CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trên cơ sở nghiên cứu các công trình đã có, tác giả tổng hợp các công trình quan trọng theo một số tiêu điểm chính, gồm: 1. Về doanh nghiệp nhà nước - OECD (2015), State-Owned Enterprises in the Development Process, OECD Publishing. Nghiên cứu này trình bày về các vấn đề liên quan đến DNNN trong quá trình phát triển chung toàn cầu.
Nghiên cứu bao gồm ba phần chính: Phần một trình bày về những quan điểm về DNNN và sự phát triển của DNNN, bao gồm những khái niệm lý thuyết liên quan đến DNNN cũng như vai trò của các doanh nghiệp này trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Từ đó, nghiên cứu cho rằng cần có chính sách phát triển riêng dành cho các đối tượng doanh nghiệp này để thúc đẩy những tiềm năng cũng như hạn chế những điểm yếu còn tồn tại; Phần hai phân tích và đưa ra những kinh nghiệm học hỏi được từ nhiều nước trên thế giới trong việc biến các DNNN trở thành tác nhân cho sự phát triển chung của đất nước. Cụ thể, tài liệu nghiên cứu các trường hợp sau: Singapore và các nền kinh tế ASEAN khác, Brazil, Ấn Độ, Trung Quốc, Nam Phi. Đối với mỗi trường hợp nghiên cứu, tài liệu giới thiệu chung về quốc gia về lịch sử, kinh tế, chiến lược phát triển,… Sau đó, tài liệu chỉ ra những chính sách đối với khối DNNN và kết quả thu được khi áp dụng các chính sách đó vào thực tế để rút ra những mặt thành công và hạn chế của từng chính sách/ chương trình hành động quốc gia; Phần ba của nghiên cứu này đề cập đến các vấn đề liên quan đến DNNN trên thị trường quốc tế.
Phần này bao gồm chương 7 và 8, trong đó chương 7 đưa ra các vấn đề đầu tư quốc tế của các DNNN (xu hướng, khung chính sách quốc tế). Chương 8 trình bày về các DNNN trong thương mại quốc tế, nhấn mạnh đến sự hiện diện ngày càng tăng của các DNNN trong nền kinh tế toàn cầu, nguyên nhân của thực trạng này cũng như đề cấp đến các quy tắc quốc tế hiện có và mới nổi để các DNNN ở mỗi quốc gia nắm bắt và tham khảo để xây dựng chiến lược phát triển cho riêng mình. (2014), “Economics of State-Owned Enterprises”. Forthcoming, International Journal of Public Administration.
Tài liệu này nhằm mục đích trả lời hai câu hỏi lớn: (i) làm thế nào và trong những trường hợp nào chính phủ nên sử dụng các DNNN; và (ii) những tác động của DNNN đối với các công ty tư nhân, thị trường và phúc lợi xã hội là gì? Những câu hỏi này có tầm quan trọng cơ bản đối với các nhà hoạch định chính sách, giúp họ quyết định thời điểm và cách sử dụng các DNNN. Bài viết này tổng hợp các kết quả nghiên 14 cứu tổng quan về lý thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hai câu hỏi trên. Dựa trên những phát hiện của các nghiên cứu trước đây, bài viết này phát triển một khung năm bước mới và thực tế, giúp các nhà hoạch định chính sách và cố vấn kinh tế sử dụng để đánh giá mức độ mong muốn của việc duy trì các DNNN hiện có và/hoặc tạo ra các DNNN mới. Khung này dựa trên mục tiêu tối đa hóa phúc lợi xã hội.
Nó liên quan đến việc xác định mức độ thành công hay thất bại của thị trường, từ đó thiết lập hình thức can thiệp phù hợp nhất và đánh giá xem lợi ích của can thiệp có cao hơn chi phí và có gây ra bất cứ hậu quả nào hay không. Do đó, nghiên cứu này phục vụ hai mục đích: (i) cùng đưa ra lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm có liên quan để hiểu về kinh tế của các DNNN; và (ii) kết nối sự phân chia giữa nghiên cứu học thuật và thực tiễn bằng cách chuyển các kết quả của hoạt động nghiên cứu học thuật thành một khung thực tế để đánh giá tính hiệu suất hoạt động của các DNNN. Về cạnh tranh trung lập Các nghiên cứu tổng hợp của OECD có liên quan đến thực tiễn ban hành và thực thi chính sách về đảm bảo nguyên tắc CTTL tại các nước thành viên tiêu biểu như: State-owned enterprises and the principle of competitive neutrality (2009); National Practices concerning competitive neutrality (2012); Compendium of OECD recommendations, guidelines and best practices bearing on competitive neutrality (2012); Competitive Neutrality maintaining a level playing field between public and private business (2012); Roundtable on competition neutrality (2015). Những nghiên cứu này đề cập đến 8 lĩnh vực ưu tiên cần được giải quyết bởi các nhà chức trách đã cam kết với nguyên tắc CTTL (tức là một sân chơi bình đẳng) giữa các nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ thuộc nhà nước và tư nhân.
Mục đích của các nghiên cứu này là cung cấp một bức tranh đầy đủ về các công cụ OECD hiện có và các hướng dẫn sử dụng các công cụ có liên quan, có thể có ý nghĩa hay tác động nhất định nào đó đến CTTL. Đối với mỗi lĩnh vực ưu tiên, nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị của OECD nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến CTTL. - Capobianco, Christiansen (2011), “Competitive Neutrality and State-Owned Enterprises: Challenges and Policy Options”, OECD Corporate Governance Working Papers No. Tài liệu này lập luận rằng tất cả các DNNN đều có cơ hội và được khuyến khích để hoạt động theo hướng chống cạnh tranh, hay nói cách khác là CTTL.
Tuy nhiên, ở các quốc gia nơi quá trình tự do hóa thị trường vẫn chưa diễn ra một cách đầy đủ, việc các DNNN gia nhập thị trường có thể phá v㐠 tính CTTL. Để giải quyết vấn đề này, một số quốc gia OECD cũng như Liên minh châu Âu đã thiết lập các khuôn khổ CTTL cụ thể. Các khuôn khổ này vượt ra ngoài việc giải quyết các hành vi chống cạnh tranh của các DNNN, để thiết lập các cơ chế xác định và loại bỏ các lợi thế cạnh 15 tranh có thể tồn tại, bao gồm cả về thuế, chi phí tài chính và tính trung lập theo quy định. Kết quả là, các khuôn khổ này nói chung đã thành công trong việc đẩy lùi các khoản trợ cấp của nhà nước và thu được hiệu quả kinh tế đáng kể cho đến nay.
Tài liệu này đưa ra kết luận rằng việc thực hiện đầy đủ Hướng dẫn của OECD về quản trị doanh nghiệp của các DNNN đạt được bước tiến dài trong việc đảm bảo tính CTTL. Các hoạt động kinh doanh của các phân khúc hiện chưa hợp nhất của khu vực nhà nước sẽ trở nên cạnh tranh và có trách nhiệm hơn nhiều nếu chúng được thực hiện theo khuôn khổ được thiết lập. Đối với các DNNN được hợp nhất, khuôn khổ này cũng bao gồm khuyến nghị về thiết lập và lựa chọn danh mục đầu tư, các hướng dẫn để chính phủ các nước đạt được tính CTTL ở mức cao nhất tại đất nước của mình., Healey Deborah (2013), “When the State Harms Competition ― The Role for Competition Law”, NYU Law and Economics Research Paper No. 13-11; UNSW Law Research Paper No.
Bài viết này trình bày về vai trò và ảnh hưởng của luật chống độc quyền, tiền đề cho việc áp dụng các biện pháp chống cạnh tranh tại các quốc gia, bao gồm các hành vi chống cạnh tranh ở cấp độ nhà nước và địa phương. Để thực hiện được đề tài này, nhóm tác giả đã khảo sát 35 lĩnh vực hoạt động kinh tế và nhận thấy rằng luật chống độc quyền/ cạnh tranh của một số lĩnh vực đã chỉ ra những bất cập và yếu kém trong một số hành vi và biện pháp mà nhà nước đã tiến hành. Trong đề tài này, các tác giả mô tả và tóm tắt các nghiên cứu về vấn đề này của một số học giả khác trên toàn thế giới và kết hợp các kết quả nghiên cứu với phân tích khái niệm để từ đó đề xuất các quy tắc và nguyên tắc có liên quan có thể áp dụng nhằm từng bước xây dựng luật cạnh tranh kiểu mẫu trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Kết quả nghiên cứu của đề tài chỉ ra rằng mỗi quốc gia nghiên cứu đều có nhưng mô hình, tiêu chuẩn phù hợp đối với từng lĩnh vực kinh tế.
Nhiều luật cạnh tranh kiểm soát một số hành vi và biện pháp phản cạnh tranh của nhà nước và địa phương nhằm ngăn chặn các cấp chính quyền này ảnh hưởng tiêu cực hoặc phá bỏ các hệ thống cạnh tranh cho mục đích đơn phương hoặc bảo hộ. Nghiên cứu cũng xác nhận sự thay đổi của nền kinh tế thế giới đang chuyển sang áp dụng chính sách cạnh tranh mạnh mẽ và lành mạnh nhằm giảm bớt những hạn chế độc quyền mà chính phủ dành cho các DNNN, nhất là ở các quốc gia đang phát triển và đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Về áp dụng cạnh tranh trung lập và thách thức đặt ra đối với doanh nghiệp nhà nước - Stefano Carlo de (2018), “Competitive Neutrality of SOEs in International Investment Law”, Society of International Economic Law (SIEL), Sixth Biennial Global Conference. 16 Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra xem liệu nguyên tắc CTTL của các DNNN có thể được các tòa trọng tài quốc tế áp dụng trong giải quyết tranh chấp giữa các nhà đầu tư được hay không.
Nguyên tắc này đặt ra rằng quyền sở hữu (công khai hoặc riêng tư) của một doanh nghiệp nhất định sẽ không ảnh hưởng đến các cơ hội cạnh tranh của nó trên thị trường. Khi xem xét về CTTL, các nhà đầu tư có thể mở rộng các chiều hướng cân nhắc để các DNTN không chịu những chế tài như các DNNN. Nguyên tắc CTTL đã được xây dựng dưới sự bảo trợ của OECD thông qua việc áp dụng các công cụ luật mềm, như Hướng dẫn về Quản trị doanh nghiệp của các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước. Ngoài ra, hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO cũng có thể được áp dụng đối với các DNNN theo Điều 1.
Tác giả ủng hộ sự phụ thuộc của các trọng tài viên vào nguyên tắc CTTL đối với các DNNN nhằm tăng cường phạm vi của các quy tắc quy kết đã được ban hành. Như thế mới có thể thúc đẩy trách nhiệm giải trình của các quốc gia và DNNN, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các DNNN và DNTN. - Zwalf Sebastian (2017), “Competitive neutrality in public-private partnership evaluations: a non-neutral interpretation in comparative perspective”, Asia Pacific Journal of Public Administration, Volume 39, Issue 4. Đây là nghiên cứu xem xét cơ sở khái niệm liên quan đến CTTL cũng như cách thức áp dụng chính sách CTTL trong các hướng dẫn của quan hệ đối tác công-tư (PPP) trong tám nền kinh tế G20.