chương 1) và kết luận (chương 8), tác giả đã mang đến cho người đọc bức tranh đầy đủ về quyền lực thầy cúng từ môi trường sinh sống của thầy cúng (chương 2), các trạng thái tồn tại (chương 3), con đường quyền lực của thầy cúng (chương 4), phân tầng quyền lực (chương 5), thực tiễn quyền lực (chương 6) và cách tái tạo quyền lực (chương 7) của của thầy cúng qua các triều đại lịch sử của Trung Quốc. Phải nói rằng đây là công trình nghiên cứu rất công phu chi tiết về thầy cúng của các học giả nước ngoài mà nghiên cứu sinh tiếp cận được. Cũng là công trình tham khảo, gợi mở hướng tiếp cận cho nghiên cứu sinh về việc tìm hiểu thầy cúng, vị thế và vai xã hội của thầy cúng trong cộng đồng người Dao Đỏ ở Tuyên Quang. Công trình nghiên cứu khác liên quan đến thầy cúng là bài viết, Mien Fang - Yao Mien Ceremonial Paintings (Mien Fang – Tranh nghi lễ của người Dao) (2012) [128] của tiến sĩ Linda S.McIntosh, chuyên gia nghiên cứu về Đông Nam Á, đã thực hiện các dự án Dệt ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam.
Trong bài viết này này, tác giả dựa trên công trình nghiên cứu của Jacques Lemoine, "Yao Ceremonial Paintings” (1982) giới thiệu về tranh của người Dao. Tác giả khái quát về Iu Miền và các nhóm liên quan 15 ở Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Việt Nam và phân tích khá rõ về Đạo giáo của Iu miền được thể hiện qua các chức sắc và các nghi lễ của các đạo sĩ và tranh Đạo giáo – tranh của các đạo sĩ sử dụng trong các nghi lễ. Theo tác giả: “Các đạo sĩ đóng vai trò quan trọng trong xã hội, thực hiện các nghi lễ liên quan đến sinh nở, kết hôn và cái chết. Họ có nhiệm vụ xoa dịu các linh hồn, chữa lành bệnh tật và xua đuổi tà ma khỏi con người và các địa điểm”.
Bài viết đã phân tích, làm rõ nội dung các bức tranh, sản xuất, trang phục, các vị thánh được vẽ trong các bức tranh. Bài viết đã thể hiện điểm nét tương đồng với người Dao Việt Nam như: phát âm tên gọi các thầy cúng, các vị thánh trong các bức tranh Tam Thanh (Three Pure Ones) và Hành Phây (Heng Fei). Đây là tài liệu quan trọng tham khảo trong nghiên cứu về thầy cúng, giúp NCS có góc nhìn sâu sắc hơn về lớp người hành nghề thầy cúng qua nghi lễ và các bức tranh Đạo giáo cũng như mối tương quan với bộ phận thầy cúng người Dao khác ngoài Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên là cơ sở dữ liệu quan trọng giúp cho NCS thấy được tầm quan trọng, vị trí văn hoá của người Dao trong bức tranh văn hoá của các tộc người ở Việt Nam, cũng như nguồn gốc lịch sử, đặc trưng văn hoá và những biến đổi văn hoá sau di cư vào Việt Nam.
Trong đó, hai công trình nghiên cứu về thầy cúng của tác giả Lê Công Chí và Linda S.McIntosh góp phần gợi mở ý tưởng, cơ sở để nghiên cứu sinh tham chiếu để nghiên cứu về thầy cúng ở Việt Nam. Tuy vậy, các nghiên cứu về người Dao Việt Nam của các tác giả nước ngoài chủ yếu tập trung đề cập đến các khía cạnh văn hoá người Dao nói chung, chưa cụ thể, rõ ràng với từng nhóm Dao và chưa có công trình nào của tác giả nước ngoài nghiên cứu về thầy cúng người Dao Đỏ ở Việt Nam nói chung và người Dao Đỏ ở Tuyên Quang nói riêng. Các công trình nghiên cứu về người Dao Đỏ và tôn giáo tín ngưỡng của người Dao của tác giả Việt Nam 1. Các công trình nghiên cứu về người Dao Đỏ Người Dao ở Việt Nam là tộc người có văn hoá phong phú đa dạng về từng nhóm trong phân loại và bản sắc văn hoá địa phương của mỗi nhóm Dao.
Nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam nói chung và người Dao Đỏ nói riêng, có rất nhiều công trình nghiên cứu từ các vấn đề nguồn gốc lịch sử tộc người, các đặc trưng văn hoá đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội của người Dao ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu về người Dao ở Việt Nam được bắt đầu từ những ghi chép của các sử gia thời phong kiến trong các tác phẩm: Kiến văn tiểu lục của nhà bác học Lê Quý Đôn ghi chép, mô tả về người 16 Dao xứ Tuyên [29], Hưng Hoá xứ - Phong thổ lục của Hoàng Bình Chính (1778) giới thiệu về người Mán ở Châu Thuỷ Vĩ (Lào Cai) [14], Hưng hoá ký lược của Phạm Thận Duật (1856) viết về phong tục tập quán các dân tộc ở Hưng Hoá trong đó có người Dao [18]. Những ghi chép này tuy còn còn sơ lược, chưa đề cập đến tôn giáo tín ngưỡng và thầy cúng nhưng đã cho biết về đặc điểm về không gian cư trú, trang phục, phương thức canh tác, phong tục tập quán và mốc thời gian người Dao di cư đến Việt Nam. Nghiên cứu về người Dao thực sự phát triển mạnh mẽ từ sau cách mạng tháng Tám cho đến ngày nay, khi các trường đại học, viện nghiên cứu được thành lập, sự phát triển của các ngành khoa học xã hội, đã mở ra hướng nghiên cứu mới về người Dao.
Các công trình nghiên cứu chủ yếu nói chung về văn hoá người Dao ở Việt Nam, điều này làm cho các độc giả khó phân biệt được tính đặc trưng của từng nhóm Dao. Trong những năm trở lại đây, các nghiên cứu về người Dao có xu hướng nghiên cứu theo từng nhóm và từng vấn đề nghiên cứu cụ thể của từng nhóm Dao ở các địa phương khác nhau, đã làm rõ hơn tính đa dạng, phong phú trong bức tranh văn hoá của người Dao ở Việt Nam. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về nhóm Dao Đỏ ở Việt Nam còn rất hạn chế, chưa được nghiên cứu chiều sâu, hệ thống. Một số công trình, bài viết đề cập hoặc chuyên sâu về người Dao Đỏ có thể kể đến là: Bài viết của tác giả Bàn Thị Tư với tựa đề “Sơ bộ phân loại các ngành Dao ở Việt Nam” [111] tại Hội thảo quốc tế người Dao tổ chức tại thành phố Thái Nguyên tháng 12/1995 thì người Dao có hai ngành: Ngành thứ nhất hay còn gọi là ngành một gồm có ba nhóm hay chi tộc: Dao Đại Bản, Dao Tiểu Bản, Dao Quần Chẹt.
Ngành thứ hai hay ngành hai gồm các nhóm hay chi tộc: Dao Thanh Y, Dao Áo Dài, Dao Quần Trắng. Trong đó, Dao Đỏ nhóm địa phương trong chi tộc Dao Đại Bản. Cũng bàn về phân loại các nhóm Dao ở Việt Nam, học giả Nguyễn Khắc Tụng nêu trong bài viết “Trở lại vấn đề phân loại các nhóm Dao ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Dân tộc học số 3, năm 1997 [106]. Ông đã phân loại người Dao thành 7 nhóm: Dao Đỏ, Dao Quần Chẹt, Dao Thanh Phán (Dao Lô Gang), Dao Tiền, Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Áo Dài (Dao Tuyển), Dao Thanh Y.
Do địa bàn nghiên cứu của Luận án là ở Tuyên Quang nên Luận án dựa theo phân loại các nhóm Dao trong công trình nghiên cứu Văn hoá truyền thống các dân tộc Tày, Dao, Sán Dìu ở Tuyên Quang do Nịnh Văn Độ (chủ biên). Theo đó, người Dao ở Tuyên Quang gồm có 9 nhóm địa phương là: Dao Đỏ, Dao Tiền, Dao Quần Trắng, Dao Quần Chẹt, Dao Coóc Mùn, Dao Coóc Ngáng, Dao Lô Gang, Dao Thanh Y, Dao Áo Dài [28]. 17 Công trình nghiên cứu của tác giả Phan Thị Phượng (2015) với tựa đề Trang phục và nghệ thuật trang trí trên trang phục người Dao Đỏ ở Lào Cai [72]. Ở cuốn này, tác giả đã mô tả trang phục của thầy cúng người Dao Đỏ gồm khăn, áo, thắt lưng, xà cạp, cách ăn mặc [72, tr.187-197] và bảo quản trang phục thầy cúng và nghệ thuật trang trí trên trang phục thầy cúng [72, tr.
Qua đó thấy được họ là tầng lớp riêng, có trang phục riêng, đặc biệt trong các nghi lễ mà họ thực hiện. Sách Trang phục cổ truyền của người Dao ở Việt Nam của hai tác giả Nguyễn Khắc Tụng, Nguyễn Anh Cường (2011) [108]. Trong cuốn này, tác giả đã đề cập đến trang phục của nhóm Dao Đỏ, trong đó, thầy cúng trên cơ sở mô tả sơ lược về trang phục của thầy cúng của người Dao ở Việt Nam: “Vào dịp tổ chức lễ cấp sắc, lễ Chẩu Đàng. thầy cúng đóng vai trò quan trọng trong khi hành lễ.
Ông ta phải mặc một bộ đồ đặc biệt mà ngày thường không ai được dùng kể cả thầy cúng”. Bài viết Nghề rèn của người Dao Đỏ: Qua quan sát ở xã Hồ Thầu, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang của tác giả Vi Văn An (2006) [1], tác giả đã mô tả, phân tích nghè rèn – một trong những nghề thủ công truyền thống của người Dao Đỏ. Có thể thấy, nhóm Dao Đỏ ở Việt Nam còn rất ít công trình nghiên cứu và chưa có công trình nghiên cứu nào manh tính hệ thống, có chiều sâu, làm rõ các đặc trưng văn hoá hay tính địa phương của nhóm Dao Đỏ. Đây là cơ sở để cho nghiên cứu sinh chọn đối tượng nghiên cứu là nhóm Dao Đỏ ở Tuyên Quang.
Các công trình nghiên cứu về tôn giáo tín ngưỡng và các nghi lễ tôn giáo tín ngưỡng của người Dao ở Việt Nam Về tín ngưỡng tôn giáo và các nghi lễ trong tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Việt Nam được các tác giả đề cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu. Đây là nội dung liên quan trực tiếp đến các hoạt động của người thầy cúng và cũng là bản sắc rất riêng của người Dao. Theo các nghiên cứu thì tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ngoài tín ngưỡng dân gian còn bị ảnh hưởng bởi 3 tôn giáo là: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo. Trong đó, Đạo giáo được thể hiện rõ nhất qua hệ thống các nghi lễ và hoạt động của những người thầy cúng như Lễ Cấp Sắc, tranh thờ,.
Tiêu biểu như: Tín ngưỡng tôn giáo của người Dao ở Việt Nam của Vương Duy Quang (2009) [74], Tranh đạo giáo ở bắc Việt Nam của Phan Ngọc Khuê (2001) [50]. Các công trình nghiên cứu khác chủ yếu tập trung vào các nhóm Dao cụ thể ở các địa phương, như: Đời sống tín ngưỡng người Dao Họ ở Lào Cai của Phạm Văn Dương (2009) [20], Các nghi lễ chủ 18 yếu trong chu kỳ đời người của nhóm Dao tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn, luận án Tiến sĩ Lịch sử, Lý Hành Sơn (2001), in sách 2003 [81], Nghi lễ vòng đời của người Dao Thanh Y ở huyện Hoàng Bồ tỉnh Quảng Ninh của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà (2016) [32], Nghi lễ vòng đời của người Dao Quần Chẹt ở xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Tp.