Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Cục Y tế dự phòng và Môi trường thuộc Bộ Y tế, khoảng 80% các trường hợp bệnh tật tại Việt Nam xuất phát trực tiếp từ việc sử dụng nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh. Báo cáo đánh giá tổng quan ngành nước quốc gia cũng ghi nhận có tới 21 triệu người dân khu vực nông thôn và 8,5 triệu người dân đô thị chưa được tiếp cận nguồn nước sạch đạt chuẩn. Mặc dù Dự án Cấp nước sạch và Vệ sinh nông thôn Đồng bằng sông Hồng do Ngân hàng Thế giới tài trợ đã xây dựng và đưa vào vận hành nhà máy cấp nước sạch từ tháng 5/2012, tình trạng người dân chưa hình thành thói quen sử dụng nguồn nước máy này vẫn diễn ra phổ biến.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải mã rào cản tâm lý xã hội và xác định thực trạng thái độ của cộng đồng đối với nguồn nước hợp vệ sinh. Mục tiêu cụ thể của đề tài nhằm làm rõ ba thành tố tâm lý bao gồm nhận thức, xúc cảm và hành vi thực tế của người dân đối với nước sạch, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy hành vi sử dụng nước an toàn. Phạm vi khảo sát được thực hiện trên địa bàn 4 xã trọng điểm gồm Đại Thắng, Đại An, Liên Bảo và Hợp Hưng thuộc huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định trong giai đoạn từ năm 2010 đến 2012.

Ý nghĩa của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực chứng giúp chính quyền địa phương và các cơ quan điều hành nâng cao tỷ lệ hộ dân đấu nối nước sạch từ mức thăm dò lên mức tiêu dùng thiết yếu, góp phần hoàn thành tiêu chí nước sạch trong Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng cấu trúc thái độ ba thành tố được khởi xướng bởi M. Smith năm 1942 cùng các công trình phát triển của Fishbein và Ajzen năm 1975. Khung lý thuyết này khẳng định thái độ được hợp thành từ nhận thức (sự hiểu biết, quan điểm), xúc cảm (tình cảm, sự hứng thú hoặc hài lòng) và hành vi (xu hướng hành động và thực hành thực tế). Để lý giải sự mâu thuẫn giữa suy nghĩ và hành động, tác giả kết hợp Thuyết bất đồng nhận thức của Leon Festinger năm 1957, Thuyết tự tri giác của Daryl Bem năm 1967 và Thuyết thái độ nhân cách của V. Miaxisev.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: khái niệm thái độ tâm lý học, hành vi sức khỏe cộng đồng và tiêu chuẩn nước sạch theo quy định tại Quyết định số 09/2005/QĐ-BYT và Quyết định số 1329/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Thang đo thái độ được lượng hóa thông qua hệ thống đánh giá 3 bậc với khoảng điểm trung bình từ 1,00 đến 1,66 (mức độ thấp/không đồng tình), từ 1,66 đến 2,33 (mức độ trung bình/đồng ý một phần) và từ 2,33 đến 3,00 (mức độ cao/rất đồng ý). Mô hình phân tích tập trung đánh giá 4 chức năng cốt lõi của thái độ gồm: chức năng thích nghi, chức năng nhận thức, chức năng biểu hiện giá trị và chức năng phòng vệ cái tôi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu cụm ngẫu nhiên tại 4 xã đại diện cho các phân kỳ triển khai dự án cấp nước tại huyện Vụ Bản (địa bàn có quy mô dân số 133.000 người và 73,5 nghìn lao động vào năm 2010). Tổng cỡ mẫu điều tra định lượng đạt 250 hộ gia đình. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn thử nghiệm trên 25 khách thể tại xã Đại Thắng để chuẩn hóa công cụ đo lường trước khi thu thập dữ liệu diện rộng. Bên cạnh đó, nguồn dữ liệu định tính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu 20 cán bộ quản lý địa phương và đàm thoại chuyên sâu với 3 chuyên gia đầu ngành thuộc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Quốc gia.

Lý do lựa chọn phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS là nhằm chuyển hóa các cấu trúc tâm lý trừu tượng thành các chỉ số định lượng cụ thể qua điểm trung bình, độ lệch chuẩn và tỷ lệ phần trăm tương quan. Timeline nghiên cứu được thực hiện nghiêm ngặt qua từng giai đoạn: tổng quan tài liệu lý luận từ tháng 4/2010 đến tháng 11/2011; khảo sát thực địa và phỏng vấn sâu từ tháng 4/2012 đến tháng 7/2012; nhập liệu và phân tích SPSS hoàn thiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/2012 đến tháng 11/2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về nhận thức nguồn nước và lượng nước sinh lý: Khoảng 63,6% người dân nhận thức chính xác lượng nước cần bổ sung cho cơ thể mỗi ngày từ 1,5 đến 2,5 lít, trong khi 36,4% còn lại nhận thức sai lệch hoặc không rõ (28,8% cho rằng dưới 1,5 lít và 7,6% cho rằng cần trên 3 lít). Nhận thức về vai trò của nước ghi nhận điểm trung bình cao nhất ở nhận định nước là thực phẩm thiết yếu đạt 2,70/3,00 điểm và nước là điều kiện duy trì sự sống đạt 2,66/3,00 điểm.

Thứ hai, về nhận diện nguồn nước tự nhiên: Tỷ lệ người dân nhận biết nước mưa đạt mức 98,4% và nước ngầm đạt 79,6%. Đáng chú ý, khi đề cập đến khái niệm nước mặt mang tính học thuật thì tỷ lệ lựa chọn là 0%, nhưng khi diễn đạt bằng các thuật ngữ quen thuộc như ao, hồ, sông, suối thì tỷ lệ ghi nhận đạt 12,8%. Khoảng 30,4% người dân vẫn giữ quan niệm nước là tài nguyên tự nhiên sẵn có, vô tận.

Thứ ba, về tiêu chuẩn nước sạch và nguyên nhân ô nhiễm: Người dân có xu hướng tin tưởng cao vào cơ quan chức năng khi nhận định nước sạch phải được cơ quan có thẩm quyền kiểm định đạt điểm trung bình 2,62/3,00. Về nguyên nhân ô nhiễm, tập quán sử dụng nhà vệ sinh trên kênh rạch bị đánh giá là tác nhân nghiêm trọng nhất với điểm trung bình 2,57/3,00; tiếp theo là hành vi tắm giặt gần nguồn nước đạt 2,32/3,00 điểm và xả rác bừa bãi đạt 2,26/3,00 điểm.

Thứ tư, về hiểu biết tác hại bệnh tật: Trong 226 mẫu phản hồi hợp lệ câu hỏi mở về tác hại của nước bẩn, 52,7% chỉ hiểu chung chung là gây hại sức khỏe, 18,1% kể tên được 1 đến 2 bệnh cụ thể, hoàn toàn 0% người dân kể được từ 3 bệnh trở lên, và 29,2% thừa nhận không hề biết tác hại cụ thể. Sự thiếu hụt kiến thức chuyên sâu này dẫn đến thực tế là dù 97,5% hộ dân có nhà ở kiên cố và bán kiên cố, mức chi tiêu cho nước sạch dự án chỉ dao động hạn chế trong khoảng 20.000 đến 30.000 đồng/hộ/tháng.

Thảo luận kết quả

Kết quả khảo sát phản ánh rõ nét nghịch lý khoảng cách giữa nhận thức và hành vi, tương đồng với thực nghiệm tâm lý học xã hội kinh điển về nghịch lý La Piere và hiện tượng bất đồng nhận thức của Leon Festinger. Người dân tuy thừa nhận giá trị thiết yếu của nước sạch nhưng hành động thực tế lại bị níu giữ bởi thói quen sử dụng kết hợp nhiều nguồn nước truyền thống (nước mưa hứng bể, nước giếng khoan, nước ao) vốn được xem là hoàn toàn miễn phí.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hai dạng biểu đồ khoa học:

  • Biểu đồ thanh ngang phân cấp (Horizontal Bar Chart) so sánh điểm trung bình nhận thức giữa các tiêu chí đánh giá nước sạch, làm nổi bật khoảng cách giữa nhận thức cảm tính qua độ trong không màu (2,49 điểm) với nhận thức khoa học về độc chất và vi khuẩn (2,28 điểm).
  • Biểu đồ tròn phân bố tỷ lệ (Pie Chart) thể hiện cấu trúc 4 nhóm hiểu biết về tác hại y tế, khắc họa trực quan thực trạng chỉ có 18,1% người dân nắm được bệnh lý cụ thể trong khi nhóm mù mờ thông tin chiếm tới 81,9% (bao gồm 52,7% hiểu mơ hồ và 29,2% không biết).

So sánh với các đánh giá của ngành y tế dự phòng, nguyên nhân sâu xa của việc chậm chuyển biến hành vi bắt nguồn từ chỗ các tác nhân vi sinh và kim loại nặng trong nước ngầm không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Điều này củng cố luận điểm của B. Lomov về tính bảo thủ của kinh nghiệm chủ quan trong cấu trúc nhân cách người nông dân vùng châu thổ sông Hồng.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đổi mới phương thức truyền thông thay đổi hành vi: Giao Công ty Cổ phần Phát triển hạ tầng Thăng Long phối hợp cùng Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên các xã triển khai các buổi sinh hoạt chuyên đề trực quan. Sử dụng dụng cụ thử nghiệm nhanh chất lượng nước giếng khoan ngay tại thực địa nhằm nâng tỷ lệ người dân nhận biết chính xác các bệnh truyền nhiễm liên quan đến nguồn nước từ 18,1% lên tối thiểu 75% trong vòng 6 tháng đầu thực hiện.

  • Ban hành cơ chế hỗ trợ chi phí và biểu giá linh hoạt: Ủy ban nhân dân huyện Vụ Bản cùng Ban Quản lý Dự án cấp nước tỉnh Nam Định cần thiết lập chính sách trợ giá 100% phí lắp đặt đồng hồ cho các hộ nghèo và cận nghèo. Thiết kế bậc thang giá nước sinh hoạt ưu đãi cho định mức tiêu dùng ban đầu nhằm thúc đẩy mức chi tiêu nước sạch bình quân tăng từ 20.000 - 30.000 đồng/tháng lên mức 50.000 - 70.000 đồng/tháng/hộ trong thời gian 12 tháng.

  • Minh bạch hóa thông số kiểm định định kỳ: Trạm Y tế xã phối hợp cùng đơn vị vận hành nhà máy nước tiến hành lấy mẫu kiểm định độc lập và niêm yết công khai bảng kết quả thử nghiệm vi sinh, lý hóa tại nhà văn hóa của 18 xã, thị trấn. Mục tiêu gia tăng chỉ số tin cậy và mức độ hài lòng của khách thể từ mức điểm 2,62 lên trên 2,85/3,00 điểm trong thời hạn 9 tháng.

  • Xóa bỏ triệt để các nguồn phát thải gây ô nhiễm cục bộ: Chính quyền cấp xã và ban quản lý thôn xóm tại Đại Thắng, Đại An, Liên Bảo, Hợp Hưng cần đưa tiêu chí cấm nhà vệ sinh trên ao hồ và xử lý chất thải chăn nuôi vào quy ước, hương ước thôn làng; xử lý dứt điểm 100% các điểm xả thải không đúng quy định trong vòng 18 tháng để bảo vệ túi nước ngầm nông thôn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Ban Quản lý các dự án cấp nước và vệ sinh môi trường: Cán bộ thuộc các dự án ODA, World Bank và Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn có thể khai thác bộ dữ liệu tâm lý học thực chứng để thiết kế hợp phần truyền thông thay đổi hành vi vệ sinh (HSBC), tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng cấp nước tại 12 tỉnh vùng châu thổ sông Hồng.

  • Lãnh đạo và cán bộ chuyên trách cấp huyện, xã: Cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương đang trong lộ trình xây dựng nông thôn mới có thể áp dụng trực tiếp các giải pháp dân vận và chính sách giá nước để nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch tập trung đạt tiêu chuẩn quốc gia.

  • Giảng viên, học viên và nghiên cứu sinh ngành Tâm lý học - Xã hội học: Tài liệu cung cấp case study hoàn chỉnh về việc vận dụng lý thuyết thái độ ba thành tố của M. Smith kết hợp xử lý thang đo định lượng SPSS trong một đề tài nghiên cứu hành vi sức khỏe cộng đồng mang tính ứng dụng cao.

  • Chuyên gia truyền thông y tế công cộng và các tổ chức phi chính phủ: Các tổ chức hoạt động vì sức khỏe cộng đồng có thể sử dụng các chỉ số thống kê về rào cản nhận thức để xây dựng tài liệu tập huấn và chiến dịch vận động thay đổi thói quen dùng nước cho cư dân nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao người dân nông thôn vẫn giữ thói quen dùng nước mưa và giếng khoan dù đã có nước máy? Hiện tượng này bắt nguồn từ thói quen sinh hoạt lâu đời và tâm lý xem nguồn nước tự nhiên là miễn phí. Số liệu nghiên cứu chỉ ra 98,4% người dân quen thuộc với nước mưa và 79,6% quen dùng nước ngầm, trong khi chi phí 20.000 đến 30.000 đồng/tháng cho nước máy vẫn tạo ra rào cản tâm lý cân nhắc chi tiêu.

Căn cứ khoa học nào để đánh giá một nguồn nước đạt chuẩn vệ sinh theo quy định? Nước sạch phải đảm bảo độ trong, không màu, không mùi vị lạ, không chứa mầm bệnh và độc chất gây hại theo chuẩn kỹ thuật quốc gia ban hành tại Quyết định 09/2005/QĐ-BYT và Quyết định 1329/QĐ-BYT của Bộ Y tế, được kiểm định độc lập bởi các cơ quan y tế có thẩm quyền.

Yếu tố nào làm ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt được người dân nhận diện rõ nhất? Người dân nhận diện hành vi sử dụng nhà vệ sinh trên sông, kênh, rạch là nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất với điểm trung bình 2,57/3,00. Trái lại, các nguy cơ từ hóa chất nông nghiệp hay chất thải chăn nuôi chỉ đạt điểm nhận thức trung bình từ 2,01 đến 2,03.

Luận văn đã sử dụng quy mô mẫu khảo sát và công cụ phân tích nào? Đề tài tiến hành khảo sát bảng hỏi định lượng trên 250 người dân thuộc 4 xã của huyện Vụ Bản, phỏng vấn sâu 20 cán bộ và đàm thoại với 3 chuyên gia đầu ngành. Dữ liệu được xử lý toàn diện trên phần mềm SPSS để tính toán điểm trung bình và các tương quan thống kê.

Nhận thức của người dân về các bệnh tật do nguồn nước ô nhiễm gây ra còn hạn chế ở điểm nào? Có tới 52,7% người tham gia khảo sát chỉ biết nước bẩn gây hại chung chung và 29,2% hoàn toàn không biết tác hại. Chỉ có 18,1% người dân nêu được từ 1 đến 2 bệnh lý cụ thể, và không có bất kỳ ai (0%) kể tên được từ 3 bệnh trở lên.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa và vận dụng thành công mô hình thái độ 3 thành tố (nhận thức, xúc cảm, hành vi) của tâm lý học xã hội vào việc giải quyết bài toán cấp thiết về nước sạch nông thôn.
  • Kết quả định lượng tại 4 xã thuộc huyện Vụ Bản chỉ ra rằng mặc dù 63,6% người dân nhận thức đúng nhu cầu nước sinh lý, vẫn còn 29,2% hoàn toàn không biết tác hại bệnh tật và 52,7% chỉ hiểu mơ hồ.
  • Rào cản cốt lõi khiến tỷ lệ sử dụng nước máy chưa cao nằm ở sự bất đồng nhận thức và sức ỳ của tập quán dùng nước tự nhiên miễn phí, khiến mức chi trả cho nước sạch mới chỉ dừng ở mức 20.000 đến 30.000 đồng/tháng.
  • Lộ trình 4 nhóm giải pháp can thiệp về truyền thông trực quan, trợ giá đấu nối và công khai kiểm định chất lượng cần được chính quyền địa phương triển khai đồng bộ trong khung thời gian từ 6 đến 18 tháng.
  • Chính quyền các cấp, ban quản lý dự án cấp nước và cộng đồng dân cư cần phối hợp hành động ngay hôm nay để đưa nước sạch trở thành nhu cầu thiết yếu hàng ngày, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe cộng đồng.