ĐẶT VẤN ĐỀ Đường Hỏ Chí Minh (HCM) được khởi công từ năm 2000, theo Quyết định 18/2000/QĐ-TTg ngày 3/2/2000 của Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn I, làm từ Thị trấn Ngọc Hỏi, tỉnh Kon Tum đến Khe Cò, tỉnh Hà Tĩnh, dài khoảng 900 km; sau đó kéo đài ra Nghệ An, Thanh Hoá. Đoạn đường từ Ngọc Hồi đến Thanh Hoá, chủ yếu dựa theo nền đường Trường Sơn trước đây, đi qua nhiều địa hình hiểm trở, núi cao, đèo dốc, qua nhiều bản làng dân tộc hẻo lánh. Nơi trước đây và hiện nay tiềm ẩn những dịch bệnh do tiết túc y học truyền như bệnh sốt rét, sốt xuất huyết, sốt mò v.
Các dịch bệnh đó ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của đồng bào địa phương và công nhân làm đường. Trước đây do điều kiện địa hình phức tạp và điều kiện chiến tranh ác liệt, nên hầu như chưa có nghiên cứu nào về tiết túc y học trên đường Trường Sơn. Đoạn đường này cũng nằm trong vùng địa lý khí hậu, động thực vật đặc biệt của Việt Nam: là vùng bao gồm một phân Trường Sơn Nam và một phần Trường Sơn Bắc, mà chỗ giao nhau là dãy núi Hải Vân, chỗ hội tụ của hai luồng động thực vật từ Ấn Độ - Mã Lai lên và luồng từ Hoa Nam xuống; là nơi có khu hệ động thực vật phong phú và đa dạng #1, ; Hiện nay điều kiện môi trường dọc tuyến đường HCM đã thay đổi nhiều, theo hướng bất lợi cho sự bên vững của môi trường sinh thái, khu hệ động thực vật hoang dại giảm , có nhiều nơi hầu như đã cạn kiệt. Các yếu tố trên đã ảnh hưởng đến thành phần loài và phân bố của khu hệ tiết túc y học ở đây.
Vì vậy, việc tiến hành điều tra nghiên cứu thực trạng vẻ thành phần loài và phân bố một số nhóm tiết túÈ y học trên tuyến đường HCM. hết sức cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn và khoa học. Trước hết, phát hiện những loài có vai trò truyền bệnh. Đồng thời cảnh báo về tiềm năng có.
thể xảy ra một số bệnh do tiết túc lan truyền. Từ những lý do trên, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu: “Thành phần loài và phân bố tiết túc y học ở một số điểm trên tuyến đường Hồ Chí Minh”. 3 Mục tiêu của đề tài về 1. Xác định thành phần loài một số nhóm tiết túc y học ở một số điểm đọc tuyến đường Hồ Chí Minh.
Tìm hiểu sự phân bố của một số loài tiết túc y hoc ở một số điểm dọc tuyến đường Hồ Chí Minh ¿` ' _`2,TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình nghiên cứu tiết túc y học ở ngoài nước Tiết túc y học bao gồm các nhóm động vật thuộc lớp con tring (Insecta) và lớp nhén (Arachnida). Dé 1a nhiing tiết túc hút máu hoặc có đời sống ký sinh bên ngoài cơ thể (Ngoại ký sinh) động Vat và người. Chúng có ý nghĩa quan trọng về y học và thú y.
Nhiều loài là véc- tơ của dịch bệnh ở người và động vật. Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về các nhóm tiết túc y học. Bộ Bọ chét (Siphonaptera): có các công trình nghiên cứu của Hopkin và Rothschild (1953, 1956, 1962, 1966, 1971), Lewis (1972), Mordon (1981), Sakaguti & Jameson (1962), Iodd (1954, 1965). Trên thế giới đã phát hiện được 750 loài thuộc họ ve cứng (ïxodidae) và hơn 100 loài thuộc họ ve mém (Agasidae)!""!, N gười ta đã phát hiện được vai trò truyền bệnh của ve từ trước công nguyên.
Các loài ve là vật chủ trung gian hoặc vật môi giới lan truyền các mầm bệnh ký sinh trùng hoặc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người, gia súc, gia cầm và các động vật hoang dã, - 7 Họ Mò (7 rombiculidae): có các công trình nghiên cứu Ewing (1929), Wharton & Fuller (1951, 1952), Audy (1953), Brennan et Jameson (1959), Tamiya (1962), Cu Phong Y (1967), Nadchatram va Dohany (1974) v. Brennan va Goff (1977) thong báo trên thế giới đã phát hiện được 3 000 loài. Mò truyền một số bệnh sang người, nguy hiểm nhất 14 bénh s6t md (tsutsugamushi), mam bénh là Rickettsia tsutsugamushi. Benh phổ biến ở các nước Châu Á- Thái Bình Duong “!!, Liên họ Mạt (Gamasoidea): có các công trình nghiên cứu của Baker & Wharton (1952), Krantz (1960), “Strandtmann (1963), Jameson (1965)Bregetova & Vainstein 5 (1977) v.
Trên thế giới đã biết khoảng 914 loài, thuộc 112 gống, 13 họPU, Pavlovski (1949) đã khẳng định “ Mạt là trung tâm truyền các bệnh có tính chất ổ địch thiên nhiên”. Khoảng 35 loài mạt có liên quan tới bệnh tật ", : Liên họ ruồi (Muscoidea), gồm họ rudi nha - Muscidae, nhang ~ Calliphoridae, rudi x4m -Sarcophagidae có đời sống gần người. Có các công trình nghiên cứu của Zimin (1948, 1951), Hennig (1964), cha Emdem (1965), Fan (1965), Patton (1937), Pont (1977), Shinonaga (1971), Tumrasvin & Shinonaga (1977, 1978, 1979) v. Họ ruổi nhà -Muscidae, cho đến nay trên thế giới đã mô tả hơn 3 000 loài”.
Họ ruồi vàng (Simulidae): trên thế giới có khoảng 900 loài, gidéng Simulium hon 100 loài (cova, 1961). Phan họ Anophelinae, gêm giống Anopheles, trên thế giới đã mô tả khoảng 500 loài Ú! nhiều loài truyền bệnh sốt rét. Phan ho Culicinae gồm 29 giống, trong đó 3 giống có ý nghĩa y học là Culex, Aedes và Mansonia. Giống Aedes, trén thé giới có khoảng 870 loài.
Giống Cuiex, trên thế giới có khoảng 800 loài, có đại diện truyền giun chỉ bạch huyết và Arbovirus. Giống Mansonia, trên thế giới có 25 loài, có đại diện truyền giun chỉ và Arbovirus E8), 2. Tình hình nghiên cứu tiết túc y học ở Việt Nam Bọ chét: có các công trình nghiên cứu của Boden Kloss (1918), Jordan (1931), Raxtigaev va I. Ở Việt nam đã phát hiện là 34 loài và phân loài, thuộc 18 giống, 7 họt”! loài Xenopsylla cheopis đã được xác định truyền bệnh dịch hạch chủ yếu, Ve: có các công trình nghiên cứu của Toumanoff (1944), Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ, Nguyễn Văn Chi-(1977); Đỗ Sỹ Hiển, Nguyễn Văn Châu, Vũ đình Chữ, Trần Thị Hoà, Phạm Thị Khoa và CTV (1987)"' Phan Trọng Cung, Đoàn Văn Thụ (2001113: Kolonin (1992-2001)0940 v.
Năm 1995, Kolonin đã đưa ra danh sách 48 * us. t 6 loài ve Việt Nam, trong đó bố sung 3 loài mới (Jxodes siplex Neumann, I. werniri Kohls, Haephysalis bandicota Hoog. et Kohls) cho khu hệ ve Việt Nam và mô tả 2 loài m6i (Hae.
suntzovi Kolonin, 1992 sp.n, va Aponomma orlovi Kolonin, 1992 sp. n) cho khoa học ?**1, Dựa vào tài liệu nghiên cứu về Ve ở việt Nam từ trước đến nay của các tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi thống kê được 80 loài ve đã phát hiện ở Việt Nam. 3 Mò: có các công trình nghiên cứu của André (1954, 1954a và 1954b}“”; Schluger, Grochovskaia, Dang Van Ngu, Nguyen Xuan Hoe va Do Kinh Tung (1960); Domrow (1962); Nadchatram va Traub (1964); Parson va cộng sự (1969), Trần Thị Minh Phuong (1967); Hadi. Ở Việt Nam phát hiện được 107 loài, thuộc 24 giống, hai phân họ“! :Tuy nhiên, bệnh sốt mò được Noc.
Goutron mô tả từ năm 1915 ở Sài Gòn“! Sau năm 1964, bệnh sốt mò đã được tiếp tục phát hiện ở các tỉnh Yên Bái, Quảng Ninh, Hải Phong, Dak Lak, Gia Lai”!. Những năm gần đây, bệnh sốt mò được phát hiện ở Bắc Giang, Quảng Ninh 5), Mạt (Gamasoidea): 'có các công trình nghiên cứu của Grochovskaia et al. Trong một số công trình nghiên cứu y học ở Việt Nam trước đây của tác giả trong Và ngoài nước, hâu như chỉ lưu ý tới vai trò dịch tễ học của mạt trong các bệnh viêm não Nhật Bản B, bệnh dịch hạch, bệnh sốt xuất huyết v. ở Bác Bộ, Nam Bộ hay ở Đông Dương qua khảo sát các bệnh đó trong quân đội hoặc trong báo cáo của các Viện Pasteur ở Đông Dương.
Năm 2001, trong công trình “Động Vật Chí Việt Nam”, tập 11: Bộ Ve bết —Acarina, các tác giả đã trình bày khóa định loại và mô tả 72 loài, thuộc 30 giống, 13 ho mạt ở Việt Namt?, Rudi: có các công trình nghiên cứu của tác giả nước ngoài như: Patton và Senior-White (1924), Patton. Một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước: Lê Cương (1971), Đỗ Dương Thái (1972, 1976), Nguyễn Chác Tiến (1978, 1979, 1992, 1993), Tạ Huy Thịnh (1983-1985, 2000). Ở Việt Nam đã phát hiện được 103 loài thuộc họ ruồi nhà - Muscidae, 69 loài thuộc họ nhặng- Calliphoridae””. Nhiêu loài ruồi gần người đóng vai trò lan truyền các bệnh truyền nhiễm và kí sinh cho người như tả, lị, thương hàn, lao, đau mắt, giun sán6?”), Rudi vàng (Simudidae), ở Việt Nam chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, chỉ có thông báo về loài Simulim damnosum Theobald, phân bố ở vùng núi miền Bắc Việt Nam.
Hàng năm từ tháng 4-8, ruồi đốt người gây mẩn ngứa, phổ biến trong nhân dân, các đơn vị bộ đôi, công nhân sinh hoạt làm việc trong rừng), Muỗi (Cuicidae): trước năm 1954, rất ít công trình nghiên cứu về muỗi. Sau năm 1954 và nhất là sau 1975, các nghiên cứu được tăng lên; điển hình có các công trình của Scott (1966), Dang Van Ngit (1961), Viện Sốt rét- KST-CT (1987), Nguyén Thuong Hiển (1968), Vũ Thị Phan (1973, 1990), Trần Đức Hinh (1973, 1974, 1975, 1985, 1987, 1990), Nguyễn Thọ: Viễn (1973, 1974, 1975, 1992), Nguyễn Đức Mạnh (1988, 1993) v. Theo Trần Đức Hinh (1996), ở Việt Nam đã phát hiện được 58 loài Anophelinae, gồm 3 loài truyền sốt rét chủ yếu 1a: An. dirus va An.
sundaicus, 7 loai véc-to phu: An. vagus va An. indentifinitus "51, Muỗi Culicinae đã được các tác giả nghiên cứu, chủ yếu về khu hệ và sinh thái học; điển hình có các công trình nghiên cứu của Đặng Văn Ngữ (1961), Scott (1966), Vũ Đức Hương (1984, 1992, 1997), Nguyễn Thị Bạch Ngọc (1995). Cae loai: Cx.
vishnui, Mansonia anulifera, M. uniformis la vecto bénh giun chi 6 Viét Nam 2", Các loài: Cx. gelidus, Cx, tritaeniorhynchus va Cx. vishnui la vecto bệnh viêm não Nhật Bản ở Việt Nam (Phan Thị Ngà, Vũ Sinh Nam va Masahiro Takagi, 2004).
Trong khu vực có thyến đường Hồ Chí Minh đi qua trước đây chỉ có công trình nghiên cứu muỗi Anophelés của Trần Đức Hinh (1969, 1974). Sau năm 1975, có một số công trình nghiên cứu vé mudi Anopheles cia: Dinh Thi Hoa, Lé Văn Thạnh (2002) ở 8 miền tây tỉnh Quảng Tri; Truong Van Tan (1996) ở Quảng Nam; Trần Đình Đạo, Lê Đức Đào, Nguyễn Bá Chuyên, Trịnh Ngọc Hồ (2003) ở Thanh Hoá. Nghiên cứu về muỗi Culicidae của Hà Thị Quyên (1995)ở Quảng Bình. Nghiên cứu về ngoại kí sinh có các công trình của Đỗ Sỹ Hiển, Nguyễn Văn Châu, Nguyễn Thị Thu Vân và CTV (1978) ở tỉnh Kon Tum; Đặng Tuấn Đạt và CTV (2002).
Nghiên cứu khu hệ Aedes doc đường Hồ chí Minh (tại 8 điểm từ Đắk Lắk đến Hoà Lạc) có công trình của Nguyễn Ngọc San, Phạm Văn Minh (2004).