Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Ngữ cố định 1. Khái niệm Ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa c ủa c ụm t ừ, c ấu tạo là cấu tạo của cụm từ) đã cố định hóa nên nó có tính ch ặt chẽ, s ẵn có, b ắt buộc, có tính xã hội như từ.72] Ví dụ: Ba hoa thiên tướng, Chuột sa chĩnh gạo, Đi guốc trong bụng, Hồn vía lên mây,… 1. Phân loại * Dựa vào tiêu chí kết cấu cú pháp, Nguyễn Như Ý cùng các tác gi ả đã phân loại các ngữ cố định tiếng Việt thành ngữ cố định có kết cấu cụm từ và ngữ cố định có kết cấu câu.
- Ngữ cố định có kết cấu là cụm từ được phân thành: Các ngữ cố định có các từ trung tâm: cười như nắc nẻ, mặt như chàm, chậm như rùa, ướt như chuột lột, yếu như sên, khóc như mưa, thẳng ruột ngựa, nói không trôi, dai như chão, dai như đỉa đói, dai như chó nhai gi ẻ rách, nói m ột tấc lên trời, nói thiên hô bát xát, nói thánh nói tướng, chạy long tóc gáy… Các ngữ cố định không có từ trung tâm: dây mơ dễ má, cày sâu cuốc bẫm, một nắng hai sương, dầu sôi lửa bỏng,… - Ngữ cố định có kết cấu là câu: Các ngữ cố định có kết cấu là câu đều không có từ trung tâm. Đó là các ngữ cố định có kết cấu là một câu đơn: mèo mù vớ cá rán, lươn cùng gặm đất sét, lươn ngắn chê chạch dài, mả táng hàm rồng, lời nói gió bay, mèo nh ỏ b ắt chu ột to, chuột chạy cùng sào, chuột sa chĩnh gạo, lợn lành thành l ợn què, ma cũ b ắt n ạt ma mới,… Mỗi loại lớn phân chia theo kết cấu cú pháp l ại có th ể chia nh ỏ thành các kiểu nhỏ hơn: 9 - Ngữ so sánh: khóc như mưa, lạy như tế sao, học như cuốc kêu,… - Ngữ không so sánh, ngữ đối: khôn nhà dại chợ, kết tóc xe tơ, kẻ đấm người xoa, kẻ ăn ốc người đổ vỏ, sáng nắng chiều mưa,. - Ngữ phi đối xứng: mua dây buộc mình, qua cầu rút ván, cá nằm trên thớt, chỉ tay năm ngón,… * Phân loại ngữ cố định theo chức năng ngữ cố định được chia thành hai loại: ngữ cố định miêu tả và quán ngữ Ngữ cố định miêu tả tương đương với các từ định danh, chúng vừa có tác dụng gọi tên sự vật, hoạt động, trạng thái, tính chất chưa có tên g ọi v ừa có tác dụng thể hiện các sắc thái khác nhau của một sự vật, một hoạt động, m ột tính chất, một trạng thái nếu chúng đã có tên gọi, đó là tr ường h ợp các ng ữ: mắt bồ câu, mắt lươn, mắt ốc nhồi, mắt lợn luộc… miêu tả các hình dáng khác nhau của mắt con người; nói thánh nói tướng, nói thiên hô bát xát, nói m ột t ấc lên tr ời… miêu tả các cách nói khác nhau; dai như đỉa, dai như chão, dai như chó nhai giẻ rách…thể hiện các tính chất dai của các sự vật, các hành động khác nhau,…; chạy long tóc gáy, chạy thục mạng, chạy như cờ ông công,. miêu tả các tình thế, các dạng chạy khác nhau.
Những ngữ cố định phân loại theo kết cấu cú pháp nói trên đều là các ngữ cố định miêu tả, ngữ cố định định danh hay còn gọi là các thành ngữ. Quán ngữ là một dạng cụm từ cố định được sử dụng lặp đi lặp lại trong các loại hình văn bản để liên kết câu, đoạn văn bản, hoặc nhằm mục đích đ ưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh một nội dung diễn đạt nào đó hay đơn thuần ch ỉ là những tiếng đệm, những yếu tố có tính đặc trưng cho một giọng điệu, một lối nói hay một phong cách diễn đạt nào đó trong văn bản. Quán ngữ phần l ớn không có từ trung tâm, không có kết cấu câu. Ở trong câu, các quán ng ữ không đảm nhiệm chức năng làm thành phần chính trong nòng cốt câu mà đ ảm nhi ệm các chức năng ngoài nòng cốt câu như chuyển tiếp, chêm, xen kẽ, tình thái – Các chức năng dụng học cơ bản.
Ví dụ: nói của đáng tội, thiết nghĩ, tóm lại là, đáng chú ý là, n ước m ẹ gì, ai cũng biết rằng, cũng thế mà thôi, rõ ràng là,… 10 Tóm lại, ngữ cố định là các cụm từ (ý nghĩa có tính chất là ý nghĩa c ủa cụm từ, cấu tạo là cấu tạo của cụm từ), nhưng đã cố định hóa nên cũng có tính chất chặt chẽ, bắt buộc, có tính xã hội như từ. Khái niệm thành ngữ Hiện nay đã có khá nhiều các nhà nghiên cứu đưa ra các đ ịnh nghĩa v ề thành ngữ. Các khái niệm ấy không loại trừ nhau mà bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do các tác giả đã căn c ứ vào các tiêu chí khác nhau của thành ngữ để định nghĩa.
Sau đây là một số định nghĩa về thành ngữ c ủa các nhà nghiên cứu. Từ điển giải thích thuật ngữ, ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý, NXB Giáo dục, 1996) định nghĩa thành ngữ như sau: “ Cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối về ngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác tổng số ý nghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động như một từ riêng biệt ở trong câu.”[37, tr271] Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến trong cuốn Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt cho rằng: “Thành ngữ là cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình t ượng ho ặc và gợi cảm.”[3, tr153-165] Trong Thành ngữ so sánh trong tiếng Việt của Trương Đông San định nghĩa: “Thành ngữ là những cụm từ cố định có ý nghĩa hình tượng tổng quát, không suy ra trực tiếp từ ý nghĩa của những đơn vị từ tạo ra nó. Thành ng ữ g ồm những đơn vị mang ý nghĩa hình tượng chung, trong đó tất c ả các đ ơn v ị t ừ đ ều mất nghĩa đen.”[27, tr7] Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt cho rằng: “Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, v ừa có tính g ợi c ảm.
Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo các s ắc thái bình giá, cảm xúc nhất định, hoặc là kính trọng, tán thành, hoặc chê bai khinh r ẻ, ho ặc ái ngại xót thương,…” 11 Nhìn chung các nhà nghiên cứu đã đưa ra những khái ni ệm v ề thành ng ữ với những đặc trưng nổi bật. Như vậy, thành ngữ có thể được hiểu như sau: Thành ngữ là cụm từ cố định có kết cấu chặt chẽ, bền vững, có ý nghĩa ổn đ ịnh, hoàn chỉnh (nghĩa vốn có của các yếu tố cấu thành b ị m ờ đi, nghĩa c ủa c ả t ổ h ợp có tính chất mới, có tính hình tượng, tính biểu trưng cao). Đặc trưng của thành ngữ a. Về mặt hình thức và cấu tạo Thành ngữ được cấu tạo bởi các từ.
Một thành ngữ phải được làm thành bởi ít nhất là hai từ. Ví dụ: da bọc xương; tham thì thâm; thay lòng đổi dạ; gậy ông đập lưng ông,… Nếu xét riêng về kết cấu ngữ pháp nội bộ thì một thành ngữ có th ể có c ấu tạo là một cụm từ (cụm từ hòa kết, cụm từ hợp kết) hoặc có c ấu t ạo là m ột câu. Nhưng dù có cấu tạo là một cụm từ hay một câu thì khi sử d ụng, thành ng ữ cũng luôn hoạt động ổn định dưới dạng nguyên khối, tương đương với t ừ, giống như một đơn vị từ vựng có sẵn trong ngôn ngữ. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp cụ thể, khi hoạt động tạo câu, c ấu trúc hình thức của thành ngữ bị phá vỡ hoặc bị thay đổi ít nhiều, tạo nên nh ững biến thể Chẳng hạn: “Cây ngay thì sẽ không sợ chết đứng” (nguyên dạng Cây ngay không sợ chết đứng) hay “Ăn cơm nhà mà lại đi vác tù và hàng tổng” (nguyên dạng Ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng ); “Sớm lửa tối đèn” (nguyên dạng Tối lửa tắt đèn); “Ăn cây táo rào cây sung” “Ăn cây táo rào cây dâu” (nguyên dạng Ăn cây nào rào cây ấy) Có trường hợp thành ngữ bị biến dạng về nghĩa.
Ví dụ: Ăn ốc nói mò ban đầu có nghĩa “nói năng phải phù hợp với hoàn cảnh” dần dần nghĩa ban đầu bị mờ đi biến đổi và cho đến nay hầu h ết m ọi người chỉ sử dụng thành ngữ trên với nghĩa: “nói năng hồ đồ, thiếu căn cứ”,… b.Về mặt nghĩa từ vựng 12 Khác với từ ngữ thông thường, nghĩa của thành ngữ biểu hiện theo một quy luật riêng. Có thể nêu lên những đặc trưng sau: - Tính nguyên khối và khái quát hóa. Mặc dù thành ngữ được tạo bởi các từ nhưng nghĩa của thành ngữ không phải là tổng cộng các nghĩa cụ thể của từng thành tố cấu tạo nên nó mà mỗi thành ngữ có một nghĩa hoàn ch ỉnh, nguyên khối, được khái quát hóa từ tất cả các thành tố cấu tạo. Ví dụ: thành ngữ chuột sa chĩnh gạo có nghĩa là rất may mắn được ở vào nơi vô cùng thuận lợi - Tính biểu trưng.
Nghĩa biểu trưng hay nghĩa bóng là con đường biểu đạt nghĩa quan trọng nhất của thành ngữ. Đó là việc sử dụng những hình ảnh cụ thể để biểu thị một cách tượng trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt đ ộng hay sự việc có tính phổ biến khái quát (đặc điểm này khiến cho thành ngữ gi ống v ới các ẩn dụ, hoán dụ). Ví dụ: để biểu thị việc hiểu rõ tâm địa người khác thành ng ữ dùng m ột hình ảnh cụ thể để biểu trưng là “đi guốc trong bụng” - Tính hình tượng (gợi tả). Do cách diễn đạt biểu trưng mà hầu hết các thành ngữ đều có tính hình tượng hay tính gợi tả.
Trong các từ ngữ thông thường, trừ các ẩn dụ, hoán dụ), nghĩa của từ ngữ phần lớn được nhận thức một cách trực tiếp, duy lí; còn ở thành ngữ, việc nhận thức nghĩa nói chung phải bằng con đường gián tiếp, thông qua các hình ảnh sinh động của các thành tố cấu tạo mà khái quát lên nghĩa của chúng. Ví dụ, để diễn đạt sự lúng túng, loay hoay chưa biết giải quyết thế nào cho ổn thỏa, thành ngữ dùng hình ảnh: “lúng túng như thợ vụng mất kim”.