Chương 1: Những vấn đề lý luận về thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức Chương 2: Thực trạng thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức của thanh tra Bộ Nội vụ Chương 3: Quan điểm và giải pháp bảo đảm hoạt động công tác thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THANH TRA TUYỂN DỤNG, SỬ DỤNG CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, vai trò và đặc điểm của hoạt động thanh tra việc tuyển dụng, sử dụng công chức 1. Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức a) Khái niệm về thanh tra Thuật ngữ thanh tra xuất phát từ gốc tiếng Latinh là “inspectare” có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ được kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của đối tượng nhất định. Khái niệm thanh tra theo từ điển luật học Đức được hiểu là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định, đó là sự tác động có tính trực thuộc.
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học năm 2010 thì thanh tra được hiểu là sự kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp [44]. Theo quan niệm này, thanh tra bao hàm kiểm soát, xem xét, phát hiện và ngăn chặn những gì trái với quy định. Ở mỗi quốc gia, khái niệm thanh tra được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau như: phạm vi hoạt động, tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan có thẩm quyền thực hiện chức năng thanh tra. Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc nhà nước và các đặc điểm riêng của mỗi quốc gia, dân tộc mà việc thiết lập cơ quan thanh tra theo nhiều cách khác nhau như: cơ quan thanh tra nằm trong tổ chức trong hệ thống cơ quan hành pháp hoặc chức năng thanh tra gắn liền với kiểm toán và được tổ chức thành một cơ quan độc lập.
Ở nước ta quan niệm về thanh tra được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau thể hiện qua mô hình nhà nước trong lịch sử, các quy định của pháp luật từng thời kỳ như: Thời phong kiến khái niệm thanh tra chưa được sử dụng nhưng có các chức quan làm công việc giống như thanh tra (Gián nghị đại phu, Ngự sử đài, Quan ngự sử. 8 Thuật ngữ thanh tra mang tính pháp lý lần đầu tiên xuất hiện trong Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chính phủ sẽ thành lập ngay một Ban thanh tra đặc biệt, có ủy nhiệm là đi giám sát tất cả công việc và các nhân viên của Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ” [21]. Luật thanh tra năm 2010 khẳng định: “Thanh tra Nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo quy trình thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành” [27].
Hiến pháp năm 2013 quy định chức năng thanh tra gắn liền với nhiệm vụ của Chính phủ như sau: “tổ chức công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước. Thanh tra có tác động tích cực đối với quản lý và góp phần nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước. Trong vai trò của mình, thanh tra không chỉ là hoạt động kiểm tra, giám sát; kịp thời phát hiện sai phạm; kiến nghị, xử lý nghiêm khắc đối với hành vi vi phạm và đề ra các biện pháp khắc phục, sửa chữa mà hơn hết là phương tiện để chủ thể quản lý phát hiện những biểu hiện trì trệ, không phù hợp với thực tiễn khách quan của cơ chế, phương pháp quản lý đã và đang cản trở các hoạt động quản lý, từ đó đề xuất các biện pháp cải cách hoàn thiện các hoạt động quản lý nhà nước. Khi tiến hành hoạt động thanh tra thì những hành vi vi phạm thường được xử lý bằng các biện pháp kỷ luật hành chính, do đó ta có thể phân thành hai loại gồm: thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Đối với thanh tra chuyên ngành: là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó [27]. Hoạt động thanh tra chuyên ngành do các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiến hành (Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở) và cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ 9 thanh tra chuyên ngành (Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở được giao chức năng thanh tra chuyên ngành). Như vậy, hoạt động thanh tra chuyên ngành chủ yếu hướng tới việc kiểm soát việc chấp hành chính sách, pháp luật chuyên ngành của mọi đối tượng thuộc phạm vi quản lý nhằm phục vụ hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của hoạt động thanh tra chuyên ngành tập trung và phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý và chính sách pháp luật để kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý kịp thời phòng ngừa phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.
Đối với thanh tra hành chính: là hoạt động kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao [27]. Như vậy, thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trong nội bộ bộ máy nhà nước; đối tượng của thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc. Nội dung của thanh tra hành chính nhằm xem xét, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao của cơ quan, tổ chức và cá nhân trực thuộc. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành.
Nó thể hiện quan hệ trong chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, kiểm soát giữa cấp trên với cấp dưới, giữa cơ quan có thẩm quyền với đối tượng trực thuộc chịu sự quản lý. b) Khái niệm công chức và tuyển dụng, sử dụng công chức. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan 10 phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [26].
Công chức có vị trí rất quan trọng trong việc duy trì hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị. Chính vì thế việc tuyển dụng và sử dụng được quan tâm đặc biệt. Có thể hiểu tuyển dụng công chức là quy trình do cơ quan có thẩm quyền tiến hành nhằm sàng lọc và tuyển chọn những người đáp ứng đầy đủ năng lực, phẩm chất theo yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế của cơ quan sử dụng công chức. Ngoài ra còn phải đáp ứng các điều kiện riêng nhất định do Luật Cán bộ, Công chức quy định.
Trường hợp đáp ứng các điều kiện đã nêu và cam kết tình nguyện làm việc từ 5 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc người học theo chế độ cử tuyển, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ thì tuyển dụng thông qua xét tuyển. Sử dụng công chức là việc sắp xếp vị trí việc làm của cơ quan có thẩm quyền đối với công chức dưới các hình thức: bố trí, phân công công tác; chuyển ngạch, nâng ngạch công chức; điều động, luân chuyển, biệt phái công chức; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, từ chức, miễn nhiệm công chức; đánh giá công chức nhằm phát huy tối đa năng lực làm việc của công chức theo yêu cầu nhiệm vụ, theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc đánh giá công chức là hoạt động được tiến hành hàng năm trước khi bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng kết thúc nhiệm kỳ, kết thúc thời gian luân chuyển đối với công chức và trước khi bổ nhiệm quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, kết thúc thời gian biệt phái đối với công chức. Mục đích đánh giá công chức được xác định là để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao.
Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, đào tạo, 11 bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức. Việc đánh giá công chức là người đứng đầu cơ quan, đơn vị sử dụng công chức thực hiện. c) Khái niệm thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức. Hoạt động thanh tra tuyển dụng, sử dụng công chức (TDSDCC) được tiến hành theo một trình tự, thủ tục luật định nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật; những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc phục.