phần mở đầu và kết luận, nội dung gồm 3 chƣơng nhƣ sau : Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về thi tuyển công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng thi tuyển công chức tại cơ quan hành chính Thành phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Giải pháp đổi mới thi tuyển công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc. 6 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ THI TUYỂN CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 1.
Khái quát chung về thi tuyển công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc 1. Khái niệm cơ quan hành chính nhà nước Bộ máy nhà nƣớc là một chỉnh thể thống nhất, đƣợc tạo thành bởi các cơ quan nhà nƣớc. Bộ máy nhà nƣớc Việt nam gồm bốn hệ thống cơ quan chính: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan toà án và cơ quan kiểm sát. Cơ quan hành chính nhà nƣớc là bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nƣớc, đƣợc thành lập để thực hiện chức năng quản lí hành chính nhà nƣớc.Do vậy, ngoài những đặc điểm chung nhƣ các hệ thống cơ quan khác, cơ quan hành chính nhà nƣớc có những đặc điểm đặc thù nhƣ sau: - Cơ quan hành chính nhà nƣớc có chức năng quản lý hành chính nhà nƣớc, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong khi đó các cơ quan nhà nƣớc khác chỉ tham gia vào hoạt động quản lý trong phạm vi, lĩnh vực nhất định.
- Cơ quan hành chính nhà nƣớc nói chung là cơ quan chấp hành, điều hành của cơ quan quyền lực nhà nƣớc: - Cơ quan hành chính nhà nƣớc là hệ thống cơ quan có mối liên hệ chặt và có đối tƣợng quản lý rộng lớn. - Cơ quan hành chính nhà nƣớc có chức năng quản lý nhà nƣớc dƣới hai hình thức là ban hành các văn bản quy phạm và văn bản cá biệt trên cơ sở hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của các cơ quan hành chính nhà nƣớc cấp trên nhằm chấp hành, thực hiện các văn bản đó. Mặt khác trực tiếp chỉ đạo, điều hành, kiểm tra.hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nƣớc dƣới quyền và các đơn vị cơ sở trực thuộc của mình. 7 Tóm lại, cơ quan hành chính nhà nƣớc là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nƣớc, trực thuộc cơ quan quyền lực nhà nƣớc một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, trong phạm vi thẩm quyền của mình thƣc hiện hoạt động chấp hành - điều hành và tham gia chính yếu vào hoạt động quản lý nhà nƣớc.
Hiện nay, hệ thống cơ quan hành chính nhà nƣớc bao gồm cơ quan hành chính nhà nƣớc ở Trung ƣơng, trong đó: - Chính phủ bao gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ, Thủ tƣớng Chính phủ thành lập; - Cơ quan hành chính ở địa phƣơng gồm: Ủy ban nhân dân các cấp và hệ thống cơ quan có thẩm quyền chuyên môn ở địa phƣơng. Khái niệm công chức trong cơ quan hành chính nhà nước * Về khái niệm công chức Một nền hành chính sẽ không thể vận hành hay đi vào hoạt động nếu thiếu một trong các yếu tố: hệ thống thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính, đội ngũ công chức hành chính, nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật. Trong đó có thể nói yếu tố con ngƣời - đội ngũ công chức hành chính luôn là yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định nhất. Nói cách khác, pháp luật sẽ không thể đƣợc thực thi và áp dụng vào đời sống nếu thiếu vắng nguồn nhân lực đứng ra để tạo dựng cơ chế, cách thức và thực hiện nó.
Đây chính là nhiệm vụ và vai trò quan trọng của đội ngũ công chức. Đội ngũ công chức là những ngƣời có vị trí trong hệ thống cơ quan nhà nƣớc, có chức năng thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội. Công chức là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, là chủ thể thực sựtiến hành các công vụ cụ thể và cũng chính là yếu tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động, vận hành có hiệu lực, hiệu quả. Ở nƣớc ta, khái niệm công chức đã xuất hiện từ những năm 50 và đang ngày càng hoàn thiện.
Ngày 20 tháng 5 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã 8 ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây đƣợc xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức"[10]. Nhƣ vậy, theo quy chế này, những đối tƣợng đƣợc xác định là công chức còn quá ít, chỉ bao gồm những ngƣời giữ chức vụ trong “cơ quan hành chính nhà nƣớc” mà không bao gồm những ngƣời làm việc tại các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của nhà nƣớc hay các cơ quan khác nhƣ Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Đến thời kỳ đổi mới (sau năm 1986), trƣớc yêu cầu khách quan cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hóa đội ngũ cán bộ công chức nhà nƣớc, khái niệm công chức đƣợc sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 của Chính phủ.
Nghị định nêu rõ: “Công dân Việt nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước” [13].Nhƣ vậy, khái niệm công chức tại Nghị định này đã đƣợc xác định rõ ràng và nhiều tiêu chí hơn so với Sắc lệnh 76/SL rất nhiều, đặc biệt Nghị định còn nêu ra chế độ làm việc của công chức là theo ngạch, bậc và hƣởng lƣơng từ Ngân sách nhà nƣớc. So với Nghị định 169/HĐBT chỉ đƣa ra khái niệm công chức, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 ra đời, là văn bản pháp lý cao nhất của nƣớc ta về cán bộ, công chức, đã đƣa ra khái niệm chung về cán bộ, công chức. Theo Pháp lệnh, những ngƣời làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, đoàn thể đƣợc gọi chung trong một cụm từ là “cán 9 bộ, công chức”. Lúc này, phạm vi và đối tƣợng đã đƣợc thu hẹp lại hơn so với trƣớc nhƣng vẫn gồm cả khu vực hành chính, khu vực sự nghiệp và các cơ quan của Đảng, đoàn thể.
Vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức cũng chƣa xác định đƣợc. Những ngƣời làm việc trong các tổ chức, đơn vị còn lại nhƣ doanh nghiệp nhà nƣớc, lực lƣợng vũ trang thì do các văn bản pháp luật về lao động, về sĩ quan quân đội nhân dân Việt Nam, về công an nhân dân. Với quy định của Pháp lệnh cán bộ, công chức, các tiêu chí: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hƣởng lƣơng từ Ngân sách nhà nƣớc mới chỉ là những căn cứ để xác định một ngƣời có phải là "cán bộ, công chức" hay không. Tuy nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chƣa đƣợc giải quyết.Dƣới Pháp lệnh là Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.
Nghị định đã cụ thể hóa khái niệm công chức “là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng”[7]. Sau hai lần sửa đổi, năm 2003, Pháp lệnh Cán bộ, công chức cho khái niệm gộp cả cán bộ, công chức và chỉ rõ 8 đối tƣợng đƣợc xác định là cán bộ công chức [22] Luật Cán bộ, công chức đƣợc Quốc hội nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2010. Khoản 2 Điều 4 quy định về công chức: 10 “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”[19] Nhƣ vậy, sau nhiều lần quy định về khái niệm cán bộ, công chức, Luật Cán bộ công chức năm 2008 đã phân định một cách rõ ràng ai là cán bộ, ai là công chức.
Hơn nữa khái niệm công chức cũng đƣợc xác định cụ thể bao gồm công chức các cấp: công chức trung ƣơng, công chức cấp tỉnh và công chức cấp xã. Qua việc phân tích khái niệm công chức và cơ quan hành chính nhà nƣớc, ta rút ra khái niệm công chức trong cơ quan hành chính nhà nƣớc: Công chức trong cơ quan hành chính nhà nước là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong hệ thống cơ quan quản lý nhà nước từ Trung ương đến địa phương bao gồm các cơ quan thuộc Chính phủ là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND các cấp trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Khái niệm thi tuyển công chức Thi tuyển công chức là một hình thức tuyển dụng công chức. Trong khoa học pháp lý, “tuyển dụng công chức” là quá trình bổ sung những ngƣời đủ tiêu chuẩn, điều kiện vào trong cơ quan hành chính nhà nƣớc.