CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÁI ĐỘ HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN 1. Khái niệm có liên quan 1. Thái độ Định nghĩa thái độ Khái niệm thái độ được xem là phổ biến và sử dụng nhiều trong cuộc sống. Thái độ có thể hiểu đơn giản như là tình yêu gia đình: thể hiện sự quan tâm, yêu thương, giúp đỡ lẫn nhau.
Thái độ cũng còn được xem là nguyên nhân dẫn đến hành vi của một người đối với một đối tượng nào đó, thái độ còn giúp để giải thích tính nhất quán hành vi của con người, v.Thái độ được xem là quyền riêng tư của mỗi con người đối với các cá nhân, tổ chức, các vấn đề xã hội, v.v… Nó phản ánh cách con người đó nhìn nhận thế giới xung quanh như thế nào. Ngoài ra, thái độ là một khái niệm liên ngành, không chỉ được sử dụng cho các nhà xã hội học, tâm lý học, mà khái niệm thái độ còn sử dụng cho những nhà khoa học nghiên cứu về chính sách, nhà giao tiếp học,…Vì vậy thái độ là một khái niệm rộng, có nhiều định nghĩa khác nhau trong nhiều lĩnh vực. Trong một cách chung, thái độ được nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa như sau: [12] - Nhà Tâm lý học người Mỹ là V. Thomas và PH.
Znanheski (1918) xem thái độ như là một trong những thuộc tính quan trọng của các vấn đề xã hội. Họ cho rằng: Thái độ là trạng thái tinh thần của cá nhân đối với một giá trị. - Theo một cách đơn giản, Bem (1970) định nghĩa thái độ là sự thích và không thích. - Nhà tâm lý học xã hội Hoa kỳ G.
Onparte thì cho rằng thái độ là trạng thái thần kinh và tâm lý của sự sẵn sàng, nó được tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm có ảnh hưởng và điều khiển năng động đến những khách thể và tình huống gắn liền với cá nhân đó. Allport (1935, 1976) cho rằng thái độ là một trạng thái sẵn sàng về tinh thần và thần kinh, được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động trong phản ứng của cá nhân đối với mọi đối tượng và tình huống có liên quan. 10 Luan van - Nhấn mạnh ở khía cạnh đánh giá, Eagly & Chaiken (1993) xem thái độ là một xu hướng tâm lý được thể hiện bằng cách đánh giá một đối tượng cụ thể với một mức độ ủng hộ hoặc không ủng hộ. Thái độ được hiểu là sự đáp ứng có tính đánh giá và đáp ứng thuộc lĩnh vực tình cảm và chính thái độ làm nảy sinh động cơ hay các hành vi có chủ đích.
Thái độ nảy sinh bên trong con người và sau đó mới biểu hiện ra bên ngoài. Thái độ là sản phẩm của sự đánh giá tâm lý và nhận thức về đối tượng xuất phát từ nhu cầu của chủ thể. - Fishbein & Ajzen (1975) xem thái độ là những khuynh hướng có được/học được để đáp ứng một cách ủng hộ hay không ủng hộ đối với một sự vật, một con người hoặc một sự kiện nhất định. - Thái độ được hiểu là một khuynh hướng đáp ứng theo cách có lợi (thuận) hoặc bất lợi (không thuận) đối với một đối tượng nhất định (Oskamp, 2005).
Có thể nhận thấy rằng đặc điểm trung tâm của các định nghĩa về thái độ là là sự sẵn sàng đáp ứng (Allport, 1935), thái độ không phải là hành vi mà nó được xem như một sự chuẩn bị cho hành vi (Oskamp, 2005), một khuynh hướng đáp ứng theo một cách cụ thể đối với một đối tượng [12]. Một điểm khác được nhấn mạnh bởi Allport là động lực của thái độ. Đó là, thái độ không chỉ là kết quả thụ động của kinh nghiệm trong quá khứ, mà nó có hai chức năng hoạt động được Allport mô tả là "tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc năng động". “Năng động” chỉ ra rằng chúng thúc đẩy hành vi.
Thái độ hướng dẫn hình thức và cách thức hành vi. Ngoài ra, về vấn đề này, Dương Thiệu Tống cho rằng thái độ là mức cảm nghĩ tiêu cực hay tích cực (thuận hay không thuận) liên hệ đến một đối tượng tâm lý. Một cá nhân có cảm nghĩ tích cực đối với một đối tượng tâm lý được coi như là thích đối tượng ấy hay là có thái độ thuận lợi đối với nó. Ngược lại, một cá nhân có cảm nghĩ tiêu cực được coi như không thích đối tượng tâm lý ấy hay có thái độ không thuận lợi đối với nó (Dương Thiệu Tống, 1981).[4] 11 Luan van Theo từ điển tiếng Việt: Thái độ được hiểu là “cách nghĩ, cách nhìn và cách hành động theo một hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình”.
Theo từ điển các thuật ngữ tâm lý và phân tâm học (1996) định nghĩa: “Thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài hướng đến sự ứng xử một cách nhất quán đối với một đối tượng cụ thể. Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của các phản ứng đối với một nhóm đối tượng. Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động có liên quan đến đối tượng. Từ các định nghĩa trên đều cho thấy rằng thái độ có chức năng định hướng hành vi ứng xử của con người, thúc đẩy tính sẵn sàng những phản ứng của con người hướng đến đối tượng.
Hay “ Thái độ là cách ứng xử của cá nhân đối với các tình huống, các vấn đề xã hội”. Như vậy, khái niệm thái độ là một khái niệm mang tính phức tạp. Thái độ của con người là toàn bộ hệ thống các mối quan hệ có tính đánh giá, có ý thức của cá nhân đối với các mặt khác nhau của đối tượng. Nó thể hiện qua kinh nghiệm cá nhân và yếu tố bên trong (nhận thức, niềm tin, yêu thích…) qui định thành hành vi, cảm xúc của con người đối với đối tượng đó.
Cấu trúc của thái độ Có ba khuynh hướng lý thuyết khi xem xét cấu trúc thái độ: [12] - Khuynh hướng thứ nhất xem thái độ như một thực thể (entity) đơn nhất gồm ba bộ phận hợp thành là nhận thức (cognitive), xúc cảm/tình cảm (affective) và hành vi (behaviour) (Allport, 1985; Herbert Spencer 1962; McGuire, 1969). Nhận thức THÁI ĐỘ Hình 1: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận hợp thành: Nhận thức – Cảm xúc – Hành động 12 Luan van Ở khuynh hướng này, các tác giả đưa ra khung cấu trúc chung của thái độ là thành phần hợp nhất của nhận thức, cảm xúc và hành động, có tính nhất quán cao giữa ba thành phần. Có nghĩa là để hình thành thái độ phải xuất hiện cả ba thành phần trên.Tuy nhiên, đối với khuynh hướng này nhiều người phản biện cho rằng, liệu rằng mọi thái độ phải có đủ cả ba thành phần khi có kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một số thái độ không cần có đủ ba khía cạnh khác biệt này [12]. Ví dụ một số phản ứng cảm xúc đối với một đối tượng thái độ như về một số hiện tượng tự nhiên có thể không có bất kỳ nền tảng kiến thức nhận thức nào.
Trong khi thái độ về một vấn đề xã hội có thể hoàn toàn cần nhận thức. - Khuynh hướng thứ hai xem thái độ như một thực thể tạo thành bởi ba thành tố riêng biệt (separate) có quan hệ với nhau là niềm tin, xúc cảm và hành vi (Fishbein and Ajen, 1975). Niềm tin (nhận thức) Cảm xúc Ý định (tình cảm) hành vi Hình 2: Cấu trúc thái độ - Gồm ba bộ phận riêng biệt: Nhận thức – Cảm xúc – Ý định hành vi Quan điểm này đã được Fishbein và Ajzen (1975) ủng hộ mạnh mẽ. Trong lý thuyết của họ, thuật ngữ thái độ chỉ khía cạnh tình cảm, biểu thị sự đánh giá đối với một đối tượng.
Vì vậy, thái độ có thể được xem là những đánh giá về mặt cảm xúc của một người đối với một đối tượng cụ thể, những đánh giá này có được bởi nhận thức, niềm tin của người đó về đối tượng. Sự kết hợp giữa nhận thức, niềm tin và cảm xúc giúp hình thành khuynh hướng thực hiện hành vi. - Khuynh hướng thứ ba là xem thái độ như một quá trình ẩn (latent process) gồm tác động của các yếu tố khách quan dưới dạng các sự kiện tác nhân 13 Luan van (stimulus event) tới nhận thức, xúc cảm và hành vi tạo thành thái độ, và cuối cùng dẫn tới các nhận thức, xúc cảm và hành vi đáp lại đối tượng. Trong quan niệm này, một thái độ có trạng thái của một biến can thiệp (sự kiện kích thích), một cấu trúc lý thuyết không thể quan sát được, nhưng nó làm trung gian hoặc giúp giải thích mối quan hệ giữa các sự kiện kích thích quan sát được và các phản ứng hành vi nhất định.
Mô hình này chỉ ra rằng các sự kiện kích thích có thể khơi dậy các quá trình nhận thức, tình cảm hoặc hành vi của một người, nhiều trong số đó không thể quan sát được. Có thể nhận thấy rằng điểm chung của ba khuynh hướng này là các quá trình này bao gồm ba thành phần (Nhận thức/niềm tin – Tình cảm – Hành vi/Ý định hành vi) hợp nhất hoặc riêng biệt có thể tạo ra một thái độ đối với các đối tượng liên quan. Các tác giả cũng đều đồng ý rằng thái độ là một cấu trúc không thể quan sát được. Tuy nhiên, sự hiện diện của một thái độ sẽ làm phát sinh và có thể được đo lường bằng các phản ứng có thể quan sát được, có thể là phản ứng nhận thức, tình cảm và / hoặc hành vi đối với đối tượng thái độ.
Tóm lại, mặc dù cấu trúc thái độ được tồn tại với ba quan điểm tiếp cận khác nhau, nhưng các tác giả đều có điểm chung là thành phần của thái độ luôn bao gồm ba thành phần: Nhận thức/niềm tin; Cảm xúc/Tình cảm; Hành vi. Các thành phần này có tương tác với nhau và tùy vào mức độ tương tác mà hình thành mức độ của thái độ đối với đối tượng cụ thể. Ngoài ra, các nhà lý thuyết cũng đều đồng ý rằng thái độ là những cấu trúc được suy luận, chúng không phải hành vi, vì vậy, chỉ thông qua những quan sát được để đánh giá về thái độ của một các nhân đối với một đối tượng. [12] Các thành phần thái độ được giải thích như sau: Nhận thức Nhận thức về đối tượng là quá trình tìm tòi, khám phá những thuộc tính bên ngoài và thuộc tính bản chất của đối tượng.
Nhận thức là sự hiểu biết của cá nhân về đối tượng của thái độ. Vì vậy, nhận thức là cơ sở cho việc hình thành thái độ.