng, góp phần nâng cao hứng thú học lịch sử và phát huy trí tuệ của HS. Việc thiết kế bài tập LS lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho HS THPT là rất cần thiết chiếm 60 , cần thiết chiếm 40 . Giáo viên thường xuyên thiết kế bài tập LS lớp 10 trên cơ sở vận dụng TĐTT cho HS THPT chiếm tới 20 ; Thỉnh thoảng chiếm 50 ; hiếm khi chiếm 20 và chưa bao giờ chiếm 10 .

5.2. Khảo Sát Trí Thông Minh

Bài khảo sát nhỏ dành cho HS, các câu hỏi liên quan tới sở thích, ước mơ, dự định, định hướng,…nhằm phát hiện trí thông minh nổi trội ở từng đối tượng HS.Ví dụ, các hoạt động khảo sát sở thích và các loại môn học khác nhau.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Dạy Lịch Sử 10 Với TĐTT

Thiết kế bài tập Lịch sử 10 theo Thuyết Đa trí tuệ là một hướng đi đầy tiềm năng, giúp đổi mới phương pháp dạy và học, tạo hứng thú và niềm yêu thích đối với môn học, và phát triển tối đa tiềm năng của từng học sinh. Trong tương lai, cần có thêm nhiều nghiên cứu và ứng dụng thực tế để hoàn thiện phương pháp này, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Việc Cá Nhân Hóa

Việc thiết kế bài tập phù hợp với từng cá nhân là vô cùng quan trọng. Khuyến khích giáo viên chủ động tìm tòi, sáng tạo, và áp dụng TĐTT vào thiết kế bài tập Lịch sử 10 một cách linh hoạt và sáng tạo.

6.2. Tiếp Tục Nghiên Cứu Và Phát Triển

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của phương pháp này, cũng như phát triển các công cụ hỗ trợ giáo viên thiết kế bài tập Lịch sử 10 theo Thuyết Đa trí tuệ. Đây là một hướng đi đầy hứa hẹn, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.

02/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho học sinh ở trường THPT” “Chương 2 : Một số biện pháp thiết kế bài tập Lịch sử lớp 10 trên cơ sở vận dụng thuyết đa trí tuệ cho học sinh THPT (áp dụng phần LSVN giai đoạn từ nguồn gốc đến giữa thế kỉ XIX.” 7 download by : skknchat@gmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC THIẾT KẾ BÀI TẬP LỊCH SỬ LỚP 10 TRÊN CƠ SỞ VẬN DỤNG THUYẾT ĐA TRÍ TUỆ CHO HỌC SINH Ở TRƢỜNG THPT 1.Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm bài tập “Bài tập đối với các môn học ở THPT không phải là điều mới lạ, nhƣng không phải ai cũng hiểu biết thấu đáo, chính xác và khoa học về khái niệm này. Trong cuộc sống hằng ngày, Bài tập đƣợc hiểu đơn giản là hoạt động rèn luyện vật chất hoặc tinh thần. Trong dạy học “Bài tập là bài ra cho học sinh làm để vận dụng những điều đã học”, hoặc là hƣớng tới chủ thể - ngƣời học”[29, tr.

Qua đó, chúng ta có thể thấy đƣợc vai trò quan trọng của bài tập đối với bất kì môn học nào. Ở góc độ gắn bó giữa bài tập và ngƣời giải bài tập thì Giáo sƣ Nguyễn Ngọc Quang chỉ rõ bài tập chỉ thực sự là bài tập khi một ngƣời nào đó có nhu cầu chọn nó làm đối tƣợng hoạt động, mong muốn giải bài tập –tức là có ngƣời giải bài tập. Bài tập và ngƣời giải bài tập trở thành một hệ thống toàn vẹn, thống nhất, liên hệ chắt chẽ và tác động qua lại với nhau. Do đó, bài tập trong dạy học gắn liền với ngƣời giải là HS, chứ không hƣớng tới GV.

Do vậy, trong quá trình thiết kế bài tập GV cần phải xuất phát từ ngƣời học để xây dựng bài tập cho hợp lí. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Đằng cho rằng: Bài tập là một câu hỏi, một vấn đề, một tình huống đƣợc đƣa ra giúp thầy và trò hoạt động. Thầy (cô) đóng vai trò là ngƣời hƣớng dẫn, HS giữ vai trò trung tập, độc lập suy nghĩ, sáng tạo, thảo luận để tìm ra kết quả. Thêm nữa quan niệm trên, nhắc nhở ngƣời dạy, ngƣời thiết kế bài tập không phải nhắc tới kiến thức đã học một cách máy móc, biến ngƣời học trở thành những “con vẹt” hay ngƣời “sao chép lại kiến thức”.

Điều đặc biệt cần chú trọng chính là hƣớng tới giáo dục phẩm chất, trí tuệ, kiến thức, kĩ n ng mới và tiềm n ng sáng tạo ở ngƣời học.” Có quá nhiều quan điểm, khái niệm về bài tập, tuy nhiên tựu chung lại có thể thống nhất rằng: - Bài tập có vai trò quan trọng đối với quá trình dạy và học. - Bài tập gắn với ngƣời học, chứ không phải GV; còn GV khi thiết kế bài tập cần xuất phát từ ngƣời học. 8 download by : skknchat@gmail.com - Bài tập cần hƣớng tới rèn luyện kĩ n ng, kiến thức, phẩm chất cho HS. Bài tập là một thành tố giữ vai trò quan trọng trong môi trƣờng học tập mà giáo viên cần thiết kế để điều khiển giờ học, còn ngƣời học cần hoàn thành nhiệm vụ của nội dung học tập.

Quá trình thiết kế và tổ chức lớp học cần hƣớng tới phát triển n ng lực và trí tuệ nổi trội ở HS. Khái niệm bài tập Lịch sử “Bài tập Lịch sử là khái niệm chỉ một hệ thống thông tin về tổ chức quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông khi kiểm tra, đánh giá kết quả học tập lịch sử của học sinh về các lĩnh vực nhận thức (khoa học và tư tưởng), xúc cảm- tình cảm và kĩ năng, kĩ xảo”[30]. Tiến sĩ Trần Quốc Tuấn cũng chỉ rõ những đặc trƣng cơ bản của bài tập Lịch sử nhƣ: -“Trong dạy học LS, BTLS chứa hệ thống thông tin các nhiệm vụ mà GV yêu cầu HS cần hoàn thiện. coi là một hệ thống thông tin quy định nhiệm vụ mà học sinh phải thực hiện.

Các bài tập LS góp phần hình thành nhận thức, tình cảm- xúc cảm và kĩ n ng, kĩ xảo.” - Điểm chung khi tiến hành dạy các BTLS là HS nghiên cứu tài liệu mới, khái quát hóa kiến thức, đánh giá, vận dụng tri thức LS vào thực tế. - “Bài tập nhận thức tìm tòi đóng vai trò quan trọng đối với phƣơng pháp dạy học nêu vấn đề nhằm phát huy n ng lực tƣ duy tìm tòi, sáng tạo của HS.” - BTLS là con đƣờng dẫn HS rèn luyện kĩ n ng tự học, tự nghiên cứu tri thức. “Nhƣ vậy, BTLS có vai trò quan trong trong dạy học LS, nhằm phát triển n ng lực cho HS, là thƣớc đo của kiểm tra đánh giá. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm thực hiện mục tiêu dạy học, là nhiệm vụ cần thiết và bắt buộc đối với giáo viên.

Tuy nhiên cần lƣu ý tới mức độ nhận thức tri thức LS của HS để thiết kế hệ thống bài tập phù hợp, nhằm kích thích tƣ duy ham học hỏi, sáng tạo của HS. Phân loại các bài tập Lịch sử Việc phân loại bài tập nói chung và bài tập Lịch sử nói riêng có vai trò quan trọng. Có rất nhiều cách phân loại bài tập dựa theo tiêu chí, mỗi cách phân loại đều có ƣu và nhƣợc điểm khác nhau. Dựa vào nhiệm vụ dạy học của bộ môn, có các bài tập củng cố, hệ thống kiến 9 download by : skknchat@gmail.com thức cũ, bài tập thực hành, bài tập kiểm tra đánh giá giữa kì và cuối kì.

Dựa vào mức độ nhận thức của học sinh: + “Bài tập nhận biết Lịch sử: bài tập chủ yếu tái tạo lại quá khứ, nhằm rèn luyện kĩ n ng ghi nhớ các sự kiện Lịch sử. Với dạng BTLS trên, phù hợp với để xây dựng các bài tập trắc nghiệm khách quan hoặc bài tự luận.” + “Bài tập nhận thức Lịch sử là tổ hợp gồm bài tập nhận biết LS và bài tập nhận thức LS, các sự kiện cơ bản trong bài tập nhận thức là cơ sở để HS làm bài tập nhận thức. Dạng bài tập này, đòi hỏi HS tƣ duy, tích cực tìm tòi, khám phá tri thức.” + Bài tập thực hành: tạo biểu tƣợng chính xác, vận dụng tri thức đã học vào thực tế cuộc sống. Giúp HS rèn luyện kĩ n ng, kĩ xảo,…làm cho HS biết phân tích, giải thích, nhận xét,…bồi dƣỡng cho HS những đức tính, phẩm chất tốt đẹp.

+ Bài tập tổng hợp Lịch sử là loại bài tập nhận biết và bài tập nhận thức, đòi hỏi HS cần tƣ duy, lập luận, phát hiện tri thức mới và nâng cao trình độ. “Dựa vào n ng lực học sinh có thể xây dựng bài tập theo các dạng: bài tập tái hiện, bài tập vận dụng, bài tập giải quyết vấn đề.” “Dựa vào nội dung dạy học có: bài tập xác định không gian, bài tập tìm hiểu nguyên nhân, kết quả, ý nghĩa, bài tập xác định bản chất của sự kiện lịch sử,…” Có rất nhiều ý kiến đƣa ra các loại bài tập và chƣa thể đi đến thống nhất.TS Phan Ngọc Liên có 4 loại bài tập Lịch sử: Bài tập nhận thức, bài tập rèn luyện, bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm.TS Nguyễn Thị Côi chia làm 4 loại bài tập: bài tập hình thành khả n ng và xác định bản chất sự kiện, hiện tƣợng lịch sử bài tập yêu cầu lí giải, phân tích, bài tập phát triển nhận thức cho HS, bài tập rèn luyện khả n ng vận dụng kiến thức đã học.TS Trịnh Đình Tùng, bài tập gồm 3 loại: bài tập nhận thức, bài tập thực hành, bài tập trắc nghiệm.TS Vũ Quang Hiển và TS Hoàng Thanh Tú chia bài tập gồm 3 loại: Bài tập trắc nghiệm khách quan, bài tập nhận thức, bài tập thực hành, vận dụng kiến thức đã học vào cuộc sống.TS Trần Vĩnh Tƣờng chia 4 loại bài tập: bài tập mô tả, tái hiện lịch sử, bài tập phân tích tính chất sự kiện, bài tập nghiên cứu, phát hiện, bài tập vận dụng [31, tr.TS Đặng V n Hồ và Trần Quốc Tuấn chia bài tập theo nhóm và theo các tác giả có 3 nhóm: bài tập nhận biết, bài tập nhận thức, bài tập thực hành [30, tr. 10 download by : skknchat@gmail.com Vì vậy, thiết kế bài tập đƣợc coi là quan trọng và đƣợc tiến hành nghiêm túc, sáng tạo. Ngƣời dạy học phải nắm vững yêu cầu đối với từng nội dung kiến thức sử dụng các bài tập sao cho hiệu quả để giúp học sinh phát triển tƣ duy, khả n ng sáng tạo.

Phân biệt giữa bài tập và câu hỏi trong môn Lịch sử “Thực tiễn dạy học, có một tình trạng phổ biến là hầu nhƣ các học sinh, thậm chí là giáo chƣa hiểu rõ về khái niệm “Bài tập” và “câu hỏi”. Cần phân biệt rõ ràng các khái niệm “bài tập” và “câu hỏi” trong môn Lịch sử, dƣờng nhƣ hai khái niệm này khá gần gũi với nhau. Câu hỏi đƣợc sử dụng thƣờng xuyên trong đời sống và dạy học, nhƣng câu hỏi trong đời sống và dạy học không giống nhau. Trong dạy học, Câu hỏi là những câu hỏi giáo viên đƣa ra mang yếu tố mở, yếu tố khám phá hay khám phá lại dƣới dạng một thông tin khác bằng cách cho học sinh tìm ra các con đƣờng tạo ra một câu hỏi.” “Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Thanh Đằng chỉ ra rằng: bài tập có thể là câu hỏi, nhƣng không có nghĩa câu hỏi nào cũng là bài tập.

Nếu câu hỏi đƣa ra yêu cầu hoặc nhiệm vụ để HS trả lời thì bài tập vừa chứa dữ liệu điều kiện vừa chứa yêu cầu hoặc câu hỏi, đòi hỏi HS c n cứ vào cơ sở dữ liệu đó để hoàn thiện bài tập.” “Nhƣ vậy, bài tập phức tạp hơn câu hỏi và một bài tập có thể chƣa nhiều câu hỏi, dữ liệu. Việc phân biệt hai khái niệm này là cần thiết, giúp GV tránh nhầm lẫn khi xây dựng bài tập Lịch sử cho học sinh.” 11 download by : skknchat@gmail. Giới thiệu lý thuyết Đa trí tuệ 1. Quan niệm về Thuyết Đa trí tuệ “Nếu câu hỏi “Bạn có nghĩ mình thông minh không? đƣợc đặt ra thì nhiều khả n ng câu trả lời của bạn chỉ dựa vào những bài kiểm tra IQ trong lớp học.

Hoặc thông minh là làm đƣợc những việc nhƣ học thuộc lòng, giải toán nhanh, viết chữ đẹp,…Theo bạn chỉ số IQ là gì? (IQ là từ viết tắt của Intelligence Quotient), là thƣớc đo trí thông minh của con ngƣời thông qua một bài kiểm tra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ