Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH DÂN SỰ TRONG BẢN ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm, căn cứ áp dụng quyết định dân sự trong bản án hình sự 1. Khái niệm, đặc điểm quyết định dân sự trong bản án hình sự 1. Khái niệm quyết định dân sự trong bản án hình sự Trong các bản án, quyết định hình sự của Tòa án, bên cạnh các quyết định về hình phạt tù, hình phạt tiền, tịch thu tài sản còn có các quyết định dân sự khác. Các quyết định dân sự khác trong bản án hình sự ở đây gồm: quyết định về án phí; quyết định dân sự thuộc phần các biện pháp tư pháp qui định tại Chương VII- BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như: quyết định tịch thu vật, tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm (Điều 47); quyết định trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; quyết định buộc công khai xin lỗi (Điều 48).
Mặc dù trong BLHS hiện hành có qui định một số vấn đề dân sự mà Tòa án quyết định trong bản án hình sự, nhưng không có qui phạm định nghĩa về “ quyết định dân sự trong bản án hình sự”. Do vậy, trong khoa học Luật hình sự, khoa học Luật dân sự còn một số quan điểm khác nhau về quyết định dân sự trong bản án hình sự. Theo tác giả Đinh Văn Quế, thì vấn đề dân sự trong án hình sự chỉ bao gồm các khoản tiền, tài sản có liên quan trong việc trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 42 BLHS năm 2003 (nay là Điều 46 BLHS năm 2015), điều đó có nghĩa là giải quyết vấn đề dân sự trong án hình sự chỉ bó hẹp trong phạm vi “trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng” (quy định tại Chương V- BLDS 1995), nay là Chương XX BLDS 2015. Tại Công văn số 121/2003/KHXX của TANDTC ngày 19/9/2003 hướng dẫn việc giải quyết vấn đề dân sự trong các vụ án hình sự đã đề cập đến các vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại bao gồm các khoản: đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường giá trị tài sản do bị chiếm đoạt, nhưng đã bị mất, hoặc bị hủy 6 hoại; buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
Như vậy Công văn này đã liệt kê cụ thể những vấn đề dân sự (vấn đề liên quan đến tài sản, bồi thường thiệt hại) mà Tòa án có thể quyết định trong bản án hình sự. Theo Đại từ điển tiếng Việt, thì thuật ngữ “quyết định” được giải nghĩa là “Định ra, đề ra và dứt khoát phải làm” [55, trang 1312]. Từ nhận thức như vậy, có thể đưa ra khái niệm về quyết định dân sự trong bản án hình sự như sau: “Quyết định dân sự trong bản án hình sự là phán quyết pháp lý về những vấn đề dân sự do Tòa án có thẩm quyền đề ra trong các bản án hình sự mà người bị kết án có nghĩa vụ phải chấp hành”. Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 là một nguyên tắc cơ bản và phải được thực hiện với tư cách là quyền yêu cầu của những người tham gia tố tụng, viện kiểm sát.
Do vậy, việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự chỉ phát sinh khi có yêu cầu từ phía người bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và viện kiểm sát. Luật áp dụng điều chỉnh trong vấn đề giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự bao gồm pháp luật dân sự, tố tụng dân sự nhằm điều chỉnh quan hệ bồi thường, bồi hoàn. Theo đó, các nguyên tắc, các quy định của luật dân sự, tố tụng dân sự như tự do tự nguyện thỏa thuận, hòa giải, xác định thiệt hại…được áp dụng khi giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự. Đặc điểm quyết định dân sự trong bản án hình sự Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có liên quan đến việc giải quyết vấn đề dân sự, mặc dù việc hòa giải không phải là nguyên tắc trong tố tụng hình sự.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cũng thường hướng tới việc để cho các bên bị can, bị cáo hoặc người đại diện của họ thỏa thuận với bị hại, đại diện người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự. Chính vì thế, trong quá trình giải quyết vụ án có gắn với 7 việc giải quyết vấn đề dân sự, nhiều vụ án các bên đương sự đã tự nguyện thỏa thuận với nhau về vấn đề dân sự để khắc phục hành vi phạm tội gây ra. Thực tế cho thấy có trường hợp bồi thường, bồi hoàn một phần hoặc chưa bồi thường, bồi hoàn nhưng có sự thỏa thuận sẽ tiếp tục bồi thường, bồi hoàn. Trong các trường hợp này, phán quyết trong bản án của Tòa án sẽ nhận định “Vấn đề dân sự không đề cập đến vì bị hại, hoặc đại diện người bị hại không yêu cầu giải quyết” hoặc “Ghi nhận sự thỏa thuận của bị cáo với bị hại”.
Cùng là giải quyết vấn đề dân sự, nhưng việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự có những điểm giống và khác nhau với việc giải quyết tranh chấp dân sự theo tố tung dân sự. Những điểm giống nhau là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự cũng phải tuân theo nguyên tắc trong tố tụng dân sự, đó là quyền tự quyết định và tự định đoạt của các đương sự, đồng thời cũng phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự. Những điểm khác nhau là việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được áp dụng theo thủ tục tố tụng hình sự và không áp dụng thủ tục hòa giải. Ngoài ra, trong việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự thì nghĩa vụ chứng minh, thu thập chứng cứ thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Trong khi giải quyết tranh chấp dân sự thì nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh thuộc về các bên đương sự. Từ khái niệm trên có thể rút ra các đặc điểm của quyết định dân sự trong bản án hình sự sau đây: + Một là, xét về tính chất: quyết định dân sự trong bản án hình sự là những quyết định có tính chất pháp lý, nghĩa là phải do pháp luật qui định. Vì thế, những quyết định không được qui định trong các văn bản pháp luật thì không phải là quyết định dân sự trong bản án hình sự. + Hai là, nội dung của quyết định dân sự trong bản án hình sự chỉ bao gồm những phán quyết của Tòa án về những vấn đề dân sự.
Đây là những quyết định về hình phạt tiền, hình phạt tịch thu tài sản; về án phí; quyết định tịch thu vật, tiền liên quan trực tiếp đến tội phạm; quyết định trả lại tài sản, sửa chữa bồi thường thiệt hại, quyết định công khai xin lỗi v.v… 8 + Ba là, về hình thức thể hiện: các quyết định dân sự nêu trên phải được thể hiện trong bản án, quyết định hình sự. + Bốn là, về chủ thể có thẩm quyền ban hành: các quyết định này phải do Tòa án có thẩm quyền ban hành. + Năm là, về đối tượng phải chấp hành: cá nhân người bị kết án hoặc pháp nhân thương mại bị kết án. Những cá nhân, tổ chức này buộc phải chấp hành, bởi đó là nghĩa vụ pháp lý của họ.2 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa thi hành các quyết định dân sự trong bản án hình sự 1.
Khái niệm, đặc điểm 1. Khái niệm Trong bản án, quyết định hình sự, ngoài phán quyết về trách nhiệm hình sự, còn có các phán quyết liên quan đến trách nhiệm dân sự mà theo quy định của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 thì các quyết định dân sự về tiền, tài sản trong bản án hình sự do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Ngoài những quy định chung về thủ tục thi hành án. Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014) dành 01 Mục với 8 Điều (Từ Điều 122 đến Điều 129) quy định về thi hành các khoản tịch thu sung quỹ nhà nước, tiêu hủy tài sản, tang vật, hoàn trả tiền, tài sản kê biên tạm giữ trong bản án, quyết định hình sự.
Hiện nay, Thi hành án là đề tài không mấy mới mẻ, nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều vấn đề được đặt ra đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách toàn diện hơn. Bởi lẽ, diễn biến việc thi hành án trong thực tiễn còn rất nhiều khó khăn, vướng mắc, phức tạp và có nhiều biến động qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, nhưng việc triển khai nghiên cứu lý luận về thi hành án vẫn còn rất hạn chế. Các công trình nghiên cứu về pháp luật THADS, nhìn tổng thể chủ yếu liên quan đến vấn đề lý luận về THADS, tổ chức THADS và thủ tục THADS. Thi hành các quyết định dân sự trong bản án hình sự là một dạng thi hành án.
Do vậy, để có thể đưa ra được một khái niệm khoa học về vấn đề này, trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm “thi hành”, “thi hành án”. 9 Theo Đại từ tiếng Việt thì thuật ngữ “thi hành” được hiểu là “thực hiện điều đã chính thức quyết định [55, tr. Từ lôgic này có thể hiểu, thi hành án là đem bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực ra thi hành trên thực tế. Bản án, quyết định của Tòa án có thể là bản án, quyết định hình sự, dân sự, hành chính v.v…Đây là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên Tòa để giải quyết những vấn đề trong vụ án.
Quan điểm thứ nhất của TS. Phan Hữu Thư và ThS. Nguyễn Công Bình cho rằng: “thi hành án là một giai đoạn của tố tụng” [56]. Nhóm đồng quan điểm này cho rằng: “Có xét xử thì phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của công tác xét xử.
Xét xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của đương sự”[56].