CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐỐI VỚI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG 1.1 Khái niệm, vị trí Ngân hàng Trung ương Ngân hàng trung ương là một định chế công cộng, có thể độc lập hoặc trực thuộc chính phủ; thực hiện chức năng độc quyền phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân hàng, ngân hàng của chính phủ và chịu trách nhiệm trong việc quản lý nhà nước về các hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng. NHTW có nguồn gốc từ các ngân hàng phát hành. Cho đến đầu thế kỷ 20, các ngân hàng phát hành vẫn thuộc sở hữu tư nhân. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, do ảnh hưởng của những bài học kinh nghiệm từ cuộc Đại suy thoái năm 1929 - 1933 cũng như sự phát triển của các học thuyết kinh tế của Keynes (vào cuối những năm 1930) và Milton Friedman (năm 1960) về sự cần thiết của vai trò quản lý vĩ mô của nhà nước đối với nền kinh tế và ảnh hưởng của khối lượng tiền cung ứng đối với các biến số kinh tế vĩ mô, các nước đã nhận thức được tầm quan trọng phải thành lập một NHTW đóng vai trò quản lý lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động của hệ thống ngân hàng trong một quốc gia.
Các NHTW được thành lập hoặc bằng cách quốc hữu hoá các ngân hàng phát hành hiện có hoặc thành lập mới thuộc quyền sở hữu nhà nước. Các nước tư bản phát triển có hệ thống ngân hàng phát triển lâu đời như Pháp, Anh. thì thành lập NHTW bằng cách quốc hữu hoá ngân hàng phát hành thông qua mua lại co phần của các ngân hàng này rồi bo nhiệm người điều hành. Một số nước tư bản khác thì Nhà nước chỉ nắm cổ phần khống chế hoặc vẫn để thuộc sở hữu tư nhân nhưng Nhà nước bổ nhiệm người điều hành.
5 Tại Việt Nam, NHTW là Ngân hàng được thành lập thuộc sở hữu của nhà nước, trực thuộc Chính phủ, được gọi là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1.2 Chức năng của Ngân hàng trung ương Ngân hàng trung ương thực hiện hai chức năng cơ bản: là ngân hàng của quốc gia và thực hiện chức năng quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ, tín dụng và ngân hàng nhằm đảm bảo sự ổn định tiền tệ và an toàn cho cả hệ thống ngân hàng, qua đó mà thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. NHTW thực hiện các chức năng này thông qua các nghiệp vụ mang tính kinh doanh song tính chất kinh doanh chỉ là phương tiện nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý chứ không phải là mục đích của NHTW. Nói cách khác, mục đích hoạt động của NHTW không phải là mưu tìm doanh lợi mà là ổn định lưu thông tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng từ đó tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển kinh tế.1 Chức năng ngân hàng của quốc gia a. Ngân hàng phát hành tiền: Ngân hàng Trung ương được giao trọng trách độc quyền phát hành tiền theo các qui định trong luật hoặc được chính phủ phê duyệt (về mệnh giá, loại tiền, mức phát hành.) nhằm đảm bảo thống nhất và an toàn cho hệ thống lưu thông tiền tệ của quốc gia.
Đồng tiền do NHTW phát hành là đồng tiền lưu thông hợp pháp duy nhất, nó mang tính chất cưỡng chế lưu hành, vì vậy mọi người không có quyền từ chối nó trong thanh toán. Nhiệm vụ phát hành tiền còn bao gồm trách nhiệm của NHTW trong việc xác định số lượng tiền cần phát hành, thời điểm phát hành cũng như phương thức phát hành để đảm bảo sự ổn định tiền tệ và phát triển kinh tế. Ngân hàng của các ngân hàng: Ngân hàng trung ương không tham gia kinh doanh tiền tệ, tín dụng trực tiếp với các chủ thể trong nền kinh tế mà chỉ thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng với các ngân hàng trung gian. Bao gồm: 6 Mở tài khoản và nhận tiền gửi của các ngân hàng trung gian dưới dạng Tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi thanh toán; Cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới hình thức chiết khấu lại (tái chiết khấu) các chứng từ có giá ngắn hạn do các ngân hàng trung gian nắm giữ.
Việc cấp tín dụng của NHTW cho các ngân hàng trung gian không chỉ giới hạn ở nghiệp vụ tái chiết khấu các chứng từ có giá mà còn bao gồm cả các khoản cho vay ứng trước có đảm bảo bằng các chứng khoán đủ tiêu chuẩn, các khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại NHTW; Là trung tâm thanh toán bù trừ cho hệ thống ngân hàng trung gian: Vì các ngân hàng trung gian đều mở tài khoản và ký gửi các khoản dự trữ bắt buộc và dự trữ vượt mức tại NHTW nên chúng có thể thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt qua NHTW thay vì thanh toán trực tiếp với nhau. Khi đó, NHTW đóng vai trò là trung tâm thanh toán bù trừ giữa các ngân hàng trung gian. Ngân hàng của chính phủ: Là một định chế tài chính công cộng, NHTW đã được xác định ngay từ khi ra đời là ngân hàng của chính phủ. Với chức năng này, NHTW có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho chính phủ, đồng thời làm đại lý, đại diện và tư vấn chính sách cho chính phủ.2 Chức năng quản lý vĩ mô về tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng Đây là chức năng quyết định bản chất ngân hàng trung ương của một ngân hàng phát hành.
Việc thực hiện chức năng này không thể tách rời khỏi các nghiệp vụ ngân hàng của NHTW. Nói cách khác, NHTW quản lý vĩ mô các hoạt động tiền tệ và tín dụng thông qua khả năng kinh doanh của mình. Xây dựng và thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia :Chính sách tiền tệ là chính sách kinh tế vĩ mô trong đó NHTW sử dụng các công cụ của mình để điều tiết và kiểm soát khối lượng tiền trong lưu thông nhằm đảm bảo sự ổn 7 định giá trị tiền tệ đồng thời thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và đảm bảo công ăn việc làm.Thanh tra, giám sát hoạt động của hệ thống ngân hàng : Với tư cách là ngân hàng của các ngân hàng, NHTW không chỉ cung ứng các dịch vụ ngân hàng thuần tuý cho các ngân hàng trung gian, mà thông qua các hoạt động đó, NHTW còn thực hiện vai trò điều tiết, giám sát thường xuyên hoạt động của các ngân hàng trung gian nhằm: Đảm bảo sự ổn định trong hoạt động ngân hàng và bảo vệ lợi ích của các chủ thể trong nền kinh tế, đặc biệt là của những người gửi tiền, trong quan hệ với ngân hàng.2 Hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng trung ương 1. Sự cần thiết của hoạt động thanh tra, giám sát 1.1 Thanh tra, giám sát hoạt động Ngân hàng NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ - tín dụng chứa đựng nguy cơ rủi ro cao.
Rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng được hiểu là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự ton thất về tài sản của Ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Nguy cơ này phát sinh ngay từ khi phát tiền ra khỏi Ngân hàng. Trước thực trạng hoạt động và dịch vụ Ngân hàng ngày càng phong phú, hoạt động Ngân hàng nổi lên hàng loạt vấn đề nóng như nợ quá hạn, nợ xấu của các NHTM đang ngày một gia tăng, sự đổ vỡ của những tổ chức kinh tế như Vinashin, Vinalines, tại các công ty cho thuê tài chính, cho vay lĩnh vực bất động sản., các khoản vay hàng ngàn tỷ đồng của các Công ty, Tập đoàn Nhà nước, cho vay theo chỉ định của Chính phủ., tín dụng đen, chiếm dụng vốn, các khoản vay được cơ cấu nợ theo Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012, Chỉ thị 04/CT-NHNN ngày 17/9/2013. đã và đang gặp khó khăn trong vấn đề trả nợ.
Hoạt động TTGS Ngân hàng cần được chú trọng và 8 quan tâm, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát đối với hệ thống Ngân hàng hiện đại, giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn đối với các NHTM. Thêm vào đó, cùng với việc gia nhập WTO, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, hệ thống Ngân hàng Việt Nam nói chung và các NHTM nói riêng cũng đứng trước những cơ hội, thách thức mới và đi kèm với nó là những rủi ro tiềm ẩn mới. Hoạt động thanh tra, giám sát từ ngày ra đời đến nay đã góp phần to lớn trong việc đánh giá và đưa ra một cái nhìn tong thể, bao quát tình hình hoạt động kinh doanh của từng hệ thống NHTM. Qua kết quả kiểm tra, TTGS đã đưa ra các giải pháp khắc phục, xử lý những rủi ro, các kiến nghị để hoạt động Ngân hàng ngày một hiệu quả hơn.2 Mục đích của hoạt động thanh tra giám sát ngân hàng - Một là đảm bảo cho các TCTD hoạt động đúng pháp luật của Nhà nước Tất cả các nước trên thế giới có hoạt động ngân hàng, thì đều phải có một hệ thống pháp luật để điều chỉnh các hoạt động đó.
Đối với những nước khác nhau thì phạm vi cũng như đối tượng mà luật pháp điều chỉnh hoạt động ngân hàng cũng khác nhau. Song, hệ thống pháp luật về ngân hàng có thể được hình thành theo những thể loại sau: + Hạn chế việc tham gia vào hoạt động ngân hàng + Hạn chế bằng cách lập các chi nhánh và hợp nhất các ngân hàng + Giới hạn quy mô, số lượng của ngân hàng + Yêu cầu tỷ lệ dự trữ bắt buộc + Các yêu cầu liên quan đến vốn của ngân hàng + Các yêu cầu về hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ + Các yêu cầu tối thiểu về QTRR ngân hàng Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ từng thời kỳ, đặc thù riêng đối với mỗi ngân hàng mà thanh tra ngân hàng có thể đi sâu vào từng nội dung, nhưng nói 9 chung tất cả các mặt nghiệp vụ này đều phải được thanh tra giám sát nhằm tăng cường sự tuân thủ pháp luật của các TCTD. Thông qua hoạt động thanh tra, NHTW đã góp phần giữ cho các TCTD hoạt động một cách lành mạnh, đúng khuôn kho nhà nước. - Hai là, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền Do yêu cầu thực tế đòi hỏi, sự thỏa mãn nhu cầu gặp nhau nên người gửi tiền có nơi gửi, đó là ngân hàng, và người nhận tiền gửi được phép sử dụng số tiền này để cho vay hay đầu tư kiếm lời.