Đặt vấn đề Biển đổi khí hậu (BĐKH) là do tự nhiên cũng như các tác động của con người gây ra, và ngày càng trở nên trầm trọng hơn do sự gia tăng tốc độ thải các khí nhà kính từ hoạt động của con người[38, 39], Việc gia tăng các hoạt động đốt nhiên liệu hóa thạch và thay đổi mục đích sử dụng đất theo hướng tiêu cực đã dẫn đến tăng lượng khí nhà kính vào khí quyển[36]. Những tác động bất lợi đến môi trường và xã hội của BĐKH sẽ làm giảm khả năng phục hồi của nhiều cộng đồng, đặc biệt là những người nghèo nhất và về lâu dài có thể làm suy yểu khả năng ứng phó với BĐKH của xã hội[28, 40]. Cho đến nay, mối quan tâm và sự nỗ lực của các quốc gia trên thế giới tập trung chủ yếu vào giải quyết những rủi ro của BĐKH đối với năng suất kinh tế, sinh kể, du lịch, cơ sở hạ tầng và các loài có giá trị[33,46]. Tuy nhiên, BĐKH ngày càng được công nhận là mối đe dọa lớn nhất đối với sức khoẻ toàn câu[25].
Nhiệt độ tăng, mực nước biển dâng, sự thay đổi mô hình lượng mưa, những sự kiện thời tiết cực đoan xảy ra thường xuyên và nghiêm trọng đã gây ra những tác động tiêu cực đến các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sức khỏe con người, bao gồm nước và không khí sạch, sự đầy đủ về thực phẩm và nơi sổng an toàn[45]. Những tác động đáng kể tới sức khoè gây ra bởi BĐKH bao gồm căng thẳng nhiệt do các đợt sóng nhiệt; chấn thương gây ra bởi các sự kiện thời tiết cực đoan như bão, hoả hoạn, lũ lụt; sự bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm (BTN) do thay đổi mô hình các bệnh do muồi truyền và các bệnh lây lan qua nước. Ngoài ra, chế độ dinh dưỡng kém do giảm khả năng cung cấp thực phẩm và khả năng chi trả, tác động tâm lý xã hội gây ra bởi hạn hán cũng như sự di cư của cộng đồng[49] cũng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Rõ ràng, BĐKH làm suy yếu quyền cơ bản về y tế, đặc biệt ở những nhóm dân cư sống ở những vùng có điều kiện bất lợi về địa lý và kinh tể - xã hội[30].
Do vậy, hiểu rõ những tác động hiện tại và tương lai của BĐKH đến sức khoẻ con người có vai trò vô cùng quan trọng đối với khoa học và sức khoẻ cộng đồng ở cả ba cấp địa phương, quốc gia và quốc tể[33, 46], Công ước khung của Liên Hiệp 2 Quốc về BĐKH (UNFCCC) tuyên bố rằng các biện pháp nhằm mang lại lợi ích cho toàn xã hội cần được ưu tiên và đảm bảo sức khỏe cho người dân là một trong những lợi ích xã hội rõ nhất[45]. Chăm sóc sửc khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) có vai trò vô cùng quan trọng trong việc chuẩn bị và ứng phó với những mối đe dọa đến sức khỏe của BĐKH, đặc biệt ở những quần thể dễ bị tác động bởi BĐKH[49]. Thích ứng với BĐKH đòi hỏi những giải pháp đúng đắn nhằm giảm những tác động tiêu cực do BĐKH gây ra bàng những điều chỉnh và thay đổi phù hợp[35]. Nhiều biện pháp thích ứng với BĐKH có thể giúp giảm gánh nặng bệnh tật và tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng[41].
Để ngăn ngừa những nguy cơ về sức khỏe do BĐKH gây ra ở hiện tại và tương ỉai, việc lên kế hoạch sớm những chiến lược phù hợp và tăng cường hệ thống y tế của đất nước là rất cần thiết [53]. Tìm hiểu các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của ngành y tế trên thế giới và Việt Nam 2. Phân tích những thuận lợi và khó khăn của các giải pháp thích ứng với biển đổi khí hậu của ngành y tế tại Việt Nam III. Tài liệu và phương pháp 3.
Tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ tài liệu tham khảo (TLTK) 3. Tiêu chuẩn lựa chọn > Loại tài liệu: báo cáo nghiên cứu, bài báo, luận án, luận văn, bài tổng quan tài liệu, sách. > Ngôn ngữ của tài liệu: tiêng Anh hoặc tiếng Việt. > Được đăng trên các tạp chí khoa học, các báo cáo thống kê, đề tài nghiên cứu khoa học, luận án, luận vãn, trang web của các tổ chức uy tín.
> Nội dung liên quan đến các giải pháp thích ứng với BĐKH cùa ngành y tế các nước trên thế giới và Việt Nam. Tiêu chuẩn loại trừ > Tài liệu từ những nguồn thông tin không tin cậy hoặc không có thông tin về tác giả. 3 > Những tài liệu xuất bản từ năm 2000 trờ về trước. Các từ khóa sử dụng để tìm kiếm 3.
Từ khóa tiếng Việt: “biến đổi khí hậu”, “biến đổi khí hậu và ngành y tế”, “biển đổi khí hậu và sức khỏe”, “thích ứng với biến đổi khí hậu”, “sốt xuất huyết dengue”, “sốt rét”, “tiêu chảy”, “cúm”, “sốc nhiệt”, “đột quỵ”, “tim mạch”, “chấn thương”, “thời tiết cực đoan”, “cảnh báo sớm”. Từ khóa tiếng Anh: “climate change”, “health”, “health adaptation”, “adaptation”, “health sector and climte change”, “climate change effects”, “infectious deseases”, “outbreak”, “surveilance”, “dengue fever”, “malaria”, “diarrhea”, “flu”, “heat stress”, “stroke”, “cardio vascular diseases”, “injuries”, “extreme weather events”, “early warning”. Nguồn tài liệu tham khảo > Cơ sở dữ liệu: Pubmed, ScienceDirect. > Các trang thông tin điện tử của các tổ chức uy tín trên Thế giới và Việt Nam về lĩnh vực Y tế, Sức khoẻ môi trường như: Bộ Y tể, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổ chức Y tế thế giới (WHO), IPCC, Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC).
> Các bài báo đăng tải trên các tạp chí tiếng Việt chuyên ngành, tạp chí khoa học, nghiên cứu đã công bố về các giải pháp thích ứng với BĐKH của ngành y tế các nước trên thế giới và Việt Nam. So’ đồ kết quả thu thập thông tin Trong tổng số 175 tài liệu đã tìm được ban đầu thì có 136 tài liệu được chọn lọc và đọc tóm tắt. Sau khi tác giả đọc kỹ tiêu đề và phần tóm tắt của 136 tài liệu thì chọn ra được 83 tài liệu phù hợp. Tác giả đọc bản toàn văn và chọn ra 68 tài liệu đạt yêu cầu và phù hợp về nội dung (gồm 14 TLTK tiếng Việt và 54 TLTK tiếng Anh) đê sử dụng trong bài viết, trong đó tất cả các tài liệu được chọn được công bố từ năm 2000 trở lại đây.
Một số định nghĩa liên quan 4. Biến đổi khí hậu Sự thay đổi của khí hậu trong quá khứ dẫn đến các điều kiện thời tiết mới hoặc bất ngờ, ví dụ như nhiệt độ ban đêm trở nên ấm hơn trong mùa lạnh, mùa hè trở nên nóng hơn hoặc các có các đợt nóng kéo dài, thay đổi thời gian mùa mưa hoặc thay đổi về tần suất các cơn mưa có cường độ lớn. BĐKH còn dẫn đến các điều kiện cực đoan vượt quá số liệu lịch sử ghi được, như các đợt nóng vượt quá tất cả số liệu trước đây ghi nhận được, hạn hán kéo dài hơn hoặc khởi phát sớm hơn so với trước. Hệ thống Y tế Hệ thống y tế bao gồm tất cả các tổ chức, thể chế và nguồn lực dành cho các hoạt động chủ yếu nhằm cải thiện, duy trì hoặc khôi phục sức khoẻ[44].
Giải pháp thích ứng Sự thích ứng/thĩch nghi: Hành động nhằm giảm thiểu ảnh hưởng, tận dụng lợi thế, hoặc đối phó với những biến đổi của khí hậu đang xảy ra hoặc cỏ thể sẽ xảy ra; khả năng thay đổi chiến lược để ứng phó với các biến đổi về hoàn cảnh trong hiện tại hoặc có thể xảy ra trong tương lai[3]. Giải pháp thích ứng/thỉch nghi: Những hành động cụ thể thực hiện tại một địa điểm cụ thể ở một thời điểm cụ thể để giảm thiểu các tác động của BĐKH đang xảy ra hoặc có thể xảy ra[3]. Mức độ nguy cơ trưóc thảm họa Mức độ nguy cơ (trước thảm họa) được sử dụng để chỉ sự hiện diện (theo vị trí) của con người, sinh kế, các dịch vụ môi trường và các nguồn tài nguyên, cơ sở hạ tầng, hoặc các tài sản kinh tế, xã hội hoặc văn hóa ở những nơi có thể chịu những ảnh hưởng bất lợi bởi các hiện tượng tự nhiên và vì thế có thể là đối tượng của những tổn hại, mất mát, hư hỏng tiềm tàng trong tương lai[24]. Tính dễ bị tổn thương vói biến đổi khí hậu Tính dễ bị tổn thương với BĐKH được Ban liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (1PCC) định nghĩa là “mức độ mà một hệ thống không thể chịu được hoặc không có khả năng chống lại các tác động tiêu cực của BDKH, bao gồm sự biến động khí hậu và khí hậu cực đoan[8].
Khả năng chống chịu Đo lường khả năng hiện tại của một cộng đồng trong việc chịu đựng và phục hồi từ các tác động của nguy cơ bàng cách nhanh chóng bảo quản hoặc khôi phục lại cấu trúc, chức năng, tính chất căn bản của cộng đồng đó[8]. Các vấn đề sức khỏe nhạy cảm với BĐKH Bảng 1: Một sổ ảnh hưởng cùa BĐKH đến sức khỏe con người Vùng địa lý dễ bị tổn Nhóm đổi tượng dễ Nhóm bệnh Nguyên nhân chính thưong bi tổn thương Nhiệt độ tăng[42], số đợt Những nước đang Người nghèo, BTN (Lây năng nóng và sô ngày phát triển, những người dân tộc 6 truỵên qua năng nóng tăng lên. vùng có năng lực thiếu số vector và Chất lượng và an ninh ứng phóthấp[35]. Phụ nữ, trẻ em, nước) nước không đảm bảo[64] Những quốc gia trên người cao tuổi Sự thay đổi mô hình các đảo Thái Bình Người có bệnh mạn bệnh truyền qua muỗi và Dương, quốc gia nằm tính, người tàn tật nưởc[49] ven biển[64].
Người sống ở những vùng có tỷ lệ cao Bệnh không ô nhiễm không khí, các những bệnh và nguy lây nhiễm: dị chất không bay hơi [65] cơ nhạy cảm với khí ứng, hen hậu Công nhân tiếp suyễn, tim xúc với nhiệt độ mạch, đột khắc nghiệt hay sự quỵ. biến đổi thời tiết Các sự kiện thời tiết cực ngày càng gia Chấn đoan (Bão, hỏa hoạn, lũ tãng[32]. thương lụt,.)[49]^^^ Đợt sóng nhiệt[49] Rối loạn liên quan đến nhiệt Giảm khả năng cung cấp Chế độ dinh thực phẩm và khả năng chi dưỡng kém trả[49] Các sự kiện thời tiết cực Rổi loạn đoan và sự di cư của cộng căng thẳng sau đồng[49] chấn thương và trầm cảm 7 4. Giải pháp thích ứng với BĐKH của hệ thống y tế các nưóc 4.
Trên thế giói a.