CHƯƠNG 1. Bối cảnh chính sách Ngành công nghiệp hóa dầu là khâu sau của ngành công nghiệp dầu khí và được coi là biểu trưng của quá trình công nghiệp hóa (Phạm Thái Hưng, 2003). Nguyên liệu đầu vào để phát triển ngành công nghiệp này đến từ tài nguyên thiên nhiên dầu mỏ khí đốt. Mặc dù có tài nguyên thiên nhiên khí được khai thác từ năm 1995, tuy nhiên, cho đến năm 2010, Khí thiên nhiên Việt Nam chủ yếu được dùng để sản xuất điện (chiếm 90%)(PVPro, 2010).
Tỷ trọng khí dùng làm nhiên liệu đốt cho sinh hoạt và công nghiệp chế biến chiếm 4%, và chỉ có 6% sử dụng để phát triển công nghiệp hóa dầu (chủ yếu là sản xuất đạm). Trong khi đó, tỷ lệ sử dụng khí thiên nhiên cho phát triển công nghiệp hóa dầu ở Thái Lan là 17% và ở Ả rập Saudi là 50% (Nexant, 2010). Giá trị của tài nguyên thiên nhiên khí bên cạnh sản xuất điện, còn sản xuất ra các sản phẩm hóa chất trung gian làm nguyên liệu đầu vào phát triển ngành công nghiệp hóa dầu có giá trị gia tăng cao từ khí thiên nhiên. Theo báo cáo về các ứng dụng khí thiên nhiên tại Thái Lan của Tập đoàn Dầu khí Thái Lan năm 2010cho thấy, khí thiên nhiên được sử dụng để sản xuất ra điện thì giá trị tăng thêm khoảng 2 lần, trong khi đó, nếu khí thiên nhiên được sử dụng để chế biến sâu hơn tạo ra các sản phẩm hóa dầu như hạt nhựa, sợi tổng hợp,… thì giá trị gia tăngmang lại sẽ tăng thêm từ 9 đến 22 lần.
n d n khí hi n nhi n ại Thái Lan năm 2010 Nguồn: Tập đoàn Dầu khí Thái Lan (PTT Group), 2010 -2- Việc đẩy mạnh chế biến sâu khí thành các sản phẩm hóa dầu đã trở thành chiến lược ưu tiên phát triển của Chính phủ và của ngành công nghiệp khí trong những năm gần đây thể hiện qua quyết định số 459/2011/QĐ-TTg về phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp khí Việt Nam giai đoạn đến năm 2015 định hướng đến năm 2025, trong đó nêu rõ “đẩy mạnh đầu tư chế biến sâu khí tự nhiên, đa dạng hóa sản phẩm nhằm nâng cao giá trị sử dụng của khí và hiệu quả của sản phẩm khí trong nền kinh tế”. Dự ánsản xuất Amoniac(NH3) từ khí thiên nhiên với công suất 450,000 tấn/năm đặt tại Khu công nghiệp (KCN) Phú Mỹ I, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu có tổng mức đầu tư (TMĐT) khoảng 536 triệu USD (tương đương 11. Đây là dự án thuộc nhóm A (với TMĐT trên 1.500 tỷ VNĐ) theo Nghị Định 12/2009/NĐ-CPđã được Chính phủ phê duyệt đầu tư theo công văn số 741/TTg-KTN ngày 31/5/2012 và giao cho một Doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cổ phần hóa với vốn nhà nước chi phối là Tổng công ty Phân bón và Hóa chất Dầu khí- Công ty Cổ phần (viết tắt là PVFCCo) để đứng ra thực hiện đầu tư. PVFCCođược biết với tên gọi phổ biến hơn là Đạm Phú Mỹ (ĐPM) làđơn vị thành viên của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam, PVN), hoạt động chính trong lĩnh vực sản xuất phân bón và hóa chất Dầu khí.
PVFCCo vốn là một doanh nghiệp 100% vốn nhà nước vào năm 2004. Vào ngày 31/8/2007, PVFCCo đã chính thức cổ phần hóa (mã cổ phiếu là DPM) với 60% vốn nhà nước và 40% vốn tư nhân. Theo Luật Doanh Nghiệp 2005, DNNN đã cổ phần hóa có hơn 50% vốn nhà nước thì vẫn được định nghĩa là DNNN. Kể từ khi nhận được phê duyệt đầu tư của Chính phủ theo công văn số 741/TTg-KTN ngày 31/5/2012 đến nay, PVFCCo hiện đang trong giai đoạn chuẩn bị dự án và thu xếp nguồn vốn tài trợ.
V n chính sách, m c i n hi n c c h i n hi n c Các dự án trong lĩnh vực công nghiệp hóa dầu có đặc thù là cần nguồn vốn đầu tư lớn, công nghệ phức tạp, quy mô công suất cao mới đạt hiệu quả về chi phí,do đó, để triển khai các dự án trong lĩnh vực công nghiệp hóa dầu thì các dự án này cần đạt được tính khả thi về mặt kinh tế và tài chính. Tính khả thi về mặt kinh tế của dự án cho thấy việc triển khai dự án thực sự mang lại lợi ích cho cả quốc gia. Tính khả thi về mặt tài chính tạo ra động cơ để thu hút các nguồn vốnngoài nhà nước tham gia dự án. Dự án Amoniac là một dự án có TMĐT lớn trong lĩnh vực công nghiệp hóa dầu (khoảng 536 triệu USD), nên có thể lợi ích từ dự án không đủ bù đắp chi phí bỏ ra trong cả vòng đời dự án.Do đó, mục tiêu nghiên -3- cứu của Luận văn sẽ tiến hành thẩm định lại dự án trên quan điểm kinh tế để tư vấn cho Chính phủ có nên tiếp tục triển khai hay loại bỏ Dự án, thẩm định trên quan điểm tài chính để làm rõ việccó thể thu hút nguồn vốnngoài nhà nước hay không vào Dự án Amoniac nhằm phát triển ngành công nghiệp hóa dầu và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa trong nước.
Ngoài ra, các hình thức đầu tư dự án phổ biến trong lĩnh vực công nghiệp bao gồm:DNNN (100% vốn nhà nước hoặc vốn nhà nước chi phối), doanh nghiệp tư nhân (DNTN) trong nước, và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Hiện nay, Chính phủ đang sử dụng công cụ DNNN cổ phần hóa với vốn nhà nước chi phối (Đạm Phú Mỹ) đứng ra để thực hiện đầu tư Dự án Amoniac. Do đó, Luận văn sẽ tiến hành phân tích liệu Chính phủ có nên sử dụng công cụ DNNN cổ phần hóa với vốn nhà nước chi phốinhư hiện nay để đầu tư vào dự án Amoniac hay nên khuyến khích sự tham gia của nguồn vốn ngoài nhà nước. Theo mục tiêu nghiên cứu như trên, Luận văn sẽ tiến hành trả lời ba câu hỏi nghiên cứu như sau: 1) Dự án nhà máy sản xuất Amoniac có khả thi về mặt kinh tế hay không? 2) Dự án nhà máy sản xuất Amoniac có khả thi về mặt tài chính hay không? 3) Chính phủ có nên sử dụng công cụ DNNN cổ phần hóa với vốn nhà nước chi phối như hiện nay để đầu tư vào Dự án Amoniac trong lĩnh vực công nghiệp hóa dầu hay nên khuyến khích sự tham gia của nguồn vốn ngoài nhà nước? -4- CHƯƠNG 2.
MÔ TẢ DỰ ÁN 2. Giới hiệ Dự án Amoniac Chủ đầu tư Dự án Amoniac Phú Mỹ là PVFCCo được biết với tên gọi phổ biến là Đạm Phú Mỹ (mã cổ phiếu DPM). Dự án Amoniac Phú Mỹ sản xuất ra hóa chất Amoniac (Tên hóa học là NH3 là hóa chất trung gian để sản xuất ra các loại hóa chất khác, ure, hạt nhựa, nylon,…) từ nguyên liệu khí thiên nhiên Bể Cửu Long và Nam Côn Sơn với công suất 450,000 tấn/năm đặt tạiKCN Phú Mỹ I, Huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. TMĐT của dự án Amoniac vào khoảng 536 triệu USD (tương đương 11.000 tỷ VNĐ), trong đó, 30% TMĐT sẽ sử dụng vốn chủ sở hữu của PVFCCo và 70% TMĐT còn lại sẽ đi vay từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước.
Cấu trúc dự án Amoniac được trình bày như sau: Hình 2. C rúc dự án Nguồn: Tác giả tự vẽ dựa trên báo cáo khả thi của dự án -5- Dự án Amoniac sử dụng nguồn nguyên liệu từ khí thiên nhiên Bể Cửu Long và Bể Nam Côn Sơn nên sẽ ký kết Hợp đồng cung cấp khí với PVGas; Hợp đồng mua hóa chất với các nhà cung cấp quốc tế BASF, Nalco; Hợp đồng lập báo cáo đầu tư và thiết kế cơ sở với VPI-SNC, Hợp đồng EPC dưới hình thức trọn gói chìa khóa trao tay thông qua đấu thầu cạnh tranh quốc tế; Hợp đồng cấp nước với Ban quản lý KCN Đông Xuyên và Phú Mỹ I. Sản phẩm Amoniac với công suất 450 ngàn tấn/năm sản xuất ra sẽ được tiêu thụ cho các nhà máy ở khu vực Miền Nam và khu vực Miền Bắc (chủ yếu là các DNNN thuộc Vinachem và TKV), phần Amoniac dư thừa sẽ được xuất khẩu sang thị trường Hàn Quốc,nơi thiếu hụt nhiều Amoniac nhất trong khu vực Châu Á. Dự án Amoniac được đặt tại khu đất 13,6 ha nằm trong mặt bằng nhà máy Đạm Phú Mỹ, KCN Phú Mỹ I, huyện Tân Thành, Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Khu đất này được Đạm Phú Mỹ dự phòng cho việc phát triển lĩnh vực hóa chất vào thời điểm thích hợp trong tương lai. Mặt bằng hiện tại của địa điểm hiện đã được giải phóng, san lấp và sẵn sàng cho quá trình xây dựng Nhà máy Amoniac. Địa điểm xây dựng Dự án là Huyện Tân Thành thuộc về địa bàn khó khăn của Tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên sẽ nhận được được các ưu đãi về miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và tiền thuê đất (theo NĐ 108/2006/NĐ-CP). Công nghệ sản xuất hóa chất Amoniac xem tại Phụ lục 1 đính kèm.
Vị rí của dự án NH3 -6- 2. C n cầ iá khí thiên nhiên c n c p cho Dự án Amoniac 2. C n cầ khí hi n nhi n Tổng nhu cầu khí thiên nhiên cho Dự án Amoniac với công suất 450,000 ngàn tấn/năm là 0,42 tỷ m3 khí/năm. Lượng khí này sẽ được cung cấp từ các mỏ khí thuộc bể Cửu Long và bể Nam Côn Sơn thông qua các đường ống dẫn khí Bạch Hổ-Dinh Cố, Nam Côn Sơn 1 và Nam Côn Sơn 2.
Bên cạnh các mỏ khí hiện hữu, nguồn cung khí trong tương lai sẽ được bổ sung từ việc thu gom và khai thác các mỏ khí nhỏ, mỏ khí cận biên thuộc hai bể trầm tích Cửu Long và Nam Côn Sơn như: Sư Tử Trắng, Thăng Long – Đông Đô, Jade, Emerald, Hải Âu, Thiên Nga, Rồng Vĩ Đại, Kim Cương Tây, Hoàng Hạc, Alpha, Bẫy phía Bắc và Bẫy phía Nam. Nếu tính đến tất cả nguồn cung tiềm năng này, nguồn cung khí cho khu vực Đông Nam Bộ sẽ luôn được duy trì cao hơn 6,6 tỷ m3/năm trong giai đoạn 2011 đến 2039 và đạt đỉnh gần 12 tỷ m3/năm trong giai đoạn 2019 đến 2024. Trong khi đó,tổng nhu cầu khí thiên nhiên theo các hợp đồng cung cấp khí cho các nhà máy điện và đạm hiện hữu trong khu vực này (bao gồm Phú Mỹ 2.2, Phú Mỹ 3, NMĐ thuộc EVN bao gồm Phú Mỹ 1- Phú Mỹ 2.1- Phú Mỹ 4, Nhơn Trạch 1, Nhơn Trạch 2, NM Đạm Phú Mỹ) luôn duy trì ở mức 5,28 tỷ m3 khí/năm. Do đó, lượng khí thiên nhiên, sau khi đã cung cấp cho các nhà máy điện và đạm hiện hữu này, vẫn còn dư thừa hơn 0,42 tỷ m3 khí/năm để cung cấp cho Dự án Amoniac trong suốt giai đoạn từ 2011 đến 2039.