Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Vị trí, vai trò của ngân hàng thƣơng mại trong nền kinh tế Như chúng ta đã biết, ngân hàng là một tổ chức quan trọng đặc biệt đối với nền kinh tế ở mỗi quốc gia. "Sự hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa, đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực thúc đẩy nền kinh tế" [21, tr.
Trên thực tế, mặc dù thuật ngữ "ngân hàng" đã xuất hiện từ rất sớm. Song, quan niệm về ngân hàng luôn thay đổi qua mỗi thời kỳ, bởi lẽ do sự biến đổi và phát triển không ngừng của nền kinh tế mỗi quốc gia, cả trên phạm vi toàn cầu dẫn đến các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng ngày một đa dạng, phức tạp. Chúng ta có thể định nghĩa ngân hàng dựa trên các chức năng, dịch vụ hoặc vai trò của ngân hàng trong nền kinh tế. Cách tiếp cận thận trọng và phổ biến nhất là có thể xem xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
"Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế" [21, tr. Dựa trên các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu của ngân hàng sau đây để có thể phân biệt chúng với các loại hình tổ chức khác và tổ chức tài chính phi ngân hàng như: 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhận tiền gửi của công chúng, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp… có hoàn trả. - Cấp tín dụng dưới hình thức cho vay (cho các cá nhân, tổ chức, mọi thành phần kinh tế. - Làm trung gian thanh toán và đồng thời cung cấp các dịch vụ, các phương tiện thanh toán.
Ngoài ra, nhằm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, ngân hàng cũng đã mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ gián tiếp khác như: các dịch vụ về bất động sản, môi giới chứng khoán tham gia hoạt động bảo hiểm, quỹ hỗ trợ đầu tư ủy thác và nhiều loại lĩnh vực dịch vụ mới khác. Qua những điểm cơ bản trên, có thể thấy rằng ngân hàng là tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ, có chức năng nhận tiền gửi của công chúng, có hoàn trả và cho vay đối với khách hàng có nhu cầu. Và trong số các tổ chức tín dụng thì Ngân hàng thương mại có vai trò trung tâm, và là một loại hình tổ chức tín dụng quan trọng trong hệ thống ngân hàng. Quan niệm về ngân hàng thương mại được xem xét ở mỗi nước tuy có những cách hiểu khác nhau, song đều bao hàm các nội dung hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Ví dụ: Ở Mỹ, người ta thường nói ngân hàng thương mại là một trung gian giữa các đơn vị thừa tiền và đơn vị thiếu tiền; Đạo luật ngày 03/6/1942 của Pháp có quy định: "Được xem ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở nào làm nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc hình thức khác những khoản tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, nghiệp vụ tín dụng hay nghiệp vụ tài chính" [1, tr. 21], qua đây ta thấy ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ. có mục tiêu chính là lợi nhuận. Tại Điều 20 điểm 7 Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam sửa đổi, bổ sung năm 2004 ghi nhận: "Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp dịch vụ và cung ứng dịch vụ thanh toán" [28].
Từ những nhận định trên, ta thấy ngân hàng thương mại có những đặc điểm cơ bản sau: - Thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân hàng. Các hoạt động đó bao gồm: Nhận tiền gửi, huy động vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức trong xã hội, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán, các hoạt động có liên quan và các dịch vụ ngân hàng. Đây là điểm khác biệt giữa ngân hàng thương mại với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng chỉ thực hiện một số hoạt động ngân hàng. Ví dụ: các công ty tài chính của các doanh nghiệp, hoặc của các tổ chức tín dụng có chức năng huy động vốn trung và dài hạn.
- Thực hiện việc huy động vốn và cấp tín dụng ngắn hạn là chủ yếu, đồng thời từng bước chuyển dần sang các nghiệp vụ huy động vốn và cấp tín dụng dài hạn, đáp ứng quy mô mở rộng hoạt động kinh doanh của khách hàng và nhu cầu vốn của nền kinh tế. "Đặc trưng này làm cho ngân hàng thương mại khác với thị trường chứng khoán và tạo ra mối quan hệ tương hỗ với thị trường chứng khoán vì hoạt động cung cầu vốn" [13, tr. - Khác với ngân hàng chính sách xã hội và quỹ hỗ trợ phát triển (hoạt động thực hiện chính sách), hoạt động của ngân hàng thương mại có mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận. - Tính đa dạng hóa trong hình thức sở hữu của các Ngân hàng Việt Nam hiện hành, nhằm phát huy tối đa khả năng của mọi thành phần kinh tế.
Hiện tại, ở Việt Nam có: 04 Ngân hàng thương mại Nhà nước, 06 ngân hàng liên doanh, 37 ngân hàng thương mại cổ phần, 44 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. riêng trong năm 2008, Ngân hàng Nhà nước đã cấp phép thành lập mới 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam, 03 ngân hàng thương mại 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cổ phần là ngân hàng thương mại cổ phần Liên Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Bảo Việt, Ngân hàng thương mại cổ phần Tiên Phong. Từ những nội dung phân tích trên đây có thể thấy được vai trò của hệ thống các ngân hàng thương mại đối với sự phát triển kinh tế ở mỗi quốc gia. Bản thân các ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính có vị trí số một trong hệ thống các định chế tài chính ở mỗi nước.
Bởi vì, tổng số tài sản dư nợ của các ngân hàng thương mại bao giờ cũng lớn hơn tổng số tài sản nợ của các loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng khác. Khái niệm đặc điểm hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại 1. Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại là một trong số các hoạt động cơ bản và mang lại nguồn thu chủ yếu (khoảng 70% lợi nhuận) hàng năm. Thông qua việc cho vay, các ngân hàng thương mại đã thực hiện việc điều hòa nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời (nguồn vốn mà ngân hàng có được thông qua việc huy động từ công chúng) để đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức trong xã hội… Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại (với tư cách là chủ nợ) và người đi vay (khách hàng vay- con nợ) được thể hiện bằng hợp đồng tín dụng, ghi nhận những thỏa thuận cơ bản ràng buộc người vay phải tuân thủ trước khi giao kết hợp đồng tín dụng.
Ví dụ: Điều kiện về tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay, tính khả thi của dự án, phương án kinh doanh… Và để đảm bảo cho ngân hàng thương mại tồn tại và phát triển bền vững thì hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại phải luôn tôn chỉ mục đích: An toàn lợi nhuận, và tính cạnh tranh. Việc cho vay được tiến hành theo một quy trình - quy trình cho vay. Quy trình cho vay là tổng hợp các nguyên tắc, quy định của ngân hàng trong việc cho vay. Quy trình này bao gồm nhiều khâu, theo một trật tự nhất định.
Có thể khái quát quy trình cho vay theo sơ đồ sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com SƠ ĐỒ QUY TRÌNH CHO VAY Khách hàng (1).Cán bộ tín Hồ sơ xin vay gồm: cung cấp tài liệu dụng tiếp xúc .Đơn xin vay thông tin khách hàng tư .Hồ sơ pháp lý vấn, hướng dẫn .Dự án, phương án kinh doanh (2) .Thu thập thông tin. Qua trao đổi, thu Thẩm định hồ sơ thập mua, tự kiểm tra (3) Quyết định cho vay * Cập nhật thông tin. Thị trường (4). Chính sách.
Pháp lý Thực hiện quyết định .Khách hàng cho vay (5) Thông báo. Từ chối + Lý do Ký hợp đồng Ký hợp đồng. Thông báo khác tín dụng tín dụng (6) Giải ngân (7) Tổ chức giám sát khách hàng (8) Xử lý (9a) rủi ro Thu nợ (9b) (12) Gia hạn nợ (10b) đáo nợ ợ Thu đủ Không thu đủ (11a) (11b) khởi kiện Thanh lý hợp đồng (10c) xử lý tài (11b) sản 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giải thích: Các bước được tiến hành như sau: Tiếp nhận và hướng dẫn khách hàng lập hồ sơ vay vốn - thẩm định các điều kiện vay vốn (kiểm tra hồ sơ vay vốn và mục đích vay vốn; kiểm tra hồ sơ khoản vay và hồ sơ bảo đảm tiền vay; điều tra thu thập thông tin và xác minh thông tin về khách hàng, về phương án; thẩm định khách hàng; thẩm định phương án/ dự án đầu tư - xác minh phương thức cho vay - lập tờ trình thẩm định - trình duyệt cho vay và ký hợp đồng tín dụng - giải ngân - kiểm tra giám sát tiền vay - yhu nợ lãi và gốc và xử lý những phát sinh - thanh lý hợp đồng tín dụng và giải chấp tài sản bảo đảm. Việc xây dựng quy trình tín dụng hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động quản trị nhằm giảm thiểu rủi ro và nâng cao doanh lợi.
Như vậy về cơ bản có thể thấy rằng, cho vay là một quan hệ giao dịch giữa 02 chủ thể (ngân hàng thương mại và người vay), trong đó một bên (Ngân hàng thương mại) chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia (người vay) sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn (gốc và lãi) cho bên vay và theo điều kiện thời hạn đã thỏa thuận.