Chương 1: mô tả lý do chọn đề tài và các vấn đề nghiên cứu (ii) Chương 2: trình bày khuôn khổ lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm (iii) Chương 3: mô tả mô hình, phương pháp ước lượng và dữ liệu được sử dụng để nghiên cứu. (iv) Chương 4: trình bày kết quả kiểm định bằng mô hình định lượng. (v) Chương 5: thảo luận về mối quan hệ nhân quả giữa thành quả thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam, thảo luận các chính sách cần thiết. Đồng thời nêu ra hạn chế của luận văn và các hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 CHƯƠNG 2: KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM 2. Giới thiệu Vai trò quan trọng nhất của thị trường chứng khoán là tổ chức kinh tế giúp tăng cường hiệu quả trong việc hình thành và phân bổ vốn. Cho phép các công ty và chính phủ để nâng cao nguồn vốn dài hạn và cho phép họ tài trợ cho các dự án mới hay mở rộng các hoạt động khác. Theo cách này, Alile (1984) quan sát thấy thành quả của nền kinh tế gia tăng mạnh mẽ khi nguồn vốn tập trung phân bổ cho các đơn vị kinh tế sản xuất hiệu quả.
Hơn nữa, khi nền kinh tế tiếp tục phát triển; nhu cầu bổ sung nguồn vốn là rất cần thiết để đáp ứng sự mở rộng nhanh chóng của các đơn vị kinh tế này. Thị trường chứng khoán tạo ra một thị trường thích hợp giúp huy động và phân bổ hiểu quả các khoản tiết kiệm, điều này rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển hiệu quả của nền kinh tế. Lúc này thị trường chứng khoán hoạt động như thước đo cho hiệu quả kinh tế: giúp phân bổ nguồn vốn cần thiết một cách phù hợp cho tăng trưởng kinh tế. Sau đó, trong một nghiên cứu khác, Alile (1997) tiếp tục cho rằng việc xác định tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào tính hiệu quả của thị trường chứng khoán trong vai trò phân bổ vốn.
Khi thị trường chứng khoán thực hiện huy động tiết kiệm, đồng thời phân bổ một phần lớn hơn cho các công ty có triển vọng kinh doanh hiệu quả. Tầm quan trọng của chức năng này là nguồn vốn được luân chuyển bởi cơ chế cung-cầu cho những công ty triển vọng tăng trưởng cao và giúp gia tăng năng suất, điều này dẫn tới tăng cường mở rộng nền kinh tế. Thị trường chứng khoán rõ ràng khởi tạo cho các công ty nền tảng để nâng cao nguồn vốn dài hạn và cũng cung cấp cho các đơn vị thặng dư một kênh đầu tư nguồn vốn thặng dư. Vì vậy, thị trường chứng khoán khuyến khích các đơn vị thặng dư đầu tư nguồn vốn thặng dư vào các công cụ tài chính phù hợp với sở thích về tính thanh khoản, tỷ suất sinh lợi kỳ vọng và rủi ro.
Việc huy động tiết kiệm tốt hơn có thể làm gia tăng mức tiết kiệm, và khuyến khích tăng tỷ lệ đầu tư để tìm kiếm tỷ suất sinh lợi cao hơn. Như các nền kinh tế phát triển có các nguồn vốn lớn hơn là điều kiện cần thiết để đáp ứng sự phát triển kinh tế nhanh chóng và thị trường chứng khoán như là TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 một công cụ nền tảng trong việc huy động tiết kiệm và tái phân bổ chúng cho các hoạt động kinh tế hiệu quả. Điều đó rất quan trọng cho sự tăng trưởng và phát triển hiệu quả của nền kinh tế. Thêm nữa, thanh khoản trên thị trường chứng khoán một lần nữa giúp giảm rủi ro và chi phí đầu tư.
Trong một thị trường có tính thanh khoản cao, các khoản đầu tư dễ dàng được chuyển đổi thành tiền một cách nhanh chóng mà không mất chi phí đáng kể, bởi vì nhà đầu tư có thể bán cổ phần trong công ty một cách nhanh chóng và dễ dàng (Bencivenga và Smith, 1991). Rogers (2003) khẳng định rằng tầm quan trọng của tăng trưởng kinh tế không phải là chủ đề đáng tranh luận, bởi vì tăng trường kinh tế ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của xã hội. Ngoài ra, các chính sách kinh tế vĩ mô tác động đến các yếu tố như lạm phát hay lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cũng quan trọng không kém. Một trong những yếu tố quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế là sự phát triển ổn định của thị trường chứng khoán.
Tuy nhiên, một đề xuất của lý thuyết tăng trưởng là duy trì tốc độ tăng trưởng tích cực của sản lượng bình quân đầu người trong thời gian dài phải có tiến bộ liên tục trong khoa học công nghệ dưới hình thức tạo ra hàng mới, thị trường mới, quy trình mới. Đề xuất này được chứng minh bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng tân cổ điển được phát triển bởi Solow, mô hình này giải thích rằng nếu không có những tiến bộ công nghệ, thì sau đó tỷ suất sinh lợi sẽ giảm dần và cuối cùng sẽ gây ra tăng trưởng kinh tế âm. Mặc dù, một trong những thách thức lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế là xác định các yêu tố cơ bản tác động đến tăng trưởng và giải thích mức độ biến động trong hoạt động kinh tế theo thời gian. Cả mô hình tăng trưởng tân cổ điển-Keynes (Neo-Keynesianism) với Hicks (1937) diễn giải ý tưởng của Keynes trong Lý thuyết tổng quát dưới dạng mô hình IS-LM, thì đây cũng không phải mô hình tăng trưởng nội sinh có khả năng để giải quyết đầy đủ các hiện tượng của sự phát triển không đồng đều và bất bình đẳng kéo dài.
Hiểu được quá trình tăng trưởng kinh tế là mục đích cuối cùng của kinh tế học và tham gia vào cuộc nghiên cứu như vậy đòi hỏi rất nhiều sự cống hiến, ngay cả những hiểu biết nhỏ trên con đường tìm hiểu quá trình tăng trưởng kinh tế cũng có thể mang lại ích lớn cho hàng triệu người, và những sai lầm nhỏ có thể gây nên điều ngược lại. Do đó, khi TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 14 tăng trưởng kinh tế trong dài hạn không những cho phép gia tăng nhanh chóng các tiêu chuẩn của cuộc sống, mà còn góp phần tạo ra những chuyển biến quan trọng trong bối cảnh kinh tế, xã hội và chính trị của một quốc gia. Trong các tài liệu tăng trưởng nội sinh, Caporale và các cộng sự lập luận rằng, một số nghiên cứu lý thuyết đã tập trung vào các liên kết giữa tăng trưởng nội sinh và thị trường tài chính. Bencivenga, Smith (1991) và Levine (1991) là những người đầu tiên đề xuất các mô hình tăng trưởng nội sinh để xác định các kênh mà qua đó thị trường tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
Bencivenga và Smith (1991) phát hiện sự phát triển của các trung gian tài chính làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế thực. Mô hình khung lý thuyết xác nhận ngành ngân hàng tại các quốc gia phát triển – một thành phần của thị trường tài chính tác động đến tăng trưởng kinh tế. Tiếp đến, Bencivenga và Smith (1991) kết luận thị trường chứng khoán thúc đẩy tăng trưởng bằng cách (i) tạo điều kiện thuận lợi cho giao dịch quyền sở hữu công ty mà không làm gián đoạn quá trình sản xuất trong các công ty đó và (ii) cho phép nhà đầu tư nắm giữ danh mục đa dạng. Trong mô hình, tăng trưởng chỉ xảy ra nếu việc đầu tư duy trì đủ số vốn trong các công ty làm tăng vốn nhân lực và công nghệ trong quá trình sản xuất.
Càng nhiều nguồn lực được phân bổ cho các công ty, tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ càng nhanh. Trong trường hợp không có thị trường tài chính, các cú sốc về năng suất đặc thù của công ty có thể không khuyến khích các nhà đầu tư e ngại rủi ro đầu tư vào công ty. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán cho phép các cá nhân đầu tư vào một số lượng lớn các công ty và đa dạng hóa chống lại các cú sốc như vậy. Điều này làm tăng tỷ lệ nguồn tài nguyên được phân bổ cho các công ty hoạt động hiệu quả, gia tăng tích lũy vốn và giúp tăng trưởng kinh tế nhanh hơn.
Trong mô hình không có thị trường chứng khoán, cú sốc thanh khoản buộc một số nhà đầu tư phải rút vốn khỏi các công ty sớm và nhận được tỷ suất sinh lợi thanh lý rất thấp. Do đó, cú sốc thanh khoản không chỉ làm nản lòng đầu tư của công ty mà còn làm giảm năng suất của công ty khi các dự án bị rút vốn. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán cho phép những nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi cú sốc thanh khoản bán các khoản đầu tư cho nhà đầu tư khác với tỷ suất sinh lợi cao hơn việc thanh lý và nguồn vốn không bị TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 rút khỏi công ty. Do đó, thị trường chứng khoán thúc đẩy tăng trưởng trực tiếp bằng cách loại bỏ rủi ro rút vốn sớm làm tăng năng suất của công ty, gián tiếp bằng cách giảm rủi ro thanh khoản, khuyến khích đầu tư của các công ty.
Hai nghiên cứu trên nhấn mạnh thị trường tài chính giúp đa dạng hóa, gia tăng thanh khoản, thu hút tiết kiệm nhiều hơn vào đầu tư sản xuất và ngăn chặn việc rút vốn đầu tư sớm trong các dự án đầu tư dài hạn. Mở ra hướng nghiên cứu mới về sự tồn tại của thị trường tài chính giúp tăng thêm vốn đầu tư sản xuất, mà cuối cùng làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Thực tế là cổ tức kỳ vọng (dòng tiền) và lãi suất chiết khấu dự kiến tác động đến giá cổ phiếu hiện tại/tỷ suất sinh lợi, phải đảm bảo được logic phương sai có điều kiện của tỷ suất sinh lợi hiện tại là hàm số đo lường phương sai có điều kiện của kỳ vọng dòng tiền trong tương lai và lãi suất chiết khấu tương lai. Chinzara (2011) tiếp tục lập luận rằng, thu nhập và dòng tiền tương lai của công ty phản ánh sức khỏe của nền kinh tế, những thay đổi trong các biến kinh tế vĩ mô làm kích hoạt biến động của tỷ suất sinh lợi hiện tại, với giả định lãi suất chiết khấu không thay đổi.
Các nghiên cứu thực nghiệm Về mặt thực nghiệm cũng giống như về mặt lý thuyết, không có sự đồng thuận tất cả về mối quan hệ nhân quả giữa thành quả thị trường chứng khoán và tăng trưởng kinh tế.