Khóa luận: Nghiên cứu thành phần hóa học Nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên

Khóa luận Dược sĩ nghiên cứu, phân lập thành phần hóa học từ phân đoạn dicloromethan của nấm Ganoderma cochlear, một dược liệu quý thu hái ở Tây Nguyên.

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Ganoderma cochlear Tây Nguyên

Ganoderma cochlear, hay còn gọi là nấm lim xanh, là một loài nấm quý hiếm mọc tự nhiên trên vùng núi cao Tây Nguyên. Đây là một trong những loài nấm dược liệu có giá trị cao nhất ở Việt Nam. Thành phần hóa học phong phú của nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên là nguyên nhân chính giúp nó trở thành vị thuốc quý trong y học cổ truyền và hiện đại. Nấm này chứa nhiều hoạt chất sinh học có tác dụng chữa bệnh, tăng cường sức đề kháng và cải thiện sức khỏe toàn diện.

1.1. Đặc điểm sinh thái nấm lim xanh

Nấm Ganoderma cochlear phát triển tốt nhất ở vùng Tây Nguyên với khí hậu mát mẻ, độ ẩm cao và đất giàu chất hữu cơ. Môi trường này tạo điều kiện lý tưởng để nấm hình thành các chất hóa học phức tạp. Thời gian sinh trưởng kéo dài từ 2-3 năm, giúp nấm tích tụ nhiều dưỡng chất quý. Đặc biệt, nấm mọc tự nhiên có hàm lượng chất hoạt động cao hơn so với nấm nhân tạo.

II. Thành phần hóa học chính của nấm Ganoderma cochlear

Thành phần hóa học nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên rất đa dạng và phong phú. Các nghiên cứu khoa học đã xác định hơn 400 chất hoạt động trong nấm này, bao gồm polysaccharide, triterpene, protein, axit amin, khoáng chất và các vitamin. Mỗi chất đều có những tác dụng sinh học cụ thể, góp phần tạo nên công hiệu chữa bệnh của nấm. Hàm lượng các chất này cao hơn ở nấm lim xanh tự nhiên từ Tây Nguyên so với các vùng khác.

2.1. Polysaccharide chất hỗ trợ miễn dịch

Polysaccharide (đa đường) chiếm tỷ lệ cao nhất trong thành phần hóa học nấm Ganoderma cochlear, với hàm lượng 30-40% trên cơ sở khô. Những polysaccharide này kích hoạt hệ thống miễn dịch, tăng cường hoạt động của các tế bào bạch cầu. Chúng cũng có tác dụng chống viêm, chống oxy hóa mạnh mẽ. Beta-glucan là thành phần chính, được chứng minh có khả năng ức chế sự phát triển của các khối종양.

2.2. Triterpene chất chống viêm và kháng khuẩn

Triterpene là nhóm chất hóa học quan trọng thứ hai, với khoảng 100+ loại triterpene khác nhau được tìm thấy. Chúng có khả năng ức chế hoạt động của enzyme lipoxygenase, giảm sản xuất các chất gây viêm. Triterpene cũng giúp cải thiện chức năng gan, tăng đào thải độc tố. Các tổng hợp triterpene đã được ứng dụng trong các sản phẩm hỗ trợ sức khỏe hiện đại.

III. Thành phần vi lượng và hoạt chất khác

Ngoài polysaccharide và triterpene, nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên còn chứa nhiều chất hóa học quan trọng khác. Các axit amin tự do, peptide sinh học, nucleotide, sterol thực vật và các enzyme đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất. Những khoáng chất như kali, canxi, magiê, sắt, kẽm có hàm lượng cao, giúp cân bằng điện giải trong cơ thể. Vitamin B, vitamin D và các chất polyphenol cũng có mặt đáng kể.

3.1. Khoáng chất và các vi chất dinh dưỡng

Nấm Ganoderma cochlear chứa 18 loại axit amin thiết yếu, trong đó nhiều loại có hàm lượng cao hơn các loại nấm khác. Kali chiếm khoảng 2-3% trên cơ sở khô, giúp điều hòa huyết áp và hỗ trợ tim mạch. Magiê, canxi và các khoáng chất khác giúp tăng cường sức khỏe xương khớp. Vitamin B complex có trong nấm hỗ trợ chuyển hóa năng lượng và hoạt động thần kinh.

3.2. Chất chống oxy hóa và polyphenol

Polyphenol và các chất chống oxy hóa tự nhiên trong nấm giúp bảo vệ tế bào khỏi tổn thương do gốc tự do. Hoạt tính chống oxy hóa (ORAC) của nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên cao hơn nhiều loại trái cây và rau quả. Các phytochemical trong nấm giúp giảm viêm nhiễm, hỗ trợ chức năng gan và thận. Những hợp chất này cũng giúp giải độc cơ thể và tăng cường sức sống.

IV. Ứng dụng thành phần hóa học trong y học

Sự phong phú của thành phần hóa học nấm Ganoderma cochlear Tây Nguyên tạo cơ sở khoa học cho những ứng dụng đa dạng trong y học. Các chất có mặt trong nấm giúp tăng cường miễn dịch, cải thiện tuần hoàn máu, hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết áp. Nấm cũng được sử dụng trong hỗ trợ điều trị ung thư, giảm các tác dụng phụ của hóa trị. Nghiên cứu tiếp tục xác minh các tính chất dược học của các thành phần này.

4.1. Tác dụng hỗ trợ miễn dịch và chống bệnh

Polysaccharide và beta-glucan trong nấm Ganoderma cochlear kích hoạt các tế bào NK (natural killer) và tế bào T, tăng cường khả năng phòng chống bệnh. Triterpene cùng với các chất polyphenol giúp giảm viêm toàn thân, hỗ trợ cân bằng hệ thống miễn dịch. Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy người dùng nấm này có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn. Nấm được khuyến cáo sử dụng để tăng cường sức khỏe phòng ngừa bệnh.

4.2. Hỗ trợ điều trị các bệnh mãn tính

Các chất hoạt động trong nấm giúp ổn định đường huyết, hỗ trợ mỉm đặt bệnh tiểu đường loại 2. Triterpene cải thiện chức năng tim mạch, giúp làm hạ huyết áp nhẹ và an toàn. Nấm Ganoderma cochlear cũng được sử dụng trong chương trình hỗ trợ hóa trị với tác dụng giảm buồn nôn, cải thiện sức khỏe. Các chất chống oxy hóa giúp bảo vệ tế bào khỏe mạnh và chậm lão hóa.

28/12/2025
Nguyễn thị thanh thanh nghiên cứu thành phần hóa học phân đoạn dicloromethan của nấm ganoderma cochlear nees merr họ ganodermataceae thu hái tự nhiên ở tây nguyên khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho chuỗi phát hiện này, Peng X. Q và cộng sự (2014) đã phân lập được bốn cặp enantiomer polycyclic-meroterpenoid mới sở hữu hệ thống vòng spiro [4,5] decane là ganocin A–C (35 – 37), cùng với ganocin D (38) có cấu trúc vòng tám cạnh [38]. Cũng trong năm đó, Man Dou và cộng sự (2014) phát hiện được thêm (±)- cochlearol A-B (205-206) có bộ khung đa vòng mới [6]. Năm 2015, Feng-Jiao Zhou và cộng sự đã được phân lập năm cặp enantiomer meroterpenoid đa vòng chứa khung methanobenzo[c]oxocino[2,3,4-ij]-isochromene độc đáo là cochlearoid A–E (198-202), và hai cặp chất chuyển hóa lai enantiomer có hệ thống vòng lai 6/6/6/5/5/6 bất thường là cochlearine A-B (203-204) [55].

Năm 2016 tiếp tục ghi nhận thêm GM mới, trong đó Wang X. và cộng sự phân lập được cochlearoid F-K (192-197) [7], còn Man Dou và cộng sự phát hiện nhận thêm hai normeroterpenoid và meroterpenoid phenolic là cochlearol C và D (207-208) [56]. Rất nhiều hợp chất mới được ghi nhận trong năm 2018., Wang Xia và cộng sự đã phân lập được sáu cặp race-mates (±) - cochlearin A–E, G (39-44), cùng một cặp mới sở hữu hệ thống vòng bicyclo[4.0]decane với một đoạn γ-lactone là (±)- cochlactone A (191) và cochlearin F, H và I (45-47) [57], [58]. Li-Zhi Cheng và cộng sự đã ghi nhận được ganochlearol C-D (179-180), (±)-cochlearoid Q (186), cùng ganomycin C, F (109, 181-182, 5) [59].

Fu-Ying Qin và cộng sự bổ sung thêm ba cặp enantiomer dimeric spiro meroterpenoidal mới là (±)-spirocochlealactones A-C (187- 189) và ganodilactone (190) đã biết [13]. Trong giai đoạn 2019 – 2020, Wang X. và cộng sự (2019) đã xác định được chín meroterpenoid mới là cochlearol E-Y (161-169, 113-124), cùng với chín meroterpenoid đã biết (98-99, 170-176) [8], [9]. Cùng thời điểm đó, Fu-Ying Qin và cộng sự (2019- 2020) đã phân lập được thêm ba cặp meroterpenoid mới là (±) cochlearoid N-P (183- 185) [19], ba hợp chất meroterpenoid với hệ thống vòng 6/6/5/6/6/6 là (±)- dispirocochlearoids A–C (66-68) [15] và hai cặp enantiomer mertoterpenoid dimeric là 8 (±)-gancochlearol A-B (177-178) từ G.

Đồng thời, Jiao-Jiao Zhang và cộng sự (2020) xác định được thêm ganodermaones A và B (159-160) [11]. Năm 2021, Fu-Ying Qin và cộng sự tiếp tục phát hiện mười một meroterpenoid mới là Gancodercin G-K và M-P (51, 53-55, 57, 58, 61-65) và bốn meroterpenoid đã biết (52, 56, 59 và 60). Tất cả các hợp chất này đều chứa một vòng cyclohexane đầu cuối và tinh khiết về mặt đối quang [20]. Xiao-Hui Meng và cộng sự cũng phân lập được năm cặp enantiomer meroterpenoid mới là (±)-gancochlearols J − N (69 – 73) [10].

Đồng thời, Yan-Peng Li và cộng sự đã xác định được thêm gancochlearol E - I (153, 155-158) và ganomycin K (154) đã biết [16]. Một năm sau đó, Fu-Ying Qin và cộng sự (2022) tiếp tục phát hiện mười cặp dimer meroterpenoid mới là (±)-dimercochlearlactones A−J (74–83) và spirocochlealactone A đã biết (84) [60], năm benzopyran mới là ganodercin Q-U (145-149), hai benzofuran mới là ganodercin V và W (150-151) cùng hai meroterpenoids đã biết [61]. Đầu năm 2023, Fang Da-Shuang và cộng sự phân lập được một dimer mới là cochlearin J (48), một cấu trúc lactone hai vòng là cochlearin K (49) và một chuỗi không bão hòa là cochlearin L (50) cùng ba hợp chất đã biết (85-87) [40]. Cùng năm, Sura Madhu Babu và cộng sự công bố chín meroterpenoid mới (88-96), trong đó có hai bộ epimer bao gồm ganadone A, 3',10'-di-epi-ganadone A; 10'-epi-ganadone A; và 3'-epi- ganadone A; ganadone B và 10'-epi-ganadone B, và hai meroterpenoid lacton hóa là ganadones D và E (95-96), cùng một hợp chất khung cơ bản ganadone C (94) và [62].

CH3 CH3 CH3 CH3 O O O O CH3 HO CH3 HO CH2 HO CH3 HO O CH3 CH3 CH3 O O O O H 35. (±) Ganocin D CH3 OH H3C CH 3 O OH OH CH3 CH3 CH3 O H2C HO O O CH3 CH3 CH 3 O O HO H3C HO HO H 3C CH 3 O 39. (±) Cochlearin D H CH3 HO CH3 H3C CH3 O HO H3C O HO H3C CH3 O OH O CH3 O O OH CH3 HO O O O OH O OH OH 43. Một số hợp chất meroterpenoid phân lập được từ G.

cochlear Meroterpenoid là nhóm hợp chất đặc trưng của G. cochlear, không chỉ đa dạng về số lượng mà còn phong phú về cấu trúc, đặc biệt với các cấu trúc vòng phức tạp và dạng dimeric hiếm gặp. cochlear cũng phát hiện sự có mặt của sesquiterpenoid, nhưng khá hiếm gặp và chưa được nghiên cứu sâu. Nguyễn Thị Duyên và cộng sự (2024) phân lập được một sesquiterpenoid là polycarpol (127) đã được Peng X.

và các cộng sự ghi nhận vào năm 2015 [50]. 6 R1 R2 R3 R4 R5 R6 Δ H3C R CH3 4 CH3 CH3 R 126. (22E)-ergosta-7,9(11),22-trien-3β-ol H H H H H CH3 Δ7,8 Δ9,11 Δ22,23 CH3 Δ7,8 Δ9,11 CH3 3 R 5 127. Polycarpol Me Me Me H OH R CH3 O HO H 1 2 128.

Lucidenic acid N Me Me Me O O OH Δ8,9 R R Hình 1. Một số hợp chất sesquiterpenoid phân lập được từ G. Alcaloid Alcaloid là nhóm chất hiếm gặp ở chi Ganoderma. Wang Xin-Long và cộng sự (2017) đã phân lập được 10 alcaloid mới (97-106) bao gồm 7 alcaloid mới là Ganocochlearine C–I (99-105) và ganoapplanatumin B (106), sinensin E (107), lucidimine C (108) đã biết [32].

CH2OCH3 H CH3 CH3 O 100. OH OCH3 O N CH3 H 101. OCH3 OCH3 H HO HO HO 102. Một số hợp chất alcaloid phân lập được từ G.

Phenolic Phenolic là nhóm hợp chất thứ cấp phổ biến trong các loài nấm, đặc biệt ở chi Ganoderma. cochlear, tuy số lượng phenolic được phân lập không nhiều như terpenoid, nhưng chúng vẫn thể hiện sự đa dạng về cấu trúc. Peng XingRong và cộng sự (2015) xác định được bảy phenol prenylat mới, gồm năm phenol có bộ khung đa vòng là ganoderin A (34), ganocochlearin A-D (97-100) và hai phenol có chuỗi carbon là Fornicin D (5), Ganomycin C (109) và một hợp chất đã biết (110). Đáng chú ý, các hợp chất (97–100) là loại dị vòng hợp nhất và cấu trúc lõi của chúng tương tự như flavonoid [18].

Một năm sau, Man Dou và cộng sự (2016) tiếp tục ghi nhận sáu dẫn xuất benzen bao gồm p- hydroxycinnamic methyl ester, 2-methoxy-4-hydroxybenzaldehyde, 3- methoxy-4-hydroxy-phenylethanol, 4-hydroxyacetophenone, acid 4-hydroxy-3- methoxy benzoic và acid 2-hydroxy-5-ethoxybenzoic [56]. Gần đây, Meng Ning và cộng sự (2025) đã phân lập được thêm hợp chất mới là 2,5-dihydroxyacetophenone (209), thuộc nhóm phenolic ketone đơn giản có cấu trúc 10 gồm nhân benzene mang hai nhóm hydroxyl và một nhóm acetyl, tạo nên một bộ khung kiểu dihydroxyaryl ketone, tương đồng với hydroquinone [63]. O 2 R H3C O OH O CH3 CH3 O O O CH3 OH O CH3 R 1 CH3 CH3 O HO HO H3C OH O OH O CH2 5. 2,5-Dihydroxyacetophenone 1 R CH3 OH O R N CH3 H HO HO HO O CH3 CH3 2 O OH O R O R1 R2 R 109.

OH OCH3 Hình 1. Một số phenolic phân lập được từ G. Tác dụng dược lý loài Ganoderma cochlear 1. Bảo vệ thần kinh Theo y học cổ truyền Trung Quốc, G.

cochear đã được sử dụng từ lâu đời để làm thuốc bổ, hỗ trợ giấc ngủ, cải thiện trí nhớ, chống lão hóa, kéo dài tuổi thọ và và hỗ trợ điều trị bệnh Alzheimer nhờ khả năng bảo vệ và phục hồi tế bào thần kinh [49]. Peng và cộng sự (2014), đã được phân lập ganocins A–D và đánh giá khả năng ức chế AChE - enzym thủy phân acetylcholine, chủ yếu có trong hệ thần kinh trung ương. Kết quả chỉ có ganocin D thể hiện hoạt tính ức chế yếu, trong khi ganocins A–C không có tác dụng đáng kể. Nguyên nhân có thể do cấu trúc chỉ chứa một vòng benzene đơn, hệ liên hợp ngắn và kém đồng phẳng, không phù hợp với cơ chế tương tác như các chất ức chếAChE tự nhiên (điển hình như flavonoid, anthraquinone) [38].

Zhou và cộng sự (2015) xác định được cochlearoid A, C và cochlearine A vừa ức chế chọn lọc dòng ion qua kênh canxi T-type Cav3.1 vừa điều hòa quá trình đóng mở kênh, mà hầu như không ảnh hưởng đến các kênh canxi điện thế cao khác (Cav1.2) hay kênh kali Kv11. Gần đây, Ding Dong và cộng sự (2025) ghi nhận ganomycin C có khả năng ức chế chọn lọc các kênh canxi có cổng điện thế thấp (LVGCC), đặc biệt là Cav3. Từ đó thể hiện hiệu quả giảm đau đáng kể và giảm cơn co giật vượt trội hơn ethosuximide - thuốc điều trị động kinh vắng ý thức [64]. Bảo vệ gan Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra tiềm năng bảo vệ gan của các hợp chất phân lập từ thể quả G.

Q và cộng sự (2014) đã phân lập được fornicatin A, D và F và fredelin cho thấy khả năng làm giảm mức ALT và AST trong tế bào HepG2 được xử lý bằng H2O2 [44]., Wang Xia và cộng sự (2018) ghi nhận ( ± )-cochlearin A–I có tác dụng dọn gốc DPPH, riêng ( ± )-cochlearin D ức chế yếu sự tăng sinh của tế bào sao gan do TGF- β1 gây ra [57]. Bảo vệ thận Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất từ G. cochlear có khả năng ức chế sự hoạt hóa quá mức của TGF-β và làm giảm biểu hiện của fibronectin, collagen I, qua đó thể hiện tiềm năng ngăn cản quá trình xơ hóa và tổn thương thận. Man Dou và cộng sự (2014) là nhóm đầu tiên ghi nhận hoạt tính này khi phát hiện cochlearol B có khả năng ức chế mạnh p-Smads trong tế bào biểu mô ống thận NRK-52E cảm ứng bởi TGF- β1 [6].

và cộng sự (2016, 2019) ghi nhận cochlearoid F, G, I, J, K và cochlearol K, N, S, U, X, Y đều thể hiện hoạt tính ức chế mạnh sự tăng sinh quá mức fibronectin trong các tế bào HKC-8 và NRK-49F do TGF-β1 gây ra [7-9]. Zhang Jiao-Jiao (2020) và Meng Xiao-Hui (2021) tiếp tục xác định được thêm ganodermaones A-B và (-)-gancochlearols J-K có khả năng ức chế quá trình xơ hóa trên tế bào NRK- 52E [10], [11], đặc biệt ganodermaone B gây ức chế mạnh hơn, làm giảm đáng kể sự biểu hiện của collagen I, fibronectin và α-SMA theo cách phụ thuộc liều [11]. Kazumi Naruse và cộng sự (2020) ghi nhận cochlearol A với bộ khung đặc trưng perhydro-3,9a- epoxybenzo[c]oxepine cũng ức chế hoạt động gây xơ hóa của TGF-β1, nhưng cả hai đồng phân quang học của nó đều không có tác dụng [65]. Trong các nghiên cứu sau đó, Fu-Ying Qin và cộng sự (2021, 2022) tiếp tục phát hiện thêm cochlearol O, (+) - ganodercin S, cochlearol F và (±) - ganodercin V có tác dụng ức chế sự biểu hiện quá mức của collagen I, trong đó cochlearol O còn làm giảm biểu hiện collagen I và α -SMA, góp phần ngăn ngừa xơ hóa thận [20], [61].

Gần đây, Kakde Badrinath N. và cộng sự (2024) cho thấy (±)-cochlearol T, Y và (±)-ganocochlearin A làm giảm đáng kể biểu hiện mRNA và protein của các dấu hiệu xơ hóa thận ở người [12]. Ngoài cơ chế ức chế TGF-β1, một số hợp chất từ G.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ