CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC Mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC là chủ đề thu hút khá nhiều sự quan tâm của các học giả, nhà nghiên cứu trên thế giới, trong đó có thể kể đến một số hướng tiếp cận nghiên cứu chủ yếu sau: Hướng nghiên cứu chú trọng những yếu tố thay đổi sau TĐC, xác định những thay đổi có nguyên nhân từ việc TĐC và chỉ ra cách mà người dân địa phương giải quyết sự thay đổi đó của Maruyama (2003); Hướng nghiên cứu, đánh giá tác động của TĐC đến sinh kế và dân số của Bisrat Worku (2011); Hướng nghiên cứu về tác động của TĐC đến sinh kế và an ninh lương thực, nguồn vốn thiên nhiên, chú ý đến sự tác động gián tiếp đối với người dân bản địa sống lâu đời trên vùng đất được bố trí TĐC của Moti Jaleta (2011).
Những nghiên cứu này thông qua dữ liệu sơ cấp và thứ cấp đã đánh giá được tác động của TĐC đến cả sinh kế lẫn các mối quan hệ xã hội của cộng đồng TĐC. Các nghiên cứu nhận định, đa phần sau TĐC đời sống người dân thấp, họ phải rất chật vật trong sinh kế của mình, để từ đó đưa ra nhiều giải pháp thiết thực. Tuy nhiên, những công trình này không có những thao tác mô tả các hoạt động sinh kế thích ứng của người dân TĐC nên chưa xác định được trước hoàn cảnh mới, người dân TĐC đã có sinh kế thích ứng gì và xu hướng phát triển của chúng như thế nào. Nhóm nghiên cứu về sinh kế thích ứng Nghiên cứu về sinh kế thích ứng được thực hiện ở nhiều châu lục trên thế giới, ở châu Á, châu Âu, châu Phi và Mỹ,.
Tuy nhiên phần lớn những nghiên cứu này tập trung nghiên cứu về thích ứng trước biến đổi khí hậu. Về sinh kế thích ứng do CNH, HĐH, có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả như Mihret Jember Bahry (2010), Sinavong Phonevilay (2013), Ryo Fujikura và Mikiyasu Nakayama (2019). Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nhóm nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC Mối quan hệ giữa sinh kế và TĐC cũng là chủ đề thu hút khá nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam, trong đó có thể kể 5 đến một số hướng tiếp cận nghiên cứu chur yeeus gồm:- Hướng nghiên cứu về sinh kế sau TĐC do tác động của quá trình CNH - HĐH ở đô thị; Hướng nghiên cứu về sinh kế sau TĐC do tác động của quá trình CNH – HĐH ở nông thôn và ven đô, Hướng nghiên cứu về sinh kế sau TĐC do tác động của quá trình CNH – HĐH ở miền núi, ven biển và ở vùng xây dựng thủy điện - Nghiên cứu sinh kế sau TĐC do tác động của ĐTH ở đô thị chủ yếu là những nghiên cứu xã hội học theo hướng xã hội học đô thị.
Đây là hướng nghiên cứu đóng góp nhiều trong điều tra xã hội học, cho ra những kết quả thiết thực. Tuy nhiên, nhóm các công trình nghiên cứu này không chú trọng đến việc tìm kiếm, mô tả sinh kế thích ứng mà tập trung vào thực trạng đời sống của người dân sau TĐC. - Nghiên cứu về sinh kế sau TĐC do tác động ĐTH ở nông thôn và ven đô khá phong phú, đóng góp về mặt lý thuyết, phương pháp nghiên cứu lẫn thực tiễn, lý giải về ĐTH, CNH trong mối quan hệ với sinh kế, các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm, các hướng giải quyết sinh kế cho người dân hậu TĐC,. Tuy nhiên, các công trình này có sự hạn chế về đối tượng nghiên cứu, khi chỉ tập trung đến các hộ nông dân và không đặt mục tiêu đối sánh với các loại hộ khác.
- Nghiên cứu sinh kế sau TĐC do tác động của ĐTH ở miền núi và nhiên cứu về sinh kế sau TĐC do tác động của dự án thủy điện tập trung phân tích các nguồn lực sinh kế và sinh kế sau TĐC, đề ra các phương án phục hồi sinh kế, dù không trực tiếp nhưng ít nhiều có đề cập đến sinh kế thích ứng gắn với nguồn lực sinh kế và giải pháp cho những vấn đề hậu TĐC. Nhóm nghiên cứu sinh kế thích ứng Sinh kế là vấn đề cốt lõi và cơ bản nhất của cư dân sau TĐC, tuy nhiên cho đến nay, các nghiên cứu tập trung phần lớn nghiên cứu vào biến đổi sinh kế và sinh kế bền vững. Số lượng nghiên cứu về chủ đề sinh kế thích ứng còn khá khiêm tốn và rải rác, có thể kể đến một số nghiên cứu của Nguyễn Gia Đôi, Nguyễn Anh Tuấn, Lê Hải Đăng (2012) với bài viết “Môi trường và thích ứng của người thời tiền sử ở khu vực Tràng An”; Nghiên cứu sinh kế thích ứng trước biến đổi khí hậu của tổ chức Oxfam tại hai tỉnh Bến Tre và Quảng Trị vào tháng 5/2008, về cuộc sống của các gia đình nghèo đối phó với thiên tai, lũ lụt như là những hoạt động sinh kế thích ứng: cách thu hoạch vụ lúa trước mùa lũ chính; không trồng sắn trong mưa lũ và trồng thêm cây gần sông để phòng hộ tốt hơn; xây dựng và bảo dưỡng các hệ thống 6 thủy lợi nhỏ hoặc các hệ thống đê kè nhằm bảo vệ ruộng lúa khi lũ về; trồng các loại giống lúa khác hoặc hoa màu thay thế,.; Hoàng Ngọc Tường Vân (2013) với bài viết “Mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu tại vùng trũng thấp ở tỉnh Thừa Thiên Huế” ; Ngô Thị Phương Lan (2014) với nghiên cứu “Từ lúa sang tôm: Hành vi giảm thiểu rủi ro và khai thác vốn xã hội của nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long”. Trong khi các nghiên cứu về sinh kế nói chung tương đối phong phú, những nghiên cứu về sinh kế thích ứng, đặc biệt là vấn đề thích ứng trước những tác động của xã hội lại khá khiêm tốn và còn thiếu chuyên sâu.
Một số công trình nghiên cứu về sinh kế thích ứng sau TĐC như nghiên cứu của Oxfam, Ngô Thị Phương Lan, Hoàng Ngọc Tường Vân, Đỗ Thị Nâng, Nguyễn Văn Ga,. đã phần nào thể hiện được bức tranh chuyển đổi sinh kế sau TĐC. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đề cập điều kiện tác động mà ít chú trọng hướng đến đối tượng là người dân TĐC vốn mang trong mình những đặc điểm tổn thương riêng biệt. Một số nghiên cứu chỉ chú trọng đề xuất mô hình sinh kế thích ứng trên cơ sở thực trạng đời sống, môi trường của người dân cho cơ quan có thẩm quyền tham khảo và vận dụng, mà ít chú ý tìm hiểu sinh kế thích ứng tiềm tàng của các hộ TĐC.
Những kết quả luận án kế thừa và các vấn đề đặt ra cần giải quyết 1. Những kết quả luận án kế thừa Tổng quan những nghiên cứu liên quan đến vấn đề Sinh kế thích ứng của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng trong quá trình CNH, HĐH cho thấy sự đa dạng, phong phú trong những nghiên cứu liên quan này. Mỗi bài viết, mỗi công trình đứng dưới những góc độ khác nhau để giải quyết vấn đề, gợi mở nhiều ý tưởng để luận án kế thừa và phát triển. Hầu hết các tiếp cận nghiên cứu về sinh kế chủ yếu dựa theo khung sinh kế bền vững [25].
Đây cũng là hướng tiếp cận chủ đạo của các tổ chức phi chính phủ (NGO) tại Việt Nam trong việc xóa đói giảm nghèo trong nhiều thập kỷ qua, với cam kết và khẳng định là cần phải xây dựng các giải pháp để duy trì và đảm bảo sinh kế bền vững. Trong những thập niên qua, Ngân hàng thế giới tiếp cận và xây dựng chương trình giảm nghèo với kế hoạch hành động, chính sách được nghiên cứu và điều chỉnh theo hướng bền vững, ưu tiên các cộng đồng đối tượng yếu thế, chịu nhiều tác động. 7 Những nghiên cứu được đề cập đã cung cấp cho NCS không ít thông tin, dữ liệu để phục vụ cho luận án của mình. Trước hết, chúng không những cung cấp nguồn tư liệu đa dạng, phong phú cho luận án mà còn gợi mở nhiều ý tưởng, cách tiếp cận nghiên cứu cho NCS trong quá trình thực hiện luận án.
Rõ ràng nhất, luận án sẽ kế thừa về mặt lý thuyết, công cụ, phương pháp tiếp cận sinh kế của Oxfam Anh, UNDP, WB,… Nội dung này được vừa được thể hiện trong những tài liệu của các tổ chức này, vừa được thể hiện trong các tài liệu nghiên cứu vận dụng đã được luận án đề cập ở trên. Ngoài ra, luận án còn kế thừa một số thông tin, số liệu từ các nghiên cứu ở Việt Nam, đặc biệt là tại địa phương Đà Nẵng, làm căn cứ để so sánh, đối chiếu nhằm phát hiện ra bản chất của vấn đề nghiên cứu. Các vấn đề đặt ra cần giải quyết Trên cơ sở những kế thừa trên, với vai trò là một vấn đề bức thiết và có yêu cầu khoa học cao, luận án Sinh kế thích ứng của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng trong quá trình CNH, HĐH đòi hỏi NCS phải có sự dày công tìm tòi, nghiên cứu, giải quyết các vấn đề đặt ra sau: - Nghiên cứu cơ sở lý luận về sinh kế thích ứng bao gồm khái niệm sinh kế thích ứng, cấu trúc của sinh kế thích ứng. Nội dung này hiện nay chưa được đề cập với tư cách là một nội dung trọng tâm trong các nghiên cứu đã được đề cập ở trên.
- Nghiên cứu cấu trúc sinh kế thích ứng của cư dân TĐC Đà Nẵng trước quá trình CNH, HDH. Trong bối cảnh CNH, HĐH ở thành phố Đà Nẵng đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở nhiều thập kỷ qua, nghiên cứu cấu trúc sinh kế thích ứng sẽ vẽ nên bức tranh sinh kế thích ứng của cư dân sau TĐC ở thành phố Đà Nãng, từ đó tạo nền tảng, cơ sở để đánh giá khả năng thích ứng trong sinh kế của nhóm cư dân này. - Gợi mở một số động thái nhằm nâng cao tính thích ứng trong sinh kế của cư dân TĐC ở thành phố Đà Nẵng. Một số khái niệm, lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm Trong phần này, trước khi đi vào trình bày, luận giải các lý thuyết sẽ được áp dụng trong đề tài, luận án tiếp cận một số khái niệm về: sinh kế, sinh kế bền vững, nguồn lực sinh kế, thích ứng, sinh kế thích ứng, tái định cư, công nghiệp hóa, hiện đại hóa.