đặt vấn đề nghiên cứu thiết chế tổ chức, quản lí làng xã trong mối quan hệ với tệ nạn cƣờng hào bởi lẽ thiết chế làng Việt cổ truyền với đặc trƣng là tính tự trị, tự quản đậm nét xét ở góc độ tiêu cực lại là môi trƣờng sản sinh dung dƣỡng tệ cƣờng hào và ngƣợc lại tệ cƣờng hào củng cố một cách sâu sắc hơn chế độ xã thôn tự trị, khiến cho các chính sách của nhà nƣớc bị vô hiệu hóa, đời sống ngƣời nông dân thêm điêu đứng, bần cùng. Trong hai thế kỉ cuối cùng của chế độquân chủ phong kiến Việt Nam, tệ nạn này đã bùng phát một cách mạnh mẽ gây nên nhiều hệ quả nghiêm trọng. Bàn về nạn cƣờng hào trong quá khứ, một số công trình đã chỉ ra thành phần cƣờng hào, biểu hiện của nó và bƣớc đầu lí giải về những căn nguyên sản sinh ra tệ nạn này. Tuy nhiên, vẫn còn một số quan điểm còn chƣa thực sự chính xác cũng nhƣ cần thêm sự bổ sung về mặt tƣ liệu để nhìn nhận hiện tƣợng này một cách toàn diện, hệ thống hơn.
Những kiến giải về nguyên nhân nảy sinh và phát triển mạnh mẽ tệ nạn này trong hai thế kỉ XVIII-XIX cũng cần đƣợc phân tích ở nhiều góc độ, không chỉ quy kết hoàn toàn cho chính sách của nhà nƣớc phong kiến mà cần khai thác ở các bình diện khác nhƣ kinh tế, xã hội, văn hóa của làng xã. Mối quan hệ giữa thiết chế tổ chức, quản lí và tệ nạn cƣờng hào cũng cần đƣợc làm rõ để trên cơ sở đó nhận diện và chỉ ra đúng bản chất của tệ cƣờng hào trong quá khứ và hiện tại. Xuất phát từ những yêu cầu khoa học và thực tiễn trên, nghiên cứu về thiết chế tổ chức, quản lí làng xã và tệ nạn cƣờng hào vùng đồng bằng Bắc Bộ trong thế kỉ XVIII-XIX góp phần đƣa tới những nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn về làng xã và xác lập cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách nhằm nâng cao hiệu quả quản lí cấp chính quyền cơ sở ở Việt Nam hiện nay. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Trƣớc hết, luận án chọn đối tƣợng nghiên cứu là thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã cổ truyền, tức là đi sâu tìm hiểu những quy định gồm cả luật pháp và tục lệ về cơ cấu tổ chức, mối liên hệ cùng sự vận hành của bộ máy quản lí và các thiết chế dân sự bên trong làng xã.
Luận án tập trung nghiên cứu thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ bởi lẽ trong lịch sử, đồng bằng Bắc Bộ luôn là vùng kinh tế, chính trị, văn hóa trọng yếu của đất nƣớc, là cái nôi của nền văn minh lúa nƣớc Việt Nam. Làng xã cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ có lịch sử phát triển lâu đời, mang những đặc trƣng tiêu biểu nhất của làng xã Việt Nam. 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, làng xã hiện nay tuy có cơ sở, mục tiêu phát triển khác trƣớc nhƣng vẫn mang những đặc điểm chung và trên đại thể vẫn đƣợc xây dựng và phát triển dựa theo cấu trúc làng nông nghiệp truyền thống của ngƣời Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ. Vì thế, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nông thôn của cha ông ta trong lịch sử chủ yếu và trƣớc hết cần tập trung vào vùng đồng bằng Bắc Bộ, lấy kinh nghiệm quản lý làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ làm trục chính và trên cơ sở đó mở rộng ra các khu vực và các trƣờng hợp cụ thể khác.
Luận án cũng giới hạn phạm vi nghiên cứu đối với làng của ngƣời Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ vì ngƣời Việt là cƣ dân chủ yếu ở đây. Một vấn đề cần đƣợc làm rõ là xác định phạm vi của vùng đồng bằng Bắc Bộ trong hai thế kỉ XVIII-XIX để từ đó có những mô tả, phân tích cụ thể đồng thời chỉ ra những đặc trƣng về thiết chế tổ chức, quản lí làng xã ở khu vực này. Xét về mặt địa lí tự nhiên, đồng bằng Bắc Bộ là khu vực đồng bằng rộng lớn do sông Hồng và sông Thái Bình bồi đắp, có hình dạng giống nhƣ một tam giác cân. Về mặt hành chính, trong hai thế kỉ XVIII-XIX, phạm vi của đồng bằng Bắc Bộ cơ bản đƣợc xác định nhƣ sau: thế kỉ XVIII, tƣơng đƣơng với khu vực Thăng Long tứ trấn (4 nội trấn quanh kinh thành là Hải Dƣơng, Sơn Nam, Sơn Tây, Kinh Bắc); đầu thế kỉ XIX, gần nhƣ tƣơng ứng với khu vực của 5 nội trấn (Sơn Nam thƣợng, Sơn Nam hạ, Kinh Bắc, Sơn Tây và Hải Dƣơng) và phủ Hoài Đức; từ sau cải cách hành chính của vua Minh Mệnh, các trấn đổi thành tỉnh thì đồng bằng Bắc Bộ bao gồm các tỉnh: Hà Nội, Nam Định, Hƣng Yên, Bắc Ninh, Ninh Bình, Sơn Tây, Hải Dƣơng (vùng đồng bằng Bắc Bộ hiện nay bao gồm các tỉnh và thành phố: Bắc Ninh, Hà Nam, Hà Nội, Hải Dƣơng, Hải Phòng, Hƣng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình và Vĩnh Phúc).
Cùng với những thay đổi về hành chính đó, làng xã ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ cũng có những chuyển biến về kinh tế, xã hội, văn hóa từ đó đặt ra yêu cầu xây dựng các thiết chế tổ chức, quản lí tƣơng ứng. Luận án giới hạn phạm vi thời gian trong hai thế kỉ XVIII-XIX (từ những năm 30 của thế kỉ XVIII đến năm 1884) bởi đây là hai thế kỉ cuối cùng của nền quân chủ phong kiến Việt Nam với nhiều bƣớc thăng trầm của lịch sử. Từ những năm 30 của thế kỉ XVIII, chế độquân chủ phong kiến có dấu hiệu khủng hoảng đánh dấu bởi sự suy yếu của chính quyền trung ƣơng, sự thu hẹp đáng kể ruộng đất công đồng thời là quá trình tƣ hữu hóa ruộng đất ngày càng mở rộng, nạn xiêu tán và khởi nghĩa nông dân trở thành hiện tƣợng phổ biến gây nên những bất ổn nghiêm trọng trong đời sống chính trị, xã hội. Tình trạng này tiếp tục phổ biến cho đến 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những năm cuối của thế kỉ XVIII.
Đến đầu và giữa thế kỉ XIX, đặc biệt dƣới triều đại Minh Mệnh, thể chế nhà nƣớc tập quyền đƣợc phát triển đến đỉnh cao, trên nhiều phƣơng diện đã có những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, từ sau thời kì của Minh Mệnh đến năm 1884, nhà nƣớcquân chủ phong kiến lại lâm vào khủng hoảng trầm trọng khiến cho đất nƣớc rơi vào ách nô dịch, áp bức của chủ nghĩa thực dân. Những thăng trầm và khúc quanh của lịch sử trong giai đoạn này đã in đậm dấu ấn và tác động mạnh mẽ đến làng xã. Mô hình quản lí làng xã đƣợc xác lập dƣới thời kì của Lê Thánh Tông đến đây đã bị xáo trộn.
Thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã cũng có những thay đổi để thích nghi với thời cuộc nhƣng những mâu thuẫn và mặt trái của nó lại có điều kiện phát tác khi chính sách của nhà nƣớc tỏ ra kém hiệu quả mà tệ nạn cƣờng hào là một minh chứng. Tệ nạn cƣờng hào- một sản phẩm của thiết chế tổ chức, quản lí làng xã truyền thống là đối tƣợng nghiên cứu thứ hai của luận án. Cần nhận thấy rằng, “cƣờng hào” ban đầu không mang một nghĩa tiêu cực, đƣợc dùng để chỉ những hào trƣởng (hào) có thế lực mạnh (cƣờng) và có sức ảnh hƣởng mạnh mẽ. Lịch sử dân tộc đã từng biết đến những hào trƣởng là những anh hùng của dân tộc hoặc là những ngƣời ƣu tú, tinh hoa ở làng xã với nhiều đóng góp cho làng xã và nhà nƣớc.
Thế kỷ X có nhiều hào trƣởng mạnh, cai quản một vùng rộng lớn, nhƣ Khúc Thừa Dụ, Dƣơng Đình Nghệ Ngô Quyền… Mƣời hai sứ quân cũng là 12 hào trƣởng mạnh cát cứ ở các địa phƣơng. Làng thời kì Lý- Trần là cộng đồng dân cƣ phụ thuộc vào quý tộc, quan lại và các hào trƣởng địa phƣơng. Đến thế kỉ XV, Lê Lợi, trƣớc khi phất cờ khởi nghĩa chống quân xâm lƣợc Minh cũng là một hào trƣởng mạnh. Tuy nhiên đối tƣợng nghiên cứu của luận án là nạncƣờng hàotức là nghiên cứu hiện tƣợng cƣờng hào dƣới góc độ là một “tệ nạn” với nhiều hệ quả tiêu cực.Cƣờng hào ở đây đƣợc hiểu là sự câu kết của đội ngũ có thế lực ở làng xã, dùng sức mạnh kinh tế, chính trị áp bức, bóc lột ngƣời nông dân.
Từ thế kỉ XV, tƣ liệu lịch sử đã nhắc đến nạn cƣờng hào cùng những tác động tiêu cực của nó đối với xã hội và ngƣời dân. Đến thế kỉ XVIII, nạn cƣờng hào trở nên phổ biến, trầm trọng nhất so với các thế kỉ trƣớc đó. Nhà nƣớc phong kiến tỏ ra bất lực với tệ nạn này, phó mặc làng xã cho nạn cƣờng hào hoành hành. Sang đến đầu và giữa thế kỉ XIX, với các biện pháp chấn chỉnh làng xã của nhà nƣớc, tệ cƣờng hào đã phần nào đƣợc kiềm chế song đến cuối thế kỉ XIX, nạn cƣờng hào có điều kiện bùng phát mạnh mẽ hơn, thực sự trở thành “quốc nạn” mà nhà nƣớc không thể kiểm soát.
Nhà nƣớc thất bại trong việc quản lý làng xã gây nên hàng loạt những bất ổn trong đời sống chính trị, xã hội. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Những bài học quản lý làng xã của cha ông trong quá khứ, dù là không thành công, vẫn có ý nghĩa và giá trị sâu sắc đối với công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay ở Việt Nam. Mục đích nghiên cứu Thứ nhất, tập trung làm rõ thiết chế tổ chức, quản lí của làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ thế kỉ XVIII-XIX bao gồm cả thiết chế quan phƣơng và phi quan phƣơng; mối quan hệ và sự vận hành giữa các thiết chế để chỉ ra những đặc trƣng trong cách thức quản lí làng xã truyền thống, khuynh hƣớng và quy luật vận động, biến đổi của làng xã đồng thời lí giải căn nguyên của sự vận động và biến đổi đó. Thứ hai, nhận diện cƣờng hào, tái hiện một cách khách quan thực trạng nạn cƣờng hào làng xã ở đồng bằng Bắc Bộ trong hai thế kỉ XVIII-XIX cùng những tác động, hệ quả của nó đến đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đồng thời đƣa ra những kiến giải một cách hệ thống, nhiều chiều về căn nguyên sâu xa làm nảy sinh và phát triển mạnh mẽ tệ nạn này.