Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 theo Quyết định 800/QĐ-TTg đặt trọng tâm vào nguyên tắc phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư. Tại xã Mỹ Lộc, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long – một trong 22 xã điểm được chọn chỉ đạo thực hiện – chương trình đã huy động tổng nguồn lực đạt 148.044,4 triệu đồng, trong đó nhân dân và các nhà tài trợ đóng góp 29.806,3 triệu đồng, chiếm 20,1% tổng kinh phí đầu tư. Sau hơn 3 năm triển khai, xã đã hoàn thành 19/19 tiêu chí và được công nhận đạt chuẩn Xã nông thôn mới vào tháng 8/2014, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 5,3% năm 2011 xuống còn 2,25% năm 2014, đồng thời nâng thu nhập bình quân đầu người lên 25,089 triệu đồng/năm.

Mặc dù đạt được những kết quả ấn tượng về mặt hạ tầng và đích đến danh hiệu, vấn đề nghiên cứu cốt lõi được đặt ra là sự tham gia của người dân vẫn mang tính chất thụ động, chủ yếu dừng lại ở việc đóng góp vật chất theo yêu cầu của chính quyền địa phương hơn là chủ động tham gia hoạch định chính sách, lập kế hoạch, ra quyết định và giám sát độc lập. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng tham gia của người dân trên 5 bước triển khai, xác định các rào cản nội tại từ cộng đồng lẫn rào cản thể chế từ phía chính quyền, từ đó đề xuất các giải pháp chính sách khả thi nhằm phát huy thực chất quyền làm chủ của người dân. Nghiên cứu được thực hiện trên địa bàn 8/8 ấp của xã Mỹ Lộc trong giai đoạn 2011-2014, mang ý nghĩa thiết thực trong việc cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng cho việc điều chỉnh cơ chế quản lý và phân bổ ngân sách nông thôn mới giai đoạn 2016-2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng Thang bậc tham gia của Dower công bố năm 1996 với 5 cấp độ tăng dần: Cung cấp thông tin (Information), Tham vấn (Consultation), Tham gia (Participation), Hợp tác (Partnership) và Trao quyền (Empowerment). Ở các cấp độ thấp, thông tin chỉ mang tính một chiều và người dân tham gia thụ động bằng việc đóng góp nguồn lực sẵn có theo quyết định của bên ngoài. Ở cấp độ cao như hợp tác và trao quyền, quyền lực được san sẻ thực chất, cộng đồng giữ vai trò phân tích vấn đề, tự đề xuất giải pháp và nắm quyền quyết định tổ chức thực thi.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp Khung phân tích rào cản tham gia của Dukeshire và Thurlow năm 2002 cùng các báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á năm 2003 để định hình mô hình đánh giá gồm hai nhóm yếu tố chính:

  • Rào cản từ phía cộng đồng: Bao gồm khả năng tiếp cận thông tin, hạn chế nguồn lực kinh tế - tài chính, và sự lệ thuộc vào cơ chế đại diện thiếu tính độc lập.
  • Rào cản từ phía chính quyền: Bao gồm thẩm quyền ra quyết định tập trung, thái độ e ngại hoặc chưa tin tưởng năng lực người dân, và sự thiếu vắng khung khổ pháp lý mang tính bắt buộc.

Khung lý thuyết này gắn liền với 3 khái niệm trọng tâm: vai trò chủ thể của người dân trong phát triển cộng đồng, nguồn vốn xã hội (Social Capital), và cơ chế dân chủ cơ sở theo Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp thực địa qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ từ tháng 9/2014 đến tháng 11/2014: Rà soát các văn bản pháp lý, báo cáo tổng kết của Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tỉnh Vĩnh Long, huyện Tam Bình và xã Mỹ Lộc; thực hiện phỏng vấn sơ bộ cán bộ quản lý và đại diện cộng đồng để xây dựng bảng hỏi chuẩn hóa.
  • Giai đoạn nghiên cứu chính thức từ tháng 12/2014 đến tháng 01/2015: Khảo sát thực địa thu thập dữ liệu định lượng và định tính.

Cỡ mẫu khảo sát bao phủ toàn bộ 8/8 ấp của xã Mỹ Lộc, đại diện cho quy mô 2.180 hộ dân với 8.519 nhân khẩu trên diện tích tự nhiên 2.006,11 ha. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên theo địa bàn và lĩnh vực nghề nghiệp (nông dân, công nhân, cán bộ công chức, hộ kinh doanh - dịch vụ) được áp dụng nhằm đảm bảo tính đại diện và phản ánh sự khác biệt về năng lực tiếp cận. Tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích định tính, so sánh đối chiếu và phân tích tình huống điển hình nhằm lượng hóa các mức độ tham gia, giải mã nguyên nhân sâu xa của các rào cản thể chế, từ đó đưa ra câu trả lời thuyết phục cho các câu hỏi nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại xã Mỹ Lộc phản ánh một bức tranh tham gia có sự phân hóa sâu sắc qua các chỉ số cụ thể:

  • Mức độ tiếp cận thông tin có độ phủ rộng nhưng thiếu chiều sâu: 100% người dân từng tiếp xúc với ít nhất một hình thức tuyên truyền, 93% biết đến bộ tiêu chí nông thôn mới, 88,3% nhận thông tin qua loa phát thanh và 73,3% qua tiếp xúc cử tri. Tuy nhiên, chỉ 32,79% số hộ thường xuyên được mời họp trực tiếp với chính quyền, trong đó 40% nhóm thường xuyên này là cán bộ đang làm việc trong hệ thống chính trị. Ngược lại, nông dân và công nhân chỉ thỉnh thoảng được mời (60,66%) hoặc chưa từng được mời họp (6,56%).
  • Sự tham gia đóng góp mang tính lệch pha: Tỷ lệ người dân tham gia hiến đất rất cao, đạt 79,17% với tổng diện tích đất tự nguyện hiến lên tới trên 8.000 m2 để xây dựng đường giao thông, trường học và nhà máy nước. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ đóng góp tiền mặt chỉ đạt 22,92% (trung bình 85.000 đồng/1.000 m2 đất canh tác để rải đá đường liên xóm), và tỷ lệ người dân trực tiếp thi công công trình chỉ dừng ở mức 33,33%.
  • Tham gia góp ý quy hoạch và đề án còn mờ nhạt: Có 89,8% người dân nhận thức mình là chủ thể, nhưng chỉ có 31% hộ thực tế được tham gia đóng góp ý kiến cho Đồ án quy hoạch nông thôn mới xã. Tỷ lệ tham gia góp ý xây dựng công trình đạt 39,58%, nhưng hoạt động này chủ yếu diễn ra ở khâu sau khi danh mục công trình và vốn đã được cấp trên phê duyệt.
  • Giám sát cộng đồng bị thu hẹp phạm vi: 52,5% hộ nhận thức mọi công dân đều có quyền tự giám sát, nhưng chỉ 35,42% người từng thực hiện giám sát thi công. Đáng chú ý, 40% người dân vẫn lầm tưởng rằng chỉ thành viên Ban Giám sát đầu tư cộng đồng hoặc người được chính quyền mời mới có quyền kiểm tra, giám sát.

Thảo luận kết quả

Khi mô hình hóa dữ liệu trên sơ đồ bậc thang tham gia, hiện trạng tại Mỹ Lộc cho thấy sự sụt giảm nghiêm trọng từ khâu tiếp nhận thông tin (100%) đến đóng góp ý kiến quy hoạch (31%), trực tiếp thi công (33,33%) và đóng góp tài chính (22,92%). Người dân hiện diện chủ yếu ở cấp độ tham gia thụ động thông qua việc hiến đất hoặc lao động công ích khi được huy động, chứ chưa đạt tới cấp độ hợp tác hay trao quyền.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này xuất phát từ cả hai phía:

  • Về phía cộng đồng: Mức thu nhập bình quân 25,089 triệu đồng/năm (khoảng 2,1 triệu đồng/người/tháng) tạo áp lực mưu sinh nặng nề. Cơ chế huy động hiến đất mở đường nội đồng không bồi hoàn tạo gánh nặng bất bình đẳng lên các hộ nghèo thuần nông như trường hợp bà Bùi Thị Lình (hiến 700 m2) hay ông Trần Văn Láng (hiến 300 m2 trong tổng số 2.000 m2 đất canh tác). Thêm vào đó, 44% hộ chưa từng được tập huấn kỹ năng và 33% người dân thừa nhận phải phụ thuộc hoàn toàn vào người hướng dẫn.
  • Về phía chính quyền: Thẩm quyền phê duyệt danh mục đầu tư và phân bổ vốn tập trung ở cấp huyện và tỉnh, khiến chính quyền xã và người dân không có quyền tự quyết định các công trình ưu tiên. Điển hình là việc xã đầu tư 3.957 triệu đồng từ ngân sách để xây dựng 2 cụm văn hóa - thể thao ấp nhưng hiệu quả sử dụng rất thấp, trong khi nguồn lực cho vay phát triển sản xuất lại thiếu hụt. Ngoài ra, áp lực hoàn thành tiến độ đạt chuẩn năm 2014 đã khiến chính quyền tự ý điều chỉnh quy hoạch cục bộ (hoãn nạo vét kênh Đìa Muống và bờ bao Hai Tòng sang giai đoạn 2016-2020) mà không thông qua tham vấn cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các phát hiện của Lưu Thị Tho và Phạm Bảo Dương năm 2013 tại miền núi phía Bắc và báo cáo của Mekong Economics năm 2005 về giao thông nông thôn, khẳng định nếu thiếu cơ chế trao quyền thực chất, các chương trình phát triển nông thôn sẽ dễ rơi vào căn bệnh hình thức và lãng phí nguồn lực đầu tư công.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực chứng, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược:

  • Đổi mới phương thức truyền thông và đào tạo kỹ năng thực chất: Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới huyện Tam Bình và UBND xã Mỹ Lộc cần chuyển trọng tâm tuyên truyền từ phổ biến khẩu hiệu sang hướng dẫn chuyên sâu từng tiêu chí cụ thể. Định kỳ hàng tháng phát sóng chuyên đề kỹ thuật trên hệ thống truyền thanh cơ sở; tổ chức cuộc thi Sáng kiến cộng đồng trong xây dựng nông thôn mới; phấn đấu nâng tỷ lệ người dân được tập huấn kỹ năng lập kế hoạch và giám sát từ 56% lên 85% trong giai đoạn 2016-2018.
  • Tái cấu trúc cơ chế huy động nguồn lực công bằng: HĐND và UBND tỉnh Vĩnh Long cần ban hành quy định chia sẻ gánh nặng tài chính giữa các nhóm thụ hưởng. Thành lập Quỹ hỗ trợ bồi hoàn mặt bằng cấp xã bằng việc huy động đóng góp từ các hộ kinh doanh ven trục đường lớn, chợ xã và các vùng hưởng lợi gián tiếp để san sẻ kinh phí cho những hộ nghèo phải hiến từ 300 m2 đến 700 m2 đất sản xuất, hoàn thành áp dụng trước năm 2017.
  • Chuyển dịch dòng vốn đầu tư sang nâng cao thu nhập và năng lực sản xuất: Ban Chỉ đạo tỉnh Vĩnh Long cần tái phân bổ cơ cấu vốn đầu tư công, dành tối thiểu 30% tổng nguồn vốn sự nghiệp hàng năm cho các dự án nhân rộng mô hình kinh tế nông nghiệp hiệu quả cao và chuyển đổi cơ cấu lao động. Phối hợp với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 44% lên trên 60% vào năm 2020, hướng tới mục tiêu đưa thu nhập bình quân đầu người vượt mức 29 triệu đồng/năm.
  • Hoàn thiện khung thể chế và trao quyền tự chủ cho cộng đồng: BCĐ Trung ương Chương trình MTQG và các Bộ ngành cần sửa đổi các quy định tại Quyết định 800/QĐ-TTg và Quyết định 695/QĐ-TTg. Bãi bỏ cơ chế khuyến khích chung chung, thay bằng quy định bắt buộc phải giao cho cộng đồng dân cư trực tiếp thi công và quản trị các công trình hạ tầng quy mô nhỏ có mức hỗ trợ dưới 3 tỷ đồng theo đúng tinh thần Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC, đồng thời chuẩn hóa quy trình tiếp nhận kiến nghị giám sát của Ban Giám sát đầu tư cộng đồng trước năm 2017.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý và cơ quan hoạch định chính sách công: Thành viên Ban Chỉ đạo xây dựng nông thôn mới từ cấp Trung ương, tỉnh đến cấp huyện có thể sử dụng các số liệu thực chứng từ xã Mỹ Lộc làm căn cứ điều chỉnh cơ chế phân bổ vốn đầu tư công, hoàn thiện quy trình tham vấn cộng đồng và tránh tình trạng đầu tư lãng phí vào các công trình hạ tầng hình thức.
  • Học viên cao học, giảng viên và nhà nghiên cứu học thuật: Các nhà nghiên cứu chuyên ngành Chính sách công, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Quản lý công có thể khai thác khung phân tích rào cản tham gia, bộ chỉ số đo lường thực địa và phương pháp luận khảo sát phân tầng kết hợp định tính - định lượng để làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tương đương.
  • Cán bộ Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cấp cơ sở: Đội ngũ cán bộ đoàn thể xã, ấp tại các địa phương đang xây dựng nông thôn mới có thể ứng dụng các bài học về thành lập, vận hành Ban Giám sát đầu tư cộng đồng, phương pháp tổ chức họp dân hai chiều và kỹ năng thu thập phản hồi của cử tri nhằm đại diện hiệu quả cho quyền lợi người dân.
  • Các tổ chức phi chính phủ và chuyên gia phát triển cộng đồng: Các tổ chức phát triển trong và ngoài nước có thể tham khảo trường hợp nghiên cứu điển hình tại Vĩnh Long để thiết kế các dự án can thiệp phát triển nông thôn dựa vào nội lực (Community-Driven Development), nâng cao năng lực cho nhóm cư dân yếu thế và phụ nữ nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người dân tham gia hiến đất rất cao đạt 79,17% nhưng tỷ lệ đóng góp tiền mặt chỉ đạt 22,92%?

Người dân sẵn sàng hiến trên 8.000 m2 đất vì đường giao thông và công trình thủy lợi mang lại lợi ích trực tiếp cho việc đi lại và canh tác. Tuy nhiên, thu nhập bình quân của người dân chỉ đạt 25,089 triệu đồng/năm (khoảng 2,1 triệu đồng/tháng), khiến đa số hộ nghèo và cận nghèo không có nguồn tiền mặt tích lũy để chi trả mức đóng góp bình quân 85.000 đồng/1.000 m2.

Cơ chế đại diện thông qua các đoàn thể bộc lộ những bất cập gì trong thực tế?

Khoảng 44% người dân chưa được tập huấn kỹ năng và 33% phải lệ thuộc vào người hướng dẫn. Tuy nhiên, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể cấp xã thường hoạt động như cánh tay nối dài của chính quyền, tập trung truyền đạt chủ trương một chiều thay vì đứng ra bảo vệ quyền lợi và phản ánh tâm tư của người dân lên Ban Chỉ đạo.

Thang bậc tham gia của Dower năm 1996 phản ánh điều gì về thực trạng tại xã Mỹ Lộc?

Mô hình 5 cấp độ của Dower chỉ ra rằng sự tham gia của người dân Mỹ Lộc mới chỉ dừng ở mức 1 (Tiếp nhận thông tin một chiều) và mức 3 (Tham gia thụ động bằng việc hiến đất, góp công). Các cấp độ cao hơn như mức 4 (Hợp tác phân tích vấn đề) và mức 5 (Trao quyền tự quyết) hoàn toàn vắng bóng.

Việc chi 3.957 triệu đồng xây dựng 2 nhà văn hóa ấp phản ánh vấn đề gì trong đầu tư công?

Công trình này cho thấy sự lệch pha nghiêm trọng giữa kế hoạch của chính quyền và nhu cầu bức thiết của người dân. Người dân không được tham gia quyết định danh mục ưu tiên, dẫn đến việc ngân sách đổ vào các công trình văn hóa ít hoạt động thay vì hỗ trợ vốn phát triển sản xuất hoặc cải thiện nước sạch.

Giải pháp nào để xóa bỏ tình trạng người dân đứng ngoài cuộc trong việc giám sát công trình?

Cần thể chế hóa quyền giám sát độc lập của người dân theo Pháp lệnh Dân chủ cơ sở, công khai 100% hồ sơ thiết kế và dự toán tại nhà văn hóa ấp, đồng thời quy định biên bản nghiệm thu công trình bắt buộc phải có chữ ký xác nhận của đại diện cộng đồng thụ hưởng trực tiếp mới được giải ngân vốn.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện quá trình huy động 148.044,4 triệu đồng xây dựng nông thôn mới tại xã Mỹ Lộc, làm rõ mâu thuẫn giữa việc hoàn thành 19/19 tiêu chí với mức độ tham gia thực chất còn thấp của người dân.
  • Nghiên cứu chỉ ra nghịch lý tham gia: tỷ lệ tiếp cận thông tin đạt 100% và hiến đất đạt 79,17%, nhưng tỷ lệ đóng góp ý kiến quy hoạch chỉ đạt 31% và trực tiếp thi công chỉ đạt 33,33%.
  • Hệ thống hóa 6 rào cản căn bản thuộc 2 nhóm: rào cản nội tại cộng đồng (thông tin một chiều, thu nhập thấp 25,089 triệu đồng/năm, lệ thuộc đại diện) và rào cản chính quyền (thẩm quyền tập trung, thiếu tin tưởng dân, thiếu cơ sở pháp lý bắt buộc).
  • Đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng của công trình là việc vận dụng thành công thang bậc Dower và mô hình Dukeshire - Thurlow vào bối cảnh thể chế nông thôn Việt Nam, cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế phân cấp đầu tư theo Thông tư liên tịch 26/2011/TTLT-BNNPTNT-BKHĐT-BTC.
  • Để chuẩn bị cho lộ trình phát triển bền vững giai đoạn 2016-2020, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn công trình để xây dựng khung chính sách lấy người dân làm trung tâm thực chất.