Tổng quan luận án
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đô thị hóa là những tiến trình mang tính tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Cùng với sự chuyển biến nhanh chóng về không gian đô thị, công tác giải tỏa, di dời và bố trí tái định cư (TĐC) trở thành một bộ phận cấu thành trong quá trình quy hoạch, cải tạo hạ tầng. Tái định cư không đơn thuần là sự chuyển dịch cơ học về mặt địa lý của một bộ phận dân cư từ không gian cư trú này sang không gian cư trú khác, mà còn kéo theo những biến động sâu sắc trên các bình diện kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường sống của từng cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Trong số các vấn đề nảy sinh hậu tái định cư, việc làm và sinh kế là nhân tố mang tính cốt lõi, quyết định trực tiếp đến sự ổn định và mức độ hòa nhập của cư dân vào môi trường mới.
Thành phố Đà Nẵng, sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương từ năm 1997, đã triển khai hàng loạt dự án phát triển kết cấu hạ tầng với quy mô giải tỏa và tái định cư diện rộng. Bên cạnh những thành tựu về chỉnh trang đô thị, công tác di dời đã đặt người dân tái định cư trước những biến động sinh kế lớn, đòi hỏi các hộ gia đình phải chủ động tìm kiếm các phương thức ứng xử và điều chỉnh nguồn lực nhằm duy trì đời sống. Mặc dù lý thuyết sinh kế và lý thuyết thích ứng đã được nhiều học giả quan tâm nghiên cứu, việc kết hợp đồng thời hai hệ thống lý thuyết này để phân tích chuyên sâu về "sinh kế thích ứng" của cư dân tái định cư dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại một đô thị đặc thù như Đà Nẵng vẫn còn là một khoảng trống học thuật. Luận án tiến sĩ Dân tộc học của nghiên cứu sinh Lư Thúy Liên được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực tiễn phục vụ việc hoạch định chính sách sinh kế đô thị bền vững.
Mục đích nghiên cứu:
Từ kết quả nghiên cứu dân tộc học, tập trung xem xét các hoạt động sinh kế sau TĐC, luận án đi sâu đánh giá, phân tích sinh kế thích ứng, từ đó đánh giá khả năng thích ứng về sinh kế của các hộ dân sau TĐC, tạo cơ sở thực tiễn và căn cứ khoa học cho việc gợi mở động thái gia tăng tính thích ứng trong sinh kế của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý thuyết về sinh kế và thích ứng.
- Đánh giá công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quá trình tái định cư và chuyển đổi hoạt động sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.
- Phân tích sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.
- Nhận định khả năng thích ứng và gợi mở một số động thái gia tăng tính thích ứng trong sinh kế cho người dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng.
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng, được cụ thể hóa qua hai nhóm đối tượng:
- Các nguồn vốn sinh kế sau tái định cư.
- Các hoạt động sinh kế thực tế của cư dân tái định cư tại địa bàn.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Nghiên cứu được triển khai tại các khu tái định cư thuộc 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng, bao gồm: quận Hải Châu, quận Thanh Khê, quận Sơn Trà, quận Cẩm Lệ, quận Ngũ Hành Sơn, quận Liên Chiểu và huyện Hòa Vang. Huyện đảo Hoàng Sa không nằm trong phạm vi khảo sát do mang tính chất đặc thù và chưa diễn ra hoạt động giải tỏa, tái định cư dân cư đô thị.
- Thời gian: Giai đoạn từ năm 1997 đến năm 2020. Mốc 1997 đánh dấu thời điểm Đà Nẵng chia tách khỏi tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, mở đầu cho giai đoạn đô thị hóa mạnh mẽ; mốc 2020 là thời điểm kết thúc các kế hoạch và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, 10 năm của địa phương.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến mối quan hệ giữa sinh kế, tái định cư và khả năng thích ứng theo các nhóm tiếp cận chủ yếu sau:
Các hướng nghiên cứu quốc tế
- Mối quan hệ giữa sinh kế và tái định cư: Các nghiên cứu tập trung nhận diện những biến đổi sau di dời và cách thức cư dân địa phương giải quyết biến đổi (Maruyama, 2003); đánh giá tác động của tái định cư đối với quy mô dân số và cơ cấu sinh kế (Bisrat Worku, 2011); khảo sát tác động của tái định cư đến sinh kế, an ninh lương thực và nguồn vốn tự nhiên, bao gồm cả các tác động gián tiếp đối với nhóm dân cư bản địa sở tại (Moti Jaleta, 2011). Hầu hết các công trình này đều chỉ ra tình trạng suy giảm mức sống và tính bấp bênh trong sinh kế của người dân hậu tái định cư, tuy nhiên còn thiếu sự mô tả chi tiết về các hoạt động sinh kế mang tính thích ứng cụ thể.
- Sinh kế thích ứng dưới tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Các nghiên cứu của Mihret Jember Bahry (2010), Sinavong Phonevilay (2013), Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019) đã tiếp cận sự thích ứng sinh kế trước áp lực chuyển dịch kinh tế, bổ sung cho các dòng nghiên cứu vốn trước đây chủ yếu tập trung vào vấn đề thích ứng với biến đổi khí hậu.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
- Nghiên cứu sinh kế sau tái định cư theo địa bàn:
- Tại khu vực đô thị, các nghiên cứu xã hội học đô thị tập trung phản ánh thực trạng phân hóa xã hội, việc làm và đời sống của người dân nhưng chưa đi sâu phân tích cấu trúc thích ứng sinh kế.
- Tại khu vực nông thôn và ven đô, các công trình chú trọng phân tích việc làm của hộ nông dân mất đất nông nghiệp nhưng phạm vi đối tượng chưa mở rộng sang các nhóm cư dân phi nông nghiệp khác.
- Tại khu vực miền núi và vùng xây dựng các công trình thủy điện, các tác giả tập trung đánh giá suy giảm nguồn lực sinh kế và đề xuất giải pháp phục hồi sinh kế truyền thống.
- Nghiên cứu về sinh kế thích ứng: Các nghiên cứu tiêu biểu bao gồm khảo sát thích ứng môi trường của người thời tiền sử tại Tràng An (Nguyễn Gia Đối, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hải Đăng, 2012); nghiên cứu của tổ chức Oxfam (2008) tại Bến Tre và Quảng Trị về các biện pháp đối phó lũ lụt của nông dân nghèo; mô hình sinh kế thích ứng vùng trũng thấp Thừa Thiên Huế (Hoàng Ngọc Tường Vân, 2013); hành vi chuyển đổi mô hình từ lúa sang tôm nhằm giảm thiểu rủi ro và khai thác vốn xã hội tại Đồng bằng sông Cửu Long (Ngô Thị Phương Lan, 2014); cùng các nghiên cứu của Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga...
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy phần lớn các nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận theo Khung sinh kế bền vững của DFID, WB, UNDP nhằm phục vụ mục tiêu giảm nghèo, hoặc tập trung phân tích sự thích ứng trước các cú sốc thiên tai, biến đổi khí hậu. Các nghiên cứu về sinh kế thích ứng trước tác động của biến đổi xã hội và công nghiệp hóa còn phân tán, thiếu tính hệ thống. Trên cơ sở kế thừa các dữ liệu và phương pháp luận đi trước, luận án tập trung giải quyết 3 khoảng trống khoa học:
- Xác lập và làm rõ cơ sở lý luận về khái niệm, cấu trúc của sinh kế thích ứng trong nghiên cứu dân tộc học/nhân học.
- Phân tích thực trạng và cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư tại thành phố Đà Nẵng theo các không gian sinh thái - xã hội khác nhau (lõi đô thị, đô thị mới, đô thị ven biển).
- Đánh giá khả năng thích ứng dựa trên sự chuyển hóa các nguồn vốn sinh kế, từ đó đề xuất các định hướng chính sách phù hợp với thực tiễn địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ thống lý thuyết và khái niệm sử dụng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp liên ngành giữa ba hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết trường, tập tính và vốn của Pierre Bourdieu (1930 - 2002): Được sử dụng để phân tích các dạng thức vốn (vốn kinh tế, vốn văn hóa, vốn xã hội) và mối quan hệ tương tác giữa chủ thể di dời với không gian xã hội mới (trường xã hội đô thị hóa).
- Khung sinh kế bền vững của Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID): Được vận dụng để khảo sát và phân loại 5 nguồn vốn sinh kế cốt lõi của hộ gia đình tái định cư, bao gồm: vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính và vốn xã hội.
- Lý thuyết và quan điểm về thích ứng của C.S. Holling (1996) và Linda Hutcheon (2006): Cung cấp các tiêu chí phân tích khả năng thích ứng mang tính chủ động hoặc phản ứng, tính chuyển tiếp và dạng thức điều chỉnh hành vi của cư dân trước những thay đổi từ môi trường sống và chính sách.
Khung phân tích của luận án tích hợp các nguồn vốn sinh kế (DFID và Bourdieu) với các tác nhân bên ngoài (thị trường lao động, chính sách nhà nước) để lý giải các mô hình và mức độ thích ứng sinh kế của cư dân tái định cư.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp điền dã Dân tộc học: Là phương pháp chủ đạo, bao gồm quan sát tham dự, mô tả thực địa, phỏng vấn sâu cá nhân (đối với người dân tái định cư, cán bộ quản lý địa phương, chuyên gia) và thảo luận nhóm tập trung tại các khu tái định cư.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát định lượng): Thu thập dữ liệu cơ cấu hộ gia đình, nhân khẩu học, trình độ học vấn, việc làm, thu nhập và sự biến động các nguồn vốn sinh kế trước và sau tái định cư.
- Phương pháp nghiên cứu tư liệu thành văn: Thu thập, phân tích và xử lý các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo kinh tế - xã hội, quy hoạch sử dụng đất của Trung ương và thành phố Đà Nẵng qua các thời kỳ.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng hợp: Phân loại và so sánh sự khác biệt về sinh kế giữa các nhóm cư dân tại các khu vực đô thị lõi, đô thị mới và ven biển.
Nguồn tư liệu nghiên cứu
- Tư liệu thành văn: Các văn kiện của Đảng, Nghị quyết số 33-NQ/TW (2003), Nghị quyết số 43-NQ/TW (2019) của Bộ Chính trị; Quyết định số 359/QĐ-TTg (2021) của Thủ tướng Chính phủ; Nghị quyết số 119/2020/QH14 của Quốc hội; các báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng và các sở, ban, ngành liên quan.
- Tư liệu sơ cấp: Dữ liệu định tính và định lượng thu được từ các đợt điền dã dân tộc học của tác giả tại các khu tái định cư trên địa bàn 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận, phương pháp và khái quát địa bàn nghiên cứu
Chương 1 tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định các khái niệm công cụ như sinh kế, nguồn lực sinh kế, tái định cư, thích ứng và sinh kế thích ứng. Đồng thời, chương này giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: Thành phố Đà Nẵng có tổng diện tích tự nhiên là 1.283,42 km², trong đó các quận nội thành chiếm 241,51 km² và các huyện ngoại thành chiếm 1.041,91 km². Địa hình thành phố gồm cả đồng bằng, đồi núi, sông ngòi và bờ biển, sở hữu các hệ thống sông chính như sông Hàn, sông Cầu Đỏ, sông Túy Loan, sông Yên, sông Vu Gia, sông Cu Đê.
- Bối cảnh lịch sử - hành chính: Ngày 01/01/1997, Đà Nẵng chính thức trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX (ngày 06/11/1996), ban đầu gồm 5 quận (Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu) và 2 huyện (Hòa Vang, Hoàng Sa). Vị trí địa lý thuận lợi tại trung độ cả nước tạo tiền đề để Đà Nẵng phát triển thành trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
Chương 2: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quá trình tái định cư ở thành phố Đà Nẵng
Chương 2 phân tích tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tại Đà Nẵng từ sau năm 1997. Nhằm tạo quỹ đất xây dựng hạ tầng kỹ thuật và khu đô thị mới, thành phố đã liên tục mở rộng không gian và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất (giai đoạn 1997 - 2013 đã tiến hành 3 lần lập và điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất trình Chính phủ phê duyệt).
Quy mô giải tỏa và tái định cư tại Đà Nẵng (giai đoạn 1997 - 2012):
- Từ năm 1997, thành phố triển khai hơn 1.300 dự án với tổng diện tích đất giải tỏa hơn 18.500 ha.
- Giai đoạn từ năm 2005 trở đi có tốc độ thu hồi đất cao nhất, thực hiện hơn 1.000 dự án với diện tích giải tỏa hơn 13.000 ha (riêng năm 2011 triển khai 222 dự án).
- Trên địa bàn thành phố hình thành hơn 40 khu tái định cư phân bố trên 6 quận/huyện. Tiến trình giải tỏa diễn ra sớm tại các quận Hải Châu, Thanh Khê, Sơn Trà, sau đó tiếp tục mở rộng sang quận Cẩm Lệ, Liên Chiểu, Ngũ Hành Sơn và huyện Hòa Vang.
| Chỉ tiêu thống kê giải tỏa, tái định cư (1997 - 2012) |
Số lượng (Hộ dân) |
| Tổng số hộ dân phải di dời, giải tỏa |
90.050 |
| - Số hộ giải tỏa bị thu hồi đất đi hẳn |
41.282 |
| - Số hộ giải tỏa bị thu hồi đất một phần |
21.125 |
| - Số hộ giải tỏa đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp |
20.333 |
| - Tổng số hộ giải tỏa được bố trí đất tái định cư |
35.324 |
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu báo cáo nêu trong luận án
Sự chuyển đổi hoạt động sinh kế:
- Trước tái định cư: Cư dân phân bố theo 3 nhóm sinh kế truyền thống: (1) Nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại khu vực đô thị mới; (2) Thương mại, dịch vụ và công nghiệp tại khu vực lõi đô thị; (3) Nông nghiệp và ngư nghiệp tại khu vực ven biển, ven sông.
- Sau tái định cư: Sinh kế có sự phân hóa và chuyển dịch thành 6 nhóm ngành nghề:
- Hoạt động sinh kế gắn với ngành nghề nông nghiệp và ngư nghiệp (suy giảm mạnh về quy mô do mất đất canh tác và không gian bến bãi).
- Hoạt động sinh kế gắn với lao động kỹ thuật và công nhân.
- Hoạt động sinh kế gắn với ngành nghề thủ công và xây dựng.
- Hoạt động sinh kế gắn với ngành nghề dịch vụ lắp ráp, vận hành máy móc, thiết bị.
- Hoạt động sinh kế gắn với buôn bán và cung cấp dịch vụ (chiếm tỷ trọng tăng cao tại các khu dân cư mới).
- Hoạt động sinh kế gắn với công việc giản đơn và lao động tự do (xe ôm, giúp việc, sửa chữa xe máy, thợ "đụng"...).
Chương 3: Sinh kế thích ứng sau tái định cư ở thành phố Đà Nẵng
Chương 3 đi sâu giải mã cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư thông qua ba yếu tố: chủ thể thích ứng, tác nhân/đối tượng thích ứng và mô hình thích ứng.
- Chủ thể thích ứng: Là các nhóm cư dân bị thu hồi đất, mang những đặc điểm nhân khẩu học (độ tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, tay nghề) và nguồn vốn không thuần nhất giữa các khu vực (lõi đô thị, đô thị mới, đô thị ven biển). Phụ nữ và nhóm lao động lớn tuổi, học vấn thấp là các đối tượng chịu nhiều tổn thương và gặp nhiều trở ngại nhất trong chuyển đổi nghề nghiệp.
- Tác nhân và đối tượng thích ứng: Gồm hai yếu tố chi phối chính là chính sách của Nhà nước (chính sách đền bù, hỗ trợ việc làm, an sinh xã hội) và sự biến động của thị trường lao động đô thị (đặc biệt là khu vực kinh tế phi chính thức).
Ba mô hình sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư Đà Nẵng:
- Mô hình sinh kế thích ứng dạng nguyên thể: Các hoạt động sinh kế cũ được giữ nguyên và tiếp tục duy trì. Mô hình này xuất hiện ở bộ phận cư dân làm công ăn lương trong khu vực công hoặc khu vực doanh nghiệp tư nhân, những người ít bị phụ thuộc vào tư liệu sản xuất đất đai tại chỗ.
- Mô hình sinh kế thích ứng dạng biến thể: Sinh kế cũ bị thay thế hoàn toàn bằng một sinh kế mới. Mô hình này rất phổ biến ở nhóm hộ nông dân mất toàn bộ đất sản xuất, buộc phải chuyển đổi sang làm công nhân, buôn bán nhỏ, chạy xe dịch vụ hoặc lao động thời vụ.
- Mô hình sinh kế thích ứng dạng đa thể (đa dạng hóa sinh kế): Hộ gia đình kết hợp duy trì một phần sinh kế cũ với việc tiếp nhận thêm các hoạt động kinh tế mới nhằm phân tán rủi ro và gia tăng thu nhập. Đây là mô hình phổ biến và điển hình nhất tại các khu tái định cư Đà Nẵng, phản ánh xu hướng sinh kế mang tính "phi địa phương hóa" về không gian và vượt ra khỏi ranh giới ngành nghề truyền thống.
Chương 4: Khả năng thích ứng và gợi ý một số động thái gia tăng khả năng thích ứng trong sinh kế của cư dân tái định cư ở thành phố Đà Nẵng
Chương 4 đánh giá năng lực thích ứng dựa trên hai tiêu chí: vị trí của việc làm trong thị trường lao động và khả năng vận dụng 5 nguồn vốn sinh kế:
- Đánh giá sự biến đổi các nguồn vốn:
- Vốn tự nhiên: Nguồn vốn đất đai bị suy giảm nghiêm trọng về vai trò và phạm vi bao phủ đối với phần lớn cư dân; tuy nhiên, nguồn lợi thủy hải sản vẫn giữ vai trò quyết định đối với sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển.
- Vốn con người và Vốn xã hội: Là hai nguồn lực mang tính đòn bẩy. Cư dân tái định cư có xu hướng dựa vào các mối quan hệ xóm giềng, họ hàng, mạng lưới tương trợ cộng đồng truyền thống (vốn xã hội) để tìm kiếm việc làm, vay mượn mặt bằng kinh doanh hoặc học hỏi nghề mới.
- Vốn vật chất: Hạ tầng kỹ thuật khu tái định cư được đầu tư khang trang nhưng không gian nhà ở phân lô thường thiếu diện tích để phát triển các ngành nghề sản xuất tiểu thủ công nghiệp tại gia.
- Các yếu tố tác động: Sự định hướng phát triển từ các văn bản chính sách lớn (Nghị quyết 43-NQ/TW, Quyết định 359/QĐ-TTg, Nghị quyết 119/2020/QH14 của Quốc hội), bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng lao động đô thị.
Hệ thống kiến nghị của luận án gồm 4 nhóm giải pháp:
- Xây dựng gói chính sách hỗ trợ trọn gói: Kết hợp đồng bộ giữa chính sách bồi thường, tái định cư với chính sách đào tạo nghề, giải quyết việc làm, hỗ trợ tín dụng và bảo hiểm xã hội. Đối với các hộ phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp, công tác đào tạo chuyển đổi nghề phải được tiến hành trước khi thu hồi đất.
- Thực hiện điều tra dân tộc học trước và sau dự án: Thu thập thông tin kinh tế - xã hội, tâm tư nguyện vọng của người dân trước khi giải tỏa; sau tái định cư cần phân loại lao động theo độ tuổi, giới tính, trình độ để thiết kế chương trình việc làm sát hợp.
- Đẩy mạnh truyền thông và phổ cập thông tin sinh kế: Tăng cường cung cấp thông tin thị trường lao động, các khóa đào tạo nghề và kênh vay vốn ưu đãi thông qua hệ thống truyền thanh quận, huyện và đài phát thanh - truyền hình địa phương.
- Phát huy vai trò công tác dân vận và vốn xã hội: Khuyến khích người dân nâng cao tính chủ động, tránh tâm lý ỷ lại vào hỗ trợ nhà nước; hướng dẫn quản lý và sử dụng hiệu quả tiền bồi thường (học nghề, đầu tư sản xuất kinh doanh, gửi tiết kiệm); vận động tương trợ nội bộ cộng đồng về mặt bằng, kỹ thuật nghề và tiêu thụ sản phẩm.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về sinh kế thích ứng trong nghiên cứu dân tộc học, xác lập khung phân tích tích hợp giữa thuyết trường - vốn (Pierre Bourdieu), khung sinh kế bền vững (DFID) và lý thuyết thích ứng (C.S. Holling, Linda Hutcheon).
- Xác định cấu trúc của sinh kế thích ứng gồm 3 thành tố tương tác hữu cơ: Chủ thể thích ứng (gắn với các nguồn vốn), Tác nhân/Đối tượng thích ứng (thị trường lao động, chính sách nhà nước) và Mô hình thích ứng (nguyên thể, biến thể, đa thể).
- Làm sáng tỏ đặc điểm biến đổi các nguồn vốn sinh kế tại đô thị chuyển đổi, chỉ ra sự suy giảm của vốn tự nhiên (đất đai) và vai trò thay thế của vốn xã hội và vốn con người trong chiến lược ứng phó rủi ro của cư dân.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về quá trình giải tỏa, di dời và thực trạng biến đổi sinh kế của cư dân tại hơn 40 khu tái định cư trên địa bàn 7 quận/huyện của thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 1997 - 2020.
- Phân loại chi tiết 6 nhóm hoạt động sinh kế sau tái định cư và định vị 3 mô hình thích ứng thực tế, chỉ ra tính chất "phi địa phương hóa" của sinh kế đô thị mới.
- Cung cấp luận cứ thực tiễn giúp chính quyền thành phố Đà Nẵng điều chỉnh chính sách bồi thường, đào tạo nghề và an sinh xã hội cho người dân bị thu hồi đất trong giai đoạn thực hiện quy hoạch đô thị đến năm 2030, tầm nhìn 2045.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do tính chất đặc thù về vị trí địa lý và hành chính, địa bàn huyện đảo Hoàng Sa không thuộc diện giải tỏa tái định cư nên chưa được đưa vào phạm vi khảo sát; các mô hình sinh kế thích ứng được khảo sát đến năm 2020 và vẫn đang tiếp tục chịu sự tác động biến đổi từ các quy hoạch mới, do đó tính ổn định lâu dài của một số mô hình biến thể chưa thể đánh giá trọn vẹn.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát sự biến đổi sinh kế của cư dân tái định cư dưới tác động của mô hình chính quyền đô thị (theo Nghị quyết 119/2020/QH14) và các định hướng quy hoạch theo Quyết định 359/QĐ-TTg; nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi số và kinh tế số đối với khả năng thích ứng việc làm của lao động lớn tuổi tại các khu tái định cư.
Giá trị tham khảo
- Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ quan quản lý nhà nước tại thành phố Đà Nẵng (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý các dự án TĐC) trong việc xây dựng các gói hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và chính sách an sinh xã hội hậu di dời.
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên: Công trình cung cấp khung lý thuyết kết hợp và phương pháp tiếp cận điền dã dân tộc học thực chứng cho các ngành Dân tộc học, Nhân học, Xã hội học đô thị, Địa lý kinh tế và Quản lý phát triển đô thị.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao: Khung cấu trúc sinh kế thích ứng (Chương 1 và Chương 3), hệ thống phân loại 3 mô hình thích ứng và 6 nhóm ngành nghề sau di dời (Chương 2 và Chương 3), cùng hệ thống 4 nhóm kiến nghị chính sách (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô giải tỏa, thu hồi đất và bố trí tái định cư tại thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2012 được ghi nhận như thế nào trong luận án?
Trong giai đoạn 1997 - 2012, thành phố Đà Nẵng đã triển khai hơn 1.300 dự án, giải tỏa hơn 18.500 ha đất. Tổng số hộ dân thuộc diện di dời, giải tỏa là 90.050 hộ (trong đó có 41.282 hộ bị thu hồi đất đi hẳn; 21.125 hộ thu hồi một phần; 20.333 hộ bị thu hồi đất nông - lâm nghiệp). Tổng số hộ giải tỏa được bố trí đất tại hơn 40 khu tái định cư trên địa bàn là 35.324 hộ.
2. Luận án phân chia sinh kế thích ứng của cư dân tái định cư thành những mô hình nào?
Luận án phân chia thành 3 mô hình:
- Mô hình nguyên thể: Duy trì hoạt động sinh kế cũ (thường là công chức, viên chức hoặc người làm công ăn lương ổn định ít bị ảnh hưởng bởi việc mất đất).
- Mô hình biến thể: Sinh kế cũ bị thay thế hoàn toàn bằng sinh kế mới (phổ biến ở nông dân mất đất chuyển sang làm công nhân, buôn bán nhỏ, lao động tự do).
- Mô hình đa thể: Đa dạng hóa sinh kế bằng cách kết hợp nhiều hoạt động kinh tế cùng lúc để giảm thiểu rủi ro và tăng thu nhập.
3. Sau tái định cư, vai trò của nguồn vốn tự nhiên và nguồn vốn xã hội biến đổi như thế nào?
Nguồn vốn tự nhiên gắn với đất đai bị thu hẹp đáng kể về vai trò đối với phần lớn cư dân do diện tích canh tác bị thu hồi hoàn toàn hoặc phần lớn; riêng đối với cư dân ven biển, nguồn lợi thủy hải sản vẫn giữ vai trò then chốt. Ngược lại, nguồn vốn xã hội (quan hệ dòng họ, xóm giềng, mạng lưới tương trợ cộng đồng làng xã truyền thống) trở thành điểm tựa quan trọng giúp người dân tiếp cận thông tin việc làm, vay vốn và chia sẻ mặt bằng kinh doanh.
4. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào đối với chính quyền thành phố Đà Nẵng?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp: (1) Xây dựng chính sách hỗ trợ trọn gói gồm dạy nghề, việc làm, tài chính và bảo hiểm xã hội triển khai đồng bộ từ khâu quy hoạch; (2) Thực hiện nghiên cứu dân tộc học trước dự án và phân loại lao động sau tái định cư; (3) Tăng cường phổ biến thông tin thị trường lao động và tín dụng qua truyền thông; (4) Đẩy mạnh công tác dân vận, hỗ trợ người dân sử dụng tiền đền bù hiệu quả và phát huy nguồn vốn xã hội tương trợ trong cộng đồng.
Kết luận
Luận án tiến sĩ Dân tộc học của tác giả Lư Thúy Liên đã phản ánh bức tranh toàn diện về quá trình chuyển đổi và thích ứng sinh kế của cư dân tại các khu tái định cư trên địa bàn thành phố Đà Nẵng giai đoạn 1997 - 2020. Bằng việc tích hợp khung lý thuyết của Bourdieu, DFID và các quan điểm thích ứng, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc sinh kế thích ứng gồm 3 thành tố và chỉ ra sự dịch chuyển từ các hoạt động nông - ngư nghiệp truyền thống sang 6 nhóm ngành nghề mới thông qua 3 mô hình thích ứng (nguyên thể, biến thể, đa thể). Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh vai trò quyết định của vốn con người và vốn xã hội trong việc bù đắp sự suy giảm của vốn đất đai, đồng thời đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chính sách trọn gói có giá trị thực tiễn cao cho công tác quy hoạch đô thị và quản lý an sinh xã hội tại thành phố Đà Nẵng.