CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tổng quan về chi Glechoma 1. Vị trí phân loại Theo hệ thống phân loại thực vật của Armen Takhtajan (2009) [4], [6], [7], chi Glechoma có vị trí phân loại như sau: Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Ngọc lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Họ Cúc (Asteridae) Bộ: Hoa môi (Lamiales) Họ: Bạc hà (Lamiaceae) Chi: Glechoma 1. Đặc điểm phân bố của chi Glechoma Chi Glechoma bao gồm những thực vật có hoa thuộc họ Bạc hà được phát hiện đầu tiên vào năm 1753, phân bố ở bắc Á và Châu Âu [8].
Các loài của chi Glechoma, bao gồm tám loài, thường sinh sống chủ yếu ở những nơi màu mỡ ẩm ướt như rìa rừng, ven suối hoặc đồng cỏ thung lũng [4], [7], [9]. Hiện nay, ở Việt nam chỉ tìm thấy một loài thuộc chi Glechoma là Glechoma hederacea L. Nghiên cứu về thành phần hóa học của chi Glechoma Cho đến nay, các nghiên cứu khảo sát thành phần hóa học của chi Glechoma chủ yếu tập trung vào hai loài Glechoma longituba và Glechoma hederacea. Trong đó các nghiên cứu về thành phần của loài Glechoma longituba bao gồm các nhóm hợp chất triterpenoid, sesquiterpen, monoterpenoid, các polyphenol.
Hợp chất triterpenoid Năm 2019, Ouyang và cộng sự đã phân lập được năm saponin triterpenoid mới là glechomanoside A, B, C, D, E (1-5) từ dịch chiết butanol của loài Glechoma longituba rồi tiến hành đánh giá hoạt tính chống huyết khối [10]. R1= OH, R2= Ac, R3= Ac, R4= H, R5= CH3 2. R1= OH, R2= Ac, R3= H, R4= Ac, R5= H 3. R1= OH, R2= Ac, R3= H, R4= H, R5= CH3 4.
R1= OH, R2= H, R3= Ac, R4= H, R5= CH3 5. Cấu trúc các hợp chất triterpenoid của chi Glechoma Hợp chất sesquiterpen lacton Năm 2011, Kim và cộng sự đã phân lập 3 hợp chất sesquiterpen lacton mới gồm: 1α,10β-epoxy-4-hydroxy-glechoma-5-en-olide (6); 1β,10α-epoxy-4,8-dihydroxy- glechoma-5-en-olide (7); 1β,10α;4α,5β-diepoxy-8-methoxy-glechoman-8α,12-olide (8) từ loài Glechoma longituba ở Hàn Quốc. Cùng với 4 hợp chất đã phân lập trước đó: 1β,10α;4α,5β-diepoxy-glechoman-8α,12-olide (9); 1β,10α;4α,5β-diepoxy-8β-hydroxy- glechoman-8α,12-olide (10); 1β,10α;4α,5β-diepoxy-6β-hydroxy-glechoman-8α,12- olide (11) và 1,10; 4,5-diepoxy-7(11)-germacren-12,8-olide (12), nhóm tác giả nghiên cứu tác dụng gây độc tế bào của các chất đối với các dòng tế bào ung thư người [11]. Cấu trúc các hợp chất sesquiterpen lacton của chi Glechoma Hợp chất monoterpenoid glycosid Năm 2008, Zhu và cộng sự đã phân lập được 2 monoterpenoid glycosid mới từ dịch chiết ethanol của toàn cây Glechoma longituba: 2α-pinan-3-one-2-O-β- glucopyranoside (13) và 5α-pinan-3-one-5-O-β-glucopyranoside (14) [12].
Cấu trúc các hợp chất monoterpenoid glycosid của chi Glechoma Hợp chất polyphenol Nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Glechoma longituba bằng sắc ký cột silica gel, Sephadex LH-20 và sắc ký lỏng hiệu năng cao đã tìm ra 14 hợp chất polyphenol. Trong số các hợp chất được tìm thấy thì các hợp chất stilbostemin B (15); acid trilepisiumic (16); 3,4-dihydroxyphenyl ethanol ketone (17); bergenin monohydrat (18); oresbiusin A (19); norbergenin (20); stilbostemin D (21); ehretioside B (22); ethyl ferulate (23); acid E-p-hydroxy-cinnamic (24); methyl gallate (25); 4'-hydroxyacetophenon (26); acid E-3-2,4-dihydroxyphenyl-2-acrylic (27) đã được phân lập đầu tiên từ cây này và acid protocatechuic (28) [13]. Nghiên cứu từ dịch chiết nước nóng phần trên mặt đất của loài Glechoma longituba đã xác định được 7 hợp chất polyphenol bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp với kỹ thuật phân tích khối phổ (MS/MS). Các thành phần chính trong nghiên cứu là acid trans-caffeic (29), acid rosmarinic (30), acid {[(2E)-3-(3,4-dihydroxyphenyl)-2- propenoyl] oxy} malonic (31) và các liên hợp polyphenol glucuronide: luteolin-7-O-di-glucuronide (32), apigenin-7-O-di-glucuronide (33), luteolin-7-O- glucuronide (34), apigenin-7-O-glucuronide (35) [14].
Năm 2011, một nghiên cứu khác tìm thấy 2 hợp chất polyphenol mới là methyl isoferuloyl-7-(3,4-dihydroxyphenyl)lactate (36) và benzyl-4′-hydroxy-benzoyl-3′-O-β- glucopyranoside (37) có tác dụng chống viêm được phân lập từ loài Glechoma longituba [15]. Cấu trúc một số hợp chất polyphenol của chi Glechoma 1. Nghiên cứu về tác dụng sinh học của chi Glechoma Các nghiên cứu về tác dụng sinh học của chi Glechoma chủ yếu được nghiên cứu trên hai loài Glechoma longituba và Glechoma hederacea. Phòng ngừa và điều trị sỏi thận Năm 2016, Liang và cộng sự đã tiến hành thí nghiệm in vivo trên mô hình chuột bị gây sỏi calci oxalat để đánh giá tác dụng của dịch chiết nước đông khô của Glechoma longituba.
Chuột được cho uống nước chứa 1,0% ethylen glycol làm chất gây sỏi, với thuốc chứng dương là kali citrat với liều 2,0 g/kg/ngày. Các lô thử được cho ăn Glechoma longituba hàng ngày với liều 220, 440, 880 mg/kg/ngày bằng ống thông dạ dày. Kết quả cho thấy lượng calci oxalat ở lô thử giảm đáng kể so với nhóm bệnh chứng và nhóm chứng dương (p < 0,05). Chứng tỏ Glechoma longituba có tiềm năng ngăn ngừa và hỗ trợ điều trị sỏi tiết niệu nhờ tác dụng chống oxy hóa, giảm yếu tố hình thành sỏi và tăng bài tiết citrat niệu [16].
Chống oxy hóa, chống viêm Dịch chiết nước nóng của loài Glechoma longituba giàu hợp chất polyphenol có tác dụng chống oxy hóa và chống viêm, nổi bật gồm các thành phần: acid rosmarinic, acid chlorogenic, acid caffeic, rutin, genistin và acid ferulic. Kết quả cho thấy dịch chiết có khả năng dọn gốc tự do mạnh thông qua các xét nghiệm DPPH và β-caroten. Trong mô hình in vitro, nghiên cứu đã chứng minh khả năng ngăn ngừa tổn thương ADN do lipopolysaccharide gây ra trên đại thực bào RAW 264.7, dịch chiết có tác dụng làm giảm nồng độ nitric oxyd (NO) và malondialdehyd (MDA), tăng hàm lượng glutathion (GSH) và điều hòa hoạt động enzym chống oxy hóa. Ngoài ra, làm giảm đáng kể biểu hiện mARN của các yếu tố viêm như iNOS, COX-2, TNF-α, IL-6 và IL-1β [17].
Tác dụng chống huyết khối Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hợp chất glechomanoside A–E phân lập từ phân đoạn butanol của Glechoma longituba có tác dụng chống đông máu. Trong 5 6 hợp chất tìm ra thì glechomanoside C và glechomanoside D có tác dụng chống đông máu tốt nhất. Cơ chế chống đông là ức chế kết tập tiểu cầu thông qua con đường đông máu nội sinh, từ đó ngăn chặn hình thành huyết khối. Những kết quả này cho thấy tiềm năng ứng dụng của Glechoma longituba trong việc phát triển các dược phẩm chống đông máu [10].
Tác dụng bảo vệ gan Năm 2017, Wang và cộng sự đã thử nghiệm mô hình gây tổn thương gan do ứ mật bằng cách thắt ống dẫn mật trên chuột Sprague-Dawley nhằm đánh giá tác dụng bảo vệ gan của Glechoma longituba. Kết quả cho thấy việc uống dịch chiết nóng hàng ngày giúp cải thiện các chỉ số sinh hóa huyết thanh, viêm và xơ hóa gan trên lô chuột thí nghiệm so với nhóm đối chứng. Cơ chế tác dụng do sự ức chế biểu hiện yếu tố TGF-β1, collagen làm giảm xơ hóa và tổn thương gan do mô hình gây ra. Ngoài ra, chiết xuất còn ức chế hoạt hóa các yếu tố phiên mã gây viêm như NF-κB và AP-1 [18].
Tổng quan về loài Glechoma hederacea L. Tên đồng nghĩa: Glechoma brevituba Kupr. Tên khác: Liên tiền thảo, Rau má thìa [4]. Đặc điểm phân bố của loài Glechoma hederacea L.
Ở trên thế giới Năm 1597, loài Glechoma hederacea L. được phát hiện đầu tiên ở vương quốc Anh. Là một loài ưa khí hậu ôn đới, phổ biến nhất ở vùng đất có khoảng pH acid đến hơi kiềm (pH 5,5–7,5) có thể mọc trên đất có pH thấp tới 4,0 [19]. Loài này phân bố rộng rãi ở hầu hết châu Âu, Kavkaz và Siberia, cũng như ở Bắc Mỹ.
Ngoài ra, loài được tìm thấy phân bố rộng rãi ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản [3]. Ở Việt Nam Do đặc điểm Rau má lông thuộc loại cây thảo đặc biệt ưa ẩm, hơi chịu bóng, thường mọc thành đám ở gần bờ suối, ven rừng ẩm, nhất là loại hình rừng núi đá vôi, hoặc những nơi đất trũng trong thung lũng [4]. Hiện nay, nước ta chỉ có một loài Rau má lông, phân bố ở một số vùng núi có độ cao từ 500 đến 1600 m, thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái (Mù Cang Chải), Lào Cai (Sa Pa, Bát Xát, Mường Khương, Than Uyên, Bắc Hà), Lai Châu (Phong Thổ, Sìn Hồ, Tuần Giáo), Hà Giang (Đồng Văn, Quản Bạ, Yên Minh), Sơn La, Hòa Bình [4]. Nguyễn Văn Khiêm – Viện Dược liệu thực hiện đề tài “Bảo tồn cây thuốc cổ truyền và tri thức bản địa năm 2022”, loài Glechoma hederacea được tìm thấy tại thôn Tả Van Giáy 2, xã Tả Van, huyện SaPa, tỉnh Lào Cai.
Đặc điểm thực vật của loài Glechoma hederacea L. Rau má lông thuộc loại cây đặc biệt ưa ẩm, hơi chịu bóng, thường mọc thành đám gần bờ suối, ven rừng ẩm. Là cây thảo, sống lâu năm, cao 10–30 cm, mọc bò, bám rễ ở các mấu. Thân vuông, mọc đứng, có lông.
Lá mọc đối, có cuống dài, hình tim gần tròn, đầu tù, mép khía răng tù, hai mặt có lông, gân lá hình chân vịt [4], [7]. Hoa mọc riêng lẻ ở hai bên kẽ lá, ít khi 2–3 hoa, màu tím nhạt, lưỡng tính, không đều; lá bắc rất nhỏ, đài 5 răng không bằng nhau, hàn liền ở phía nửa dưới, có lông, tràng hợp có ống, chia 2 môi, nhị 4 đính ở mặt trong của tràng, chỉ nhị cong; bầu có 4 phần bằng nhau, mỗi phần chứa một noãn. Quả cấu tạo bởi 4 quả bế cứng, màu nâu đen, nằm trong đài tồn tại. Mùa ra hoa, quả khoảng từ tháng 3 đến tháng 5.
Cây có khả năng đẻ nhánh và bò lan nhanh trên mặt đất. Cây trồng được bằng các đoạn thân, cành [4]. Công dụng Rau má lông có vị đắng, hơi chua, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu, chỉ khái, hoạt huyết tán ứ. Trong y học cổ truyền, Rau má lông có thể dùng ở dạng cây tươi hoặc dược liệu khô dưới dạng nước sắc hoặc rượu ngâm với liều dùng 9–15 g/ngày đối với dược liệu khô hoặc 30–60 g/ngày đối với dược liệu tươi.
Rau má lông được dùng chữa viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật, sỏi đường tiết niệu, thủy thũng, ho, thổ huyết, lâm trọc, đới hạ, phong thấp lý thống, cam tích ở trẻ em, sưng tấy [4]. Bộ phận dùng làm dược liệu là bộ phận trên mặt đất (gồm thân, hoa, lá, quả) hoặc toàn cây (bao gồm cả rễ) [4], [7]. Một số bài thuốc dân gian - Bài thuốc chữa sỏi niệu quản: Rau má lông kết hợp với các vị thuốc khác (tỳ giải, kim sa, ho trượng, thạch vĩ, đông quỳ tử, cù mạch, xa tiền tử, hoạt thạch, cam thảo) trong bài thuốc “Lợi thấp bài thạch thang” dùng để chữa sỏi niệu quản. Cách sử dụng là đem sắc nước uống thang thuốc [4].
- Chữa sỏi đường mật, sỏi ống dẫn mật: Bài thuốc có chứa dược liệu Rau má lông làm thành phần chính và các vị thuốc (nhân trần, uất kim, chỉ xác, mộc hương, sinh đại hoàng) được sử dụng để chữa sỏi đường mật, sỏi ống dẫn mật có đường kính dưới 1cm và sỏi mật. Cách sử dụng là sắc nước uống [4]. Nghiên cứu về thành phần hóa học của loài Glechoma hederacea L.