Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi lợn là ngành kinh tế truyền thống giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm và tạo nguồn thu nhập cho nông hộ và doanh nghiệp tại Việt Nam. Nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, công tác giống có bước chuyển biến mạnh mẽ với sự ra đời của các mô hình chăn nuôi trang trại công nghiệp sử dụng các giống lợn nái ngoại cao sản như Landrace, Yorkshire và Duroc. Tuy nhiên, các giống lợn ngoại nhập thường nhạy cảm với điều kiện thời tiết nóng ẩm và sự thay đổi đột ngột của tiểu khí hậu chuồng nuôi. Đặc biệt, lợn con trong giai đoạn theo mẹ (từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi) có sức đề kháng yếu, tỷ lệ mắc các bệnh tiêu chảy đường ruột rất cao, phổ biến nhất là bệnh phân trắng. Bệnh phân trắng khiến lợn con mất nước, kiệt sức, tỷ lệ chết cao; nếu điều trị khỏi cũng dễ rơi vào tình trạng còi cọc, chậm lớn, làm giảm phẩm cấp con giống và gây tổn thất kinh tế lớn cho cơ sở chăn nuôi.

Trang trại lợn giống của ông Đặng Đình Dũng tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình là cơ sở chăn nuôi công nghiệp có quy mô 1.200 lợn nái ngoại phối hợp kỹ thuật với Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam, hàng năm cung cấp khoảng 20.000 con lợn giống ra thị trường. Tại đây, đàn lợn con 1 - 21 ngày tuổi thường xuyên mắc bệnh phân trắng, ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ tiêu kỹ thuật và hiệu quả kinh tế của trại. Xuất phát từ thực tế sản xuất đó, tác giả Trần Bá Thanh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Chăn nuôi thú y nhằm giám sát dịch tễ và thử nghiệm phác đồ can thiệp.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con tại trại ông Đặng Đình Dũng, Lương Sơn, Hòa Bình.
  2. Xác định tỷ lệ mắc bệnh phân trắng ở lợn con 1 - 21 ngày tuổi tại trại theo các yếu tố: đàn lợn, tháng theo dõi, lứa tuổi và tính biệt.
  3. Xác định hiệu lực điều trị của phác đồ sử dụng thuốc MD NOR - 100 kết hợp thuốc bổ trợ và hộ lý chăm sóc.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh phân trắng trên đàn lợn con giai đoạn 1 - 21 ngày tuổi (lợn con theo mẹ).
  • Phạm vi không gian: Trang trại chăn nuôi lợn nái ngoại của hộ gia đình ông Đặng Đình Dũng, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi thời gian: Quá trình theo dõi và thu thập số liệu thực địa diễn ra liên tục từ ngày 18/05/2016 đến ngày 18/11/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt cơ sở khoa học, khóa luận tổng quan các đặc điểm sinh lý học và giải phẫu học đặc thù của lợn con giai đoạn theo mẹ ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế phát sinh bệnh phân trắng:

  • Đặc điểm cơ quan tiêu hóa: Dạ dày và ruột của lợn con phát triển nhanh về kích thước nhưng chức năng tiết dịch chưa hoàn thiện. Trước 1 tháng tuổi, dịch vị của lợn con hoàn toàn không có axit clohydric (HCl) tự do. Thiếu HCl tự do khiến men pepsinogen không được hoạt hóa thành pepsin có hoạt tính, dẫn đến protein trong sữa mẹ bị kết tủa dưới dạng cazein không thể tiêu hóa được. Lượng cazein dư thừa bị đẩy xuống ruột già lên men, gây rối loạn tiêu hóa và thải ra ngoài phân màu trắng sữa đặc trưng. Đồng thời, độ pH dạ dày không đủ toan hóa tạo điều kiện cho vi sinh vật gây hại dễ dàng xâm nhập và tăng sinh.
  • Đặc điểm tạo máu và dự trữ sắt: Lợn con sơ sinh chỉ tích lũy một lượng sắt nhỏ và chỉ nhận khoảng 1 mg sắt/ngày qua sữa mẹ, trong khi nhu cầu sinh trưởng thực tế đòi hỏi 40 - 50 mg sắt. Nếu không được tiêm bổ sung Dextran-Fe vào ngày tuổi thứ 2 - 3 và ngày thứ 7, lợn con sẽ bị thiếu máu cục bộ, bần huyết, suy giảm thể trạng và đề kháng.
  • Hệ thống miễn dịch và điều hòa thân nhiệt: Lợn con đẻ ra hoàn toàn phụ thuộc vào kháng thể thụ động ($\gamma$-globulin) từ sữa đầu của lợn mẹ thông qua cơ chế ẩm bào qua thành ruột trong 24 giờ đầu. Bên cạnh đó, lớp mỡ dưới da mỏng, trung khu điều nhiệt ở vỏ não chưa thành thục khiến lợn con rất dễ bị stress lạnh và ẩm ướt làm suy giảm miễn dịch nghiêm trọng.
  • Căn nguyên vi sinh vật: Tác nhân truyền nhiễm chính gây bệnh phân trắng được xác định là trực khuẩn Escherichia coli (E. coli), kết hợp với Salmonella, Streptococcus, Proteus, Clostridium perfringens và các virus đường ruột như Rotavirus, Coronavirus. Khóa luận phân tích cấu trúc kháng nguyên của E. coli gồm kháng nguyên thân O (chịu nhiệt), kháng nguyên lông H (kém bền nhiệt) và kháng nguyên bề mặt K; cùng hai nhóm độc tố gồm ngoại độc tố (hướng thần kinh, gây hoại tử) và nội độc tố (gắn chặt ở vách tế bào vi khuẩn, gây sốc và viêm niêm mạc ruột).

Phương pháp nghiên cứu thực địa được triển khai như sau:

  • Phương pháp theo dõi lâm sàng và bệnh lý: Trực tiếp giám sát đàn lợn con hàng ngày từ khi sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại các dãy chuồng đẻ. Chẩn đoán lâm sàng dựa trên biểu hiện ủ rũ, giảm bú, da nhăn nheo, phân từ sệt vàng chuyển sang lỏng màu trắng sữa dính bết hậu môn và khoeo chân. Tiến hành mổ khám các cá thể chết do bệnh để xác định bệnh tích đặc trưng (viêm xuất huyết niêm mạc ruột, tích sữa đông vón trong dạ dày, sưng tụ huyết hạch lâm ba màng treo ruột).
  • Phương pháp khảo sát dịch tễ: Theo dõi 15 đàn lợn với tổng số 173 lợn con trong 5 tháng (từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2016). Phân nhóm và thống kê số ca mắc, ca chết theo từng đàn, từng tháng, các giai đoạn tuổi (sơ sinh - 7 ngày, 8 - 14 ngày, 15 - 21 ngày) và theo tính biệt (lợn đực và lợn cái).
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị: Áp dụng phác đồ điều trị đồng bộ trên toàn bộ 34 lợn con mắc bệnh:
    • Thuốc đặc trị: Tiêm bắp MD NOR - 100 (thành phần chính là Norfloxacin) liều lượng 1 ml/10 kg thể trọng/ngày.
    • Thuốc trợ sức: Tiêm bắp B.Complex liều lượng 1 ml/10 kg thể trọng/ngày.
    • Chống mất nước, cân bằng điện giải: Bổ sung dung dịch Oresol pha nước uống tự do.
    • Thời gian điều trị liên tục: Từ 3 đến 5 ngày kết hợp cách ly lợn bệnh và phun sát trùng chuồng nuôi 2 lần/ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các chỉ tiêu tỷ lệ mắc (%), tỷ lệ chết (%), tỷ lệ khỏi (%) và tỷ lệ tái phát (%) bằng phương pháp thống kê sinh vật học trong chăn nuôi theo hướng dẫn của Nguyễn Văn Thiện và cộng sự (2002).

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật vai trò của ngành chăn nuôi lợn công nghiệp trong nền kinh tế, xu thế hiện đại hóa gắn với các trang trại nuôi nái ngoại sinh sản quy mô lớn. Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng nhanh của giống lợn ngoại với tính nhạy cảm cao của lợn con theo mẹ trước biến động thời tiết và vi sinh vật môi trường. Đặt vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực trạng thiệt hại do bệnh phân trắng tại cơ sở thực tập (Trang trại ông Đặng Đình Dũng), đồng thời xác định 3 mục tiêu cụ thể và luận giải ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc chuẩn hóa quy trình chăm sóc, chẩn đoán và điều trị bệnh ở lợn con.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này cung cấp hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn toàn diện về đề tài:

  • Điều kiện cơ sở thực tập: Giới thiệu trang trại ông Đặng Đình Dũng có diện tích hơn 2 ha tại Lương Sơn, Hòa Bình, cách Đường mòn Hồ Chí Minh 100 m. Cơ sở đầu tư khoảng 40 tỷ đồng, nuôi 1.200 nái ngoại, 24 lợn đực, 120 nái hậu bị và cung ứng 20.000 lợn giống/năm. Trình bày chi tiết cơ cấu thức ăn công nghiệp C.P. (562FS, 566F, 567FS, 550FS) và khẩu phần ăn chuẩn hóa theo chu kỳ mang thai, đẻ và nuôi con.
  • Cơ sở khoa học: Phân tích quy luật sinh trưởng, sinh lý phát triển của cơ quan tiêu hóa (dung tích dạ dày lúc sơ sinh chỉ khoảng 0,03 lít, ruột non 0,12 lít; thiếu HCl tự do trước 20 - 30 ngày tuổi), cơ năng điều tiết nhiệt và cơ chế miễn dịch thông qua globulin miễn dịch trong sữa đầu.
  • Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh: Tổng hợp hai nhóm nguyên nhân gồm nội tại (sinh lý gia súc non, thiếu men tiêu hóa, thiếu sắt) và ngoại cảnh (thời tiết lạnh ẩm, độ ẩm >80%, khí độc $NH_3$, $H_2S$, stress vận chuyển, vi khuẩn E. coli, Salmonella).
  • Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước: Trích dẫn các công trình nghiên cứu về tính kháng kháng sinh của E. coli, việc chế tạo vắc xin đa giá (Salsco, vắc xin E. coli mang kháng nguyên K88), ứng dụng chế phẩm sinh học (Biosubtyl, Lactobacillus) và kinh nghiệm sử dụng kháng sinh, thảo dược trong điều trị tiêu chảy lợn con.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày rõ ràng địa điểm nghiên cứu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình từ tháng 5 đến tháng 11/2016. Mô tả quy trình theo dõi lâm sàng, phương pháp giám sát các chỉ tiêu dịch tễ trên 173 lợn con và phương pháp mổ khám xác định bệnh tích. Trình bày công thức chi tiết của phác đồ điều trị thực nghiệm bằng thuốc MD NOR - 100 kết hợp B.Complex và Oresol. Đưa ra các công thức toán học xác định tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ chết, tỷ lệ khỏi bệnh, tỷ lệ tái phát và phương pháp xử lý số liệu thống kê sinh vật học.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả

Chương này phản ánh toàn bộ dữ liệu thực nghiệm và kết quả công tác thực địa của tác giả:

  • Công tác phục vụ sản xuất: Tác giả tham gia tiêm phòng an toàn 100% cho đàn lợn gồm các bệnh: Tai xanh (227 con), Dịch tả (366 con), Lở mồm long móng (201 con), Khô thai (133 con); thực hiện các kỹ thuật đỡ đẻ 188 con (an toàn 98,94%), phối tinh nhân tạo 338 con (đạt 93,49%), xuất bán 3.150 con lợn giống; điều trị các bệnh phát sinh tại trại (viêm tử cung nái khỏi 88,89%, hô hấp khỏi 87,50%, viêm khớp khỏi 83,33%).
  • Dịch tễ học bệnh phân trắng: Tổng hợp tình hình bệnh phân trắng trên 15 đàn lợn với 173 cá thể theo dõi: ghi nhận 34 lợn mắc bệnh (tỷ lệ mắc 19,65%) và 5 lợn chết (tỷ lệ chết 14,71% tính trên số lợn mắc).
  • Phân tích theo các yếu tố tác động:
    • Tỷ lệ mắc cao nhất rơi vào tháng 7 (26,32%) và tháng 8 (25,81%) do trùng mùa mưa có ẩm độ không khí cao vượt 80%.
    • Phân bố theo tuần tuổi cho thấy lứa tuổi 8 - 14 ngày mắc cao nhất (24,60%), tiếp đến là 15 - 21 ngày (21,15%), thấp nhất ở giai đoạn sơ sinh - 7 ngày tuổi (13,33%).
    • Phân bố theo tính biệt ghi nhận lợn đực mắc 19,11% (13/68 con) và lợn cái mắc 20,00% (21/105 con), chênh lệch không đáng kể.
  • Hiệu quả điều trị bằng phác đồ MD NOR - 100: Điều trị 34 lợn con mắc bệnh, chữa khỏi 29 con, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 85,29%.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đúc kết các phát hiện then chốt về tỷ lệ mắc bệnh, lứa tuổi cảm nhiễm cao nhất và hiệu lực của phác đồ điều trị. Tác giả kiến nghị trang trại cần tăng cường kiểm soát tiểu khí hậu chuồng nuôi (chống ẩm mùa hè, sưởi ấm mùa đông bằng đèn hồng ngoại), giữ chuồng khô ráo, tiêm sắt đúng quy trình và thực hiện vệ sinh khử trùng nghiêm ngặt.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các số liệu thực nghiệm đầy đủ về tình hình bệnh phân trắng tại cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại tập trung:

Chỉ tiêu theo dõi Tổng số theo dõi (con) Số con mắc bệnh (con) Tỷ lệ mắc (%) Số con chết (con) Tỷ lệ chết/mắc (%)
Toàn bộ đàn theo dõi (15 đàn) 173 34 19,65 5 14,71
Tháng 6/2016 39 5 12,82 - -
Tháng 7/2016 38 10 26,32 - -
Tháng 8/2016 31 8 25,81 - -
Tháng 9/2016 29 6 20,69 - -
Tháng 10/2016 36 5 13,89 - -
Tuổi: Sơ sinh – 7 ngày 60 8 13,33 - -
Tuổi: 8 – 14 ngày 61 15 24,60 - -
Tuổi: 15 – 21 ngày 52 11 21,15 - -
Tính biệt: Lợn đực 68 13 19,11 - -
Tính biệt: Lợn cái 105 21 20,00 - -

Kết quả thử nghiệm điều trị bằng phác đồ MD NOR - 100 kết hợp trợ sức và hộ lý đạt hiệu quả lâm sàng cụ thể:

  • Số lợn con đưa vào điều trị: 34 con.
  • Số lợn con khỏi bệnh: 29 con (tỷ lệ khỏi bệnh đạt 85,29%).
  • Số lợn chết trong quá trình điều trị: 5 con (tỷ lệ chết 14,71%).

Về mặt giải pháp và biện pháp kỹ thuật, tác giả đề xuất:

  • Biện pháp nuôi dưỡng và hộ lý: Cho lợn con bú sữa đầu đầy đủ ngay trong 24 giờ đầu sau sinh để thu nhận kháng thể; tập ăn sớm cho lợn con từ ngày tuổi thứ 5 bằng cám 550FS nhằm kích thích tế bào vách dạ dày tiết HCl tự do sớm từ 14 ngày tuổi; tiêm Dextran-Fe vào ngày tuổi thứ 2 - 3 và nhắc lại lúc 7 ngày tuổi để phòng bần huyết.
  • Kiểm soát môi trường tiểu khí hậu: Che bạt chắn gió lùa, dùng chụp sưởi và đèn hồng ngoại giữ nhiệt độ chuồng nuôi ổn định 30 - 34°C trong tuần đầu; duy trì ẩm độ thích hợp 75 - 85%, hạn chế tối đa việc dùng nước rửa chuồng đẻ để tránh làm tăng ẩm ướt; vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng nuôi định kỳ 2 lần/ngày.
  • Biện pháp trị bệnh: Khi phát hiện lợn con tiêu chảy, lập tức cách ly, cho uống dung dịch Oresol để bù nước và điện giải, tiêm thuốc MD NOR - 100 kết hợp vitamin B.Complex từ 3 - 5 ngày liên tục.

Về đóng góp so với các công bố trước, nghiên cứu kiểm chứng thực tế sự phân bố bệnh theo mùa và lứa tuổi trên đàn lợn con ngoại (con lai của các giống Landrace, Yorkshire, Duroc) trong điều kiện chăn nuôi chuồng kín tại vùng đồi núi trung du Hòa Bình. Kết quả làm sáng tỏ nhận định của Sử An Ninh (1993) về vai trò của ẩm độ không khí là tác nhân stress hàng đầu thúc đẩy bệnh phát sinh, đồng thời thực chứng tính hiệu quả của kháng sinh nhóm fluoroquinolone thế hệ mới (Norfloxacin) đối với hội chứng phân trắng lợn con tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện tại cơ sở sản xuất:

  • Phạm vi khảo sát thời gian: Nghiên cứu chỉ được thực hiện trong thời gian thực tập tốt nghiệp 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2016), giai đoạn lấy số liệu dịch tễ tập trung từ tháng 6 đến tháng 10. Do đó, nghiên cứu chưa thu thập được dữ liệu dịch tễ bệnh phân trắng trong các tháng mùa đông - xuân (thời điểm rét đậm và nồm ẩm kéo dài ở miền Bắc vốn có nguy cơ bùng phát bệnh rất cao).
  • Hạn chế về xét nghiệm cận lâm sàng: Đề tài tiến hành chẩn đoán dựa trên theo dõi lâm sàng và mổ khám bệnh tích đại thể tại trại, chưa có điều kiện phân lập, định danh chính xác các serotype kháng nguyên của vi khuẩn E. coli tại phòng thí nghiệm chuyên sâu, cũng như chưa thực hiện kỹ thuật kháng sinh đồ để đánh giá mức độ kháng thuốc của các chủng vi khuẩn thực địa.
  • Quy mô phác đồ thử nghiệm: Đề tài mới chỉ khảo nghiệm duy nhất một phác đồ trị liệu bằng MD NOR - 100, chưa tiến hành bố trí các lô đối chứng song song với những kháng sinh truyền thống khác để so sánh chi phí và thời gian lành bệnh.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung:

  • Mở rộng phạm vi theo dõi dịch tễ trọn vẹn chu kỳ 12 tháng trong năm để đánh giá biến thiên bệnh theo cả 4 mùa.
  • Thu thập mẫu phân và bệnh phẩm lợn bệnh để phân lập vi khuẩn, giám định serotype độc lực (yếu tố bám dính F4, F5, F6, F41 và độc tố ruột LT, ST) và làm kháng sinh đồ định kỳ nhằm lựa chọn thuốc điều trị có độ nhạy cao.
  • Nghiên cứu ứng dụng các chế phẩm vắc xin tự thân (autogenous vaccine) hoặc vắc xin đa giá tiêm cho lợn nái chửa kết hợp chế phẩm sinh học probiotic bổ sung cho lợn con theo mẹ.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng sau:

  • Sinh viên và học viên ngành Chăn nuôi, Thú y: Tài liệu là mô hình mẫu chuẩn về phương pháp bố trí theo dõi lâm sàng, tính toán các chỉ tiêu dịch tễ thú y cơ bản (tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết, tỷ lệ khỏi) và cách phân tích mối liên hệ giữa sinh lý gia súc non với bệnh lý học đường tiêu hóa.
  • Kỹ sư thú y và cán bộ quản lý trang trại lợn nái sinh sản: Tham khảo trực tiếp quy trình tiêm phòng vắc xin cho đàn nái hậu bị, nái chửa và nái sau phối giống (Bảng 4.1 của khóa luận với các bệnh Tai xanh, Dịch tả, Lở mồm long móng, Khô thai, Giả dại), cùng bảng định mức khẩu phần thức ăn công nghiệp theo từng giai đoạn sinh lý của nái.
  • Nông hộ và kỹ thuật viên cơ sở: Ứng dụng phác đồ điều trị MD NOR - 100 phối hợp B.Complex và Oresol trong can thiệp nhanh các ổ dịch phân trắng lợn con theo mẹ, kết hợp nguyên tắc hộ lý "3 nên, 3 chống" (Nên cho bú sữa đầu sớm, chăm sóc nái trước - sau đẻ, tập ăn sớm; Chống ẩm, chống bẩn và chống lạnh).

Phần có giá trị tham khảo nổi bật nhất là hệ thống lý luận về sinh lý tiêu hóa của lợn con theo mẹ (thiếu HCl tự do, cơ chế đông vón cazein) gắn với giải pháp tập ăn sớm từ ngày thứ 5 để kích thích dạ dày hoàn thiện chức năng, giảm thiểu sự lệ thuộc vào kháng sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Quy mô cơ sở thực tập và đối tượng giống vật nuôi được theo dõi trong khóa luận là gì? Nghiên cứu được thực hiện tại trang trại của ông Đặng Đình Dũng tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Cơ sở có tổng diện tích hơn 2 ha, vốn đầu tư gần 40 tỷ đồng, nuôi 1.200 lợn nái ngoại sinh sản, 24 lợn đực và 120 lợn hậu bị với 3 giống thuần/lai gồm Landrace, Yorkshire và Duroc do Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam hỗ trợ cung cấp. Đàn lợn theo dõi trực tiếp là 173 lợn con từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi thuộc 15 đàn đẻ.

2. Tại sao lợn con ở lứa tuổi 8 - 14 ngày tuổi lại có tỷ lệ mắc bệnh phân trắng cao nhất (24,60%)? Theo giải thích của tác giả, ở giai đoạn 8 - 14 ngày tuổi, lượng sữa và hàm lượng kháng thể từ lợn mẹ bắt đầu suy giảm trong khi tốc độ tăng trọng của lợn con rất nhanh. Lợn con bị thiếu hụt dinh dưỡng và cạn kiệt lượng sắt dự trữ (nếu không được bổ sung đủ), dẫn đến tình trạng đói và liếm láp sàn chuồng, máng ăn chứa mầm bệnh. Đồng thời, giai đoạn này lợn con chưa hoàn thiện hệ thống tiết dịch vị (chưa có HCl tự do để kích hoạt pepsinogen), khiến sức đề kháng suy giảm mạnh và nguy cơ nhiễm khuẩn tiêu hóa tăng vọt so với tuần đầu tiên mới đẻ.

3. Tỷ lệ mắc bệnh phân trắng giữa lợn con đực và lợn con cái có sự khác biệt hay không? Số liệu thực địa trên 173 cá thể ghi nhận: tỷ lệ mắc bệnh ở lợn cái là 20,00% (21/105 con) và ở lợn đực là 19,11% (13/68 con). Mức chênh lệch giữa hai giới tính chỉ là 0,89%, không có ý nghĩa thống kê sinh vật học. Do đó, tác giả kết luận tính biệt không ảnh hưởng đến khả năng mắc bệnh phân trắng; nguy cơ nhiễm bệnh phụ thuộc vào điều kiện ngoại cảnh, trạng thái miễn dịch và kỹ thuật nuôi dưỡng.

4. Phác đồ điều trị MD NOR - 100 tại trang trại được tiến hành như thế nào và kết quả điều trị ra sao? Phác đồ can thiệp gồm: tiêm bắp thuốc MD NOR - 100 (hoạt chất Norfloxacin) liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày; kết hợp tiêm bắp B.Complex liều 1 ml/10 kg thể trọng/ngày để tăng sức đề kháng và cho uống dung dịch Oresol tự do nhằm bù nước, chất điện giải; điều trị liên tục từ 3 đến 5 ngày kết hợp cách ly lợn bệnh và tiêu độc chuồng trại 2 lần/ngày. Kết quả điều trị trên 34 lợn con mắc bệnh ghi nhận 29 con khỏi bệnh hoàn toàn (đạt tỷ lệ khỏi 85,29%) và 5 con chết (chiếm 14,71%).

5. Các bệnh tích đại thể điển hình được ghi nhận khi mổ khám lợn con chết do bệnh phân trắng gồm những gì? Khóa luận mô tả xác lợn chết có thể trạng gầy còm, da nhăn nheo, vùng mông và khoeo chân bết dính phân lỏng trắng. Khi mổ khám nội tạng ghi nhận: dạ dày giãn rộng chứa đầy sữa kết tủa đông vón màu trắng không tiêu do thiếu enzym pepsin; niêm mạc dạ dày xung huyết phủ dịch nhờn; ruột non căng phồng chứa đầy hơi kèm các đám xuất huyết rải rác trên thành ruột; chất chứa trong lòng ruột non và ruột già ở thể lỏng có lẫn bọt khí và máu; hạch lâm ba màng treo ruột sưng to và tụ huyết.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Bá Thanh đã phản ánh chân thực tình hình dịch tễ bệnh phân trắng trên đàn lợn con 1 - 21 ngày tuổi tại trang trại chăn nuôi công nghiệp 1.200 nái ngoại ở huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình với tỷ lệ mắc trung bình 19,65% và tỷ lệ chết 14,71%. Công trình chỉ rõ bệnh có tính quy luật mùa vụ rõ rệt (mắc cao nhất vào các tháng mưa ẩm tháng 7 và tháng 8) và tập trung nhiều nhất ở lứa tuổi 8 - 14 ngày tuổi do thiếu hụt kháng thể và men tiêu hóa, trong khi yếu tố tính biệt không tạo ra sự sai khác. Đồng thời, nghiên cứu khẳng định hiệu quả lâm sàng của phác đồ MD NOR - 100 kết hợp trợ sức và bù điện giải với tỷ lệ chữa khỏi đạt 85,29%, cung cấp tài liệu thực tiễn hữu ích cho công tác kiểm soát dịch bệnh đường ruột ở lợn con theo mẹ.