Mở đầu gồm: - Lý do chọn đề tài. - Tổng quan tình hình nghiên cứu. - Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu. - Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu.
12 - Phƣơng pháp nghiên cứu. - Giới hạn của đề tài. - Đóng góp mới của đề tài. - Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
- Kết cấu của đề tài. Phần nội dung: Chƣơng I. Các khái niệm có liên quan trong đề tài. Trình bày đặc tính về túi nilon.
Đâu là những lợi ích và tác hại của nó. Đặc tính của túi vải không dệt. Đâu là những lợi ích của nó. Lý thuyết nghiên cứu: lý thuyết nhận thức, thuyết hành động và thuyết hành vi.
Chƣơng II. Kết quả nghiên cứu. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu. Thay đổi thói quen xã hội trong việc sử dụng túi nilon bằng túi vải.
Tình trạng và tác hại của việc sử dụng túi nilon trong sinh hoạt hộ gia đình tại khu phố 7. Giới thiệu mô hình túi vải trong sinh hoạt hộ gia đình từ đó đánh giá lợi ích của việc sử dụng túi vải. Đánh giá của ngƣời dân về mức độ cần thiết của túi vải trong sinh hoạt hộ gia đình. Nhân rộng mô hình sử dụng túi vải ra các cộng đồng khác.
Kết luận và kiến nghị 13 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm sử dụng trong đề tài. Bao bì nilon là một loại túi nhựa rất bền, dẻo, mỏng, nhẹ và tiện sử dụng. Ngày nay, nó đƣợc sử dụng rất nhiều để đóng gói thực phẩm, bột giặt, bảo quản nƣớc đá, các loại chế phẩm hóa học hay đựng những phế liệu nhỏ, lƣu hành từ chợ cho đến các siêu thị, cửa hàng bán lẻ, những ngƣời bán hàng rong, len lỏi vào mọi nơi của cuộc sống hiện đại.
Có thời gian phân hủy lâu và ảnh hƣởng xấu tới môi trƣờng. Vải không dệt. Vải không dệt là một loại vải làm từ vật liệu làm từ sợi hóa học liên kết với nhau bằng hóa chất, cơ khí, nhiệt hoặc xử lý dung môi. Thuật ngữ này đƣợc sử dụng trong các ngành công nghiệp sản xuất các loại vải mà không phải dệt.
Trong những năm gần đây, các sản phẩm không dệt đã trở thành một thay thế bọt polyurethane. Vải không dệt đƣợc tạo ra bởi các sợi nhựa hóa học liên kết với nhau đƣợc là bằng phẳng, tấm xốp đƣợc tạo ra trực tiếp từ các sợi riêng biệt hoặc từ nhựa nóng chảy. Vải không dệt không đƣợc thực hiện bằng cách dệt, đan và không yêu cầu chuyển đổi các sợi để dệt. Ô nhiễm môi trƣờng.
Ô nhiễm môi trƣờng là tình trạng môi trƣờng bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học. gây ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời, các cơ thể sống khác. Ô nhiễm môi trƣờng là do con ngƣời và cách quản lý của con ngƣời. Thói quen xã hội.
Theo định nghĩa của một số chuyên gia tâm lý, thói quen xã hội là những hành vi đã đƣợc hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần. Lối, cách sống hay hành động do lặp đi lặp lại lâu ngày trở thành nếp rất khó thay đổi 9.org/wiki/th%C3%B3i_quen 14 Có thể nói, thói quen là khuôn mẫu nhất quán, đôi khi vô thức, thể hiện tính cách của chúng ta một cách thƣờng xuyên, hàng ngày và quyết định tính hiệu quả trong mọi hoạt động, tạo nên sức mạnh bên trong của chúng ta. Nếu chúng ta có thói quen tốt và duy trì thói quen tốt đó trong cuộc sống thì sẽ mang lại hiệu quả hơn và thành công hơn trong mỗi con ngƣời. Ngƣợc lại, nếu chúng ta có thói quen xấu mà không nhận thức đƣợc, hiểu đƣợc đó là xấu, thì nó sẽ rất nguy hại cho bản thân và cộng đồng.
Nhân rộng mô hình Nhân rộng mô hình là công cụ giúp ta thể hiện một sự vật, hiện tƣợng, quá trình…nào đó phục vụ cho hoạt động, học tập, nghiên cứu, sản xuất và các sinh hoạt tinh thần của con ngƣời. Đặc tính của túi nilon. Lợi ích và tác hại của túi nilon. Đặc tính của túi nilon.
Ở nƣớc ta, túi nilon thƣờng đƣợc sản xuất, tái chế từ túi nilon, nhựa đã qua sử dụng bằng công nghệ rất thủ công. Trong quá trình sản xuất, ngƣời ta trộn thêm nhiều loại hóa chất để làm tăng độ dẻo và bền của sản phẩm. Trong túi nilon có chất hóa dẻo, kim loại nặng, phẩm màu… là chất cực kỳ nguy hiểm. Bởi sau một thời gian tích tụ đủ lƣợng, sẽ quay sang tấn công cơ thể con ngƣời.
Một số loại túi nilon đƣợc làm từ chất dẻo polyvinyl có các phân tử đơn lẻ, polyvinyl có khả năng gây ung thƣ. Một số loại đƣợc sản xuất từ chất liệu nhựa rất độc hại với sức khỏe con ngƣời. Các loại túi nilon màu, bền dai có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại nhƣ chì, clohydric gây tác hại cho não và ung thƣ phổi. Đặc biệt, khi quan sát bằng kính hiển vi, các chuyên gia thấy còn có carbonat đƣợc trộn lẫn với hàm lƣợng trên 20%, trong khi đó mẫu của nƣớc ngoài là 0%.
Carbonat có nhiều trong sản phẩm sẽ làm tăng thêm hàm lƣợng kim loại nặng. Trong các loại thìa trên còn có nhiều ô rỗng là nơi trú ngụ của vi khuẩn gây bệnh. Do vậy, nếu túi nilon và đồ đựng thức ăn nhựa làm từ rác thải y tế thì nguy cơ độc hại và nhiễm bệnh sẽ cao gấp nhiều lần. Sử dụng túi nilon để đựng thực phẩm chua có tính axit nhƣ dƣa muối, cà muối có thể tạo ra muối thủy ngân gây ngộ độc và ung thƣ.
Phần lớn túi nilon ở Việt Nam đƣợc sản xuất từ nhựa, nilon tái chế song lại không hề khuyến cáo cho ngƣời tiêu dùng cách sử dụng và tác hại. Do vậy, nhiều ngƣời vẫn vô tƣ dùng túi nilon đựng thực phẩm bất kể nóng, lạnh…mà không biết biết rằng ở nhiệt độ 70 oC - 80oC, phụ gia chứa trong đó sẽ hòa tan vào thực phẩm. Trong đó, chất phụ gia hóa dẻo TOCP (triorthocresylphosphat, chất hóa dẻo) có thể làm tổn thƣơng và làm thoái hóa thần kinh ngoại biên và tủy sống, chất BBP có thể gây độc cho tinh hoàn và gây ra một số dị tật bẩm sinh nếu thƣờng xuyên tiếp xúc với nó. 15 Những loại túi nilon tái chế hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa DOP (dioctin phatalat) cực độc, ảnh hƣởng đến cơ quan sinh dục nam.
Trẻ em bị nhiễm chất này lâu dài có thể thay đổi giới tính, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn bé gái có nguy cơ dậy thì quá sớm. Polymer là loại chất có thời gian phân giải hàng chục năm hay thậm chí hàng trăm năm. Do vậy chúng không gây đột tử ngay mà tích tụ trong cơ thể (không thể tiêu hóa) dẫn đến đầy bụng, gây khó tiêu, chán ăn. Nếu sử dụng để đựng các thực phẩm chua có tính axit nhƣ dƣa muối, cà muối hoặc thực phẩm nóng, các chất hóa dẻo trong túi nilon sẽ tách khỏi thành phần nhựa lớn gây độc cho thực phẩm.
Khi ngấm vào dƣa chua, axit axetic hoặc axit lactic ở trong dƣa cà. sẽ hòa tan một số kim loại thành muối thủy ngân có thể gây ngộ độc và ung thƣ. Nilon đƣợc làm từ vật liệu polymer rất khó phân hủy nên trên thế giới đang có xu hƣớng thay thế nó bằng vật liệu khác, tiến tới cấm sử dụng. Việc chôn lấp túi nilon gây ảnh hƣởng đến môi trƣờng nƣớc, còn nếu đốt sẽ tạo ra khí thải có chất độc dioxin và furan gây ngộ độc, khó thở, nôn ra máu, gây ung thƣ, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn chức năng và các dị tật bẩm sinh ở trẻ nhỏ10.
Lợi ích của túi nilon. Túi nilon ra đời đã đáp ứng đƣợc nhu cầu, mong muốn của ngƣời dân. Túi nilon có nhiều lợi ích vì đây là loại túi rất bền với tự nhiên và không bị thấm nƣớc. Túi nilon có thể sử dụng lại nếu chúng đƣợc giặt sạch và phơi khô.
Túi nilon có nhiều hình dáng khác nhau, đƣợc sử dụng phù hợp với nhu cầu của mỗi ngƣời khi sử dụng đựng thực phẩm hay đồ dùng trong gia đình. Túi nilon có thể đựng thực phẩm khi đi chợ, đựng đồ ăn hay những đồ có nƣớc mà túi vải hay giấy, lá không thể đựng đƣợc. Túi nilon rất tiện lợi, đƣợc bày bán ở khắp mọi nơi và giá thành lại khá rẻ, chỉ từ 100 – 200 đồng thì khách hàng có thể sở hữu một chiếc túi nilon vừa bền vừa tiện dụng. Trƣớc những lợi ích nêu trên của túi nilon thì mỗi hộ gia đình hiện nay đều lựa chọn loại túi này làm vật dụng để đựng đồ chính trong gia đình.
Tác hại của túi nilon. Ngày nay, túi nilon đƣợc sử dụng rộng rãi và có phần bất trị, thay thế hầu hết các loại lá gói truyền thống nhƣ lá sen, lá chuối… bởi nó rất rẻ và tiện dụng trong nhu 10 Tài Nguyên Môi Trƣờng Và Phát Triển Bền Vững (2005).Lê Huy Bá - Nxb Khoa học Kỹ thuật. 16 cầu sinh hoạt hằng ngày. Tuy nhiên, những ảnh hƣởng của nói đến môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời thì rất lớn nhƣng hầu nhƣ chúng ta không chú ý đến.
Thứ nhất: Túi nilon gây tác hại ngay từ khâu sản xuất bởi vì việc sản xuất túi nilon phải sử dụng nguyên liệu đầu vào là dầu mỏ và khí đốt, do đó trong quá trình sản xuất nó sẽ tạo ra khí CO2 làm tăng hiệu ứng nhà kính, thúc đẩy biến đổi khí hậu toàn cầu. Thứ hai: Việc sử dụng túi nilon sẽ gây tác hại xấu tới sức khoẻ của con ngƣời. Túi nilon đƣợc làm từ nhựa PVC (pholy vinyl clorua) không độc nhƣng các chất phụ gia thêm vào để làm cho túi nilon mềm, dẻo, dai lại vô cùng độc hại. Các chất phụ gia chủ yếu đƣợc sử dụng là chất hoá dẻo, kim loại nặng, phẩm màu.
là những chất cực kỳ nguy hiểm. Chất phụ gia hóa dẻo TOCP (triorthocresylphosphat) có thể làm tổn thƣơng và làm thoái hoá thần kinh ngoại biên và tuỷ sống, chất BBP có thể gây độc cho tinh hoàn và gây ra một số dị tật bẩm sinh nếu thƣờng xuyên tiếp xúc với nó. Những loại túi nilon tái chế hoặc hộp nhựa, bình nhựa, túi nhựa có thể chứa DOP (dioctin phatalat) cực độc, ảnh hƣởng đến cơ quan sinh dục nam. Trẻ em bị nhiễm chất này lâu dài có thể thay đổi giới tính, các bé trai có thể bị nữ tính hóa, vô sinh nam, còn bé gái có nguy cơ dậy thì rất sớm.
Các loại nilon màu nếu sử dụng để đựng thực phẩm tƣơi sống, đồ ăn chín có thể khiến thực phẩm nhiễm các kim loại nhƣ chì, clohydric gây tác hại cho não và là nguyên nhân gây ung thƣ phổi.