Luận văn: Tuyên truyền phòng chống ma túy cho thanh niên Kiến Thụy Hải Phòng

Luận văn thạc sĩ chính trị học nghiên cứu phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện tại Mê Linh, Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
105
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan phương thức lãnh đạo của Huyện ủy Mê Linh

Nghiên cứu thạc sĩ chính trị học về phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện ở Mê Linh, Hà Nội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Mê Linh là cửa ngõ phía Bắc thủ đô Hà Nội. Địa bàn đang trong quá trình đô thị hóa nhanh và phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Huyện ủy giữ vai trò hạt nhân chính trị lãnh đạo toàn diện mọi mặt đời sống xã hội. Phương thức lãnh đạo thể hiện qua việc ban hành nghị quyết, chỉ thị và định hướng phát triển địa phương. Cấp ủy chỉ đạo chính quyền huyện cụ thể hóa đường lối thành các kế hoạch hành động chi tiết. Cơ chế vận hành bảo đảm nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Huyện ủy thực hiện lãnh đạo thông qua công tác tổ chức cán bộ và kiểm tra, giám sát thường xuyên. Mục tiêu cốt lõi là nâng cao hiệu lực quản lý của Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân. Quá trình này đòi hỏi sự phân định rõ ràng giữa thẩm quyền của Đảng và chức năng hành chính của bộ máy nhà nước. Việc đổi mới phương thức lãnh đạo giúp xây dựng hệ thống chính quyền địa phương vững mạnh.

1.1. Cơ sở lý luận về phương thức lãnh đạo cấp ủy huyện

Phương thức lãnh đạo của cấp ủy huyện là tổng hợp các cách thức tác động vào bộ máy chính quyền. Đảng lãnh đạo bằng chủ trương, đường lối và các nghị quyết chuyên đề. Đảng không bao biện, làm thay công việc chuyên môn của cơ quan nhà nước. Đảng cũng không buông lỏng vai trò lãnh đạo chính trị. Cấp ủy phát huy tối đa tính chủ động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện. Phương thức lãnh đạo bằng công tác giáo dục, thuyết phục và nêu gương là yêu cầu bắt buộc. Đội ngũ cán bộ, đảng viên giữ vị trí nòng cốt trong việc tổ chức thực hiện. Cơ chế lãnh đạo phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ. Mối quan hệ giữa cấp ủy và chính quyền phản ánh hiệu quả quản trị địa phương.

1.2. Đặc điểm địa bàn huyện Mê Linh thuộc thủ đô Hà Nội

Huyện Mê Linh có vị trí địa kinh tế chiến lược tại cửa ngõ Tây Bắc thủ đô Hà Nội. Địa phương tiếp giáp sân bay quốc tế Nội Bài và sở hữu hệ thống giao thông huyết mạch. Mê Linh chuyển mình nhanh chóng từ vùng thuần nông sang khu vực công nghiệp và đô thị dịch vụ. Sự biến động về đất đai và dân cư cơ học đặt ra nhiều áp lực quản lý nhà nước. Đời sống nhân dân thay đổi nhanh kéo theo các vấn đề trật tự an toàn xã hội phức tạp. Nhiệm vụ chính trị của huyện đòi hỏi sự lãnh đạo kiên quyết, linh hoạt của Huyện ủy. Nâng cao chất lượng điều hành của chính quyền huyện là yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay.

II. Thực trạng phương thức lãnh đạo của Huyện ủy Mê Linh

Trong những năm qua, Huyện ủy Mê Linh đã tích cực đổi mới phương thức lãnh đạo đối với chính quyền huyện. Ban Thường vụ Huyện ủy ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề sát hợp với thực tiễn. Công tác thể chế hóa chủ trương được triển khai nghiêm túc, tạo chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, quá trình lãnh đạo vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Một số nghị quyết ban hành còn chung chung, thiếu tính khả thi cao. Tình trạng bao biện hoặc buông lỏng quản lý vẫn xảy ra ở một vài lĩnh vực nhạy cảm, đặc biệt là quản lý đất đai và trật tự xây dựng. Công tác phối hợp giữa cơ quan Đảng và bộ máy hành chính nhà nước đôi lúc chưa đồng bộ. Năng lực của một bộ phận cán bộ cấp huyện chưa đáp ứng yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số. Công tác kiểm tra, giám sát của Huyện ủy đối với việc thực thi công vụ có lúc chưa kịp thời, dẫn đến phát sinh đơn thư khiếu nại kéo dài.

2.1. Kết quả đạt được trong chỉ đạo điều hành chính quyền

Huyện ủy Mê Linh đã lãnh đạo chính quyền huyện hoàn thành nhiều chỉ tiêu kinh tế - xã hội then chốt. Tốc độ tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức cao và ổn định. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt và vượt kế hoạch đề ra. Cơ sở hạ tầng đô thị và nông thôn mới được đầu tư đồng bộ, khang trang. Công tác cải cách thủ tục hành chính có nhiều tiến bộ rõ rệt. Chính quyền phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn. Huyện ủy chỉ đạo quyết liệt việc tháo gỡ khó khăn cho các dự án lớn. An ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo niềm tin lớn trong nhân dân.

2.2. Những điểm nghẽn và hạn chế cần sớm khắc phục

Bên cạnh thành tựu, phương thức lãnh đạo của Huyện ủy vẫn còn những tồn tại lớn. Việc phân định thẩm quyền giữa Thường trực Huyện ủy và lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện đôi khi chưa rành mạch. Một số cán bộ đảng viên chưa phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm cá nhân. Công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường đất đai còn chậm trễ. Tình trạng vi phạm trật tự xây dựng trên đất nông nghiệp chưa được xử lý dứt điểm. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành chưa đồng đều giữa các phòng ban. Những hạn chế này làm giảm hiệu lực quản lý của chính quyền địa phương.

III. Giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo Huyện ủy Mê Linh

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền huyện là yêu cầu tất yếu trong giai đoạn phát triển mới. Huyện ủy cần tập trung nâng cao chất lượng xây dựng và ban hành nghị quyết. Nghị quyết phải ngắn gọn, trọng tâm, bám sát các khâu đột phá của địa phương. Việc phân định rõ chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý điều hành của chính quyền là giải pháp cốt lõi. Ban Thường vụ Huyện ủy cần đổi mới quy trình công tác cán bộ, bảo đảm tính công khai, minh bạch và dân chủ. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo chính quyền phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn sắc bén. Huyện ủy cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước tại cơ sở. Đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số trong quy trình giao việc và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ. Mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy với nhân dân.

3.1. Đổi mới quy trình ban hành nghị quyết và quy chế làm việc

Cấp ủy huyện cần hoàn thiện quy chế làm việc giữa Huyện ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân huyện. Quy chế phải quy định rõ trách nhiệm của tập thể và quyền hạn của cá nhân người đứng đầu. Việc ban hành nghị quyết cần dựa trên nghiên cứu khoa học và khảo sát thực tế kỹ lưỡng. Hạn chế tối đa các văn bản chỉ đạo mang tính hình thức, thiếu nguồn lực thực hiện. Mọi chủ trương lớn về phát triển hạ tầng, quy hoạch đất đai phải được thảo luận dân chủ, lấy ý kiến rộng rãi của các chuyên gia và nhân dân trước khi ban hành.

3.2. Nâng cao chất lượng cán bộ và siết chặt kiểm tra giám sát

Huyện ủy cần quy hoạch, đào tạo và bố trí đội ngũ cán bộ chính quyền có tư duy đổi mới. Tiêu chí đánh giá cán bộ phải gắn liền với sản phẩm đầu ra và sự hài lòng của người dân. Kiên quyết thay thế những cán bộ trì trệ, đùn đẩy trách nhiệm hoặc có biểu hiện tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, Huyện ủy phải siết chặt kỷ luật Đảng thông qua các cuộc kiểm tra chuyên đề. Tập trung giám sát các lĩnh vực nhạy cảm như quản lý đất đai, tài chính công và đầu tư xây dựng cơ bản để ngăn chặn sai phạm từ sớm.

IV. Giá trị nghiên cứu thạc sĩ chính trị học tại Mê Linh

Đề tài luận văn thạc sĩ chính trị học về phương thức lãnh đạo của Huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện ở Mê Linh mang lại giá trị khoa học và thực tiễn phong phú. Công trình làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý ở cấp huyện ven đô. Các luận cứ khoa học giúp Huyện ủy Mê Linh có thêm cơ sở vững chắc để xây dựng đề án đổi mới phương thức lãnh đạo giai đoạn 2025 - 2030. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các học viên chuyên ngành Chính trị học, Xây dựng Đảng và Quản lý công. Những đề xuất giải pháp có thể ứng dụng trực tiếp cho các huyện ngoại thành khác của Hà Nội có đặc điểm tương đồng. Việc hoàn thiện phương thức lãnh đạo góp phần xây dựng huyện Mê Linh phát triển nhanh, bền vững, sớm trở thành thành phố trực thuộc thủ đô.

4.1. Đóng góp về mặt lý luận cho khoa học chính trị học

Luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương. Nghiên cứu bổ sung những góc nhìn mới về sự tương tác giữa cấp ủy và chính quyền trong bối cảnh phân cấp, phân quyền mạnh mẽ. Đề tài làm rõ tính đặc thù của phương thức lãnh đạo tại khu vực đô thị hóa nhanh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu lý luận chính trị và hành chính công tại các học viện, trường đại học trên cả nước.

4.2. Khả năng ứng dụng vào thực tiễn địa phương và vùng ven

Các nhóm giải pháp đề xuất trong luận văn có tính khả thi cao, gắn liền với điều kiện thực tế của huyện Mê Linh. Lãnh đạo huyện ủy và các ban xây dựng Đảng có thể tham khảo để điều chỉnh quy chế làm việc và quy trình ban hành nghị quyết. Mô hình đánh giá cán bộ và kiểm tra giám sát có thể nhân rộng sang các địa bàn lân cận như Sóc Sơn, Đông Anh hoặc Đan Phượng. Công trình góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng tại thủ đô.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thạc sĩ chính trị học cttt phương thức lãnh đạo của huyện ủy đối với chính quyền cấp huyện ở mê linh hà nội hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC TUYÊN TRUYỀN PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN MA TUÝ CHO THANH NIÊN 9 1. Thanh niên, tệ nạn ma tuý ở nước ta và ảnh hưởng của nó đến thanh niên Việt Nam 1. Thanh niên Khái niệm thanh niên cho đến nay có sự phát triển trong quá trình phát triển của lịch sử. Họ là đối tượng được nhiều bộ môn khoa học nghiên cứu như: Sinh lý học, tâm lý học, xã hội học.

Ở mỗi thời kỳ của sự phát triển con người, thể chất, tâm lý của nhân cách có những quy luật phát triển riêng. Thanh niên là thời kỳ kế tiếp của lứa tuổi thiếu niên nhưng đây là giai đoạn phát triển cao về thể chất và có diễn biến tâm lý phức tạp. Về mặt sinh học, thanh niên được coi là giai đoạn phát triển trong cuộc đời con người, trong đó thấy rõ sự cường tráng về thể lực, sự phát triển về trí tuệ. Từ đây thanh niên bước sang giai đoạn mới để trở thành người trưởng thành.

Các nhà tâm lý học lại nhìn thanh niên với quy luật của tâm lý, lứa tuổi mà đặc trưng là sự tự ý thức, tự khẳng định, sự hăng say hoạt động sáng tạo và coi đó là yếu tố cơ bản để phân biệt với lứa tuổi khác. Các nhà kinh tế học lại nhấn mạnh thanh niên với một góc độ là lực lượng lao động xã hội hùng hậu, là nguồn lực thường xuyên bổ sung cho lao động trên mọi lĩnh vực, là bộ phận quan trọng cấu thành lực lượng sản xuất, năng động, nhạy cảm, gắn bó với tiến trình phát triển của xã hội với tư cách là lớp người xung kích, đi đầu trong cuộc đấu tranh sáng tạo ra xã hội mới. Dưới góc độ xã hội học: Coi thanh niên là một giai đoạn của quá trình xã hội hoá, chuyển từ tuổi thơ lệ thuộc sang một hoạt động độc lập, từng bước hình thành ý thức trách nhiệm công dân, chuẩn bị và tự nâng cao kiến thức để lao động cống hiến. Họ có mặt trong tất cả các tầng lớp, giai cấp xã hội.

Tuỳ theo môi trường hoạt động, đặc điểm nghề nghiệp, người ta chia thanh niên thành các nhóm xã hội khác nhau. 10 Trong công tác thanh niên, nghiên cứu xây dựng chiến lược phát triển thanh niên thì khái niệm cần được xem xét từ đặc điểm chung về mặt sinh học với đặc điểm xã hội, Đây là giai đoạn phát triển quan trọng nhất trong cuộc đời con người. Hiện nay hầu hết các nước trên thế giới đều quy định độ tuổi thanh niên bắt đầu từ 15 tuổi nhưng kết thúc thì lại khác nhau, có nước quy định 25 tuổi, có nước quy định 30, 35 tuổi. Ở Việt Nam, tại Điều 1 Luật thanh niên được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành ngày 1/7/2006 có quy định: Thanh niên là những người có độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi.

Như vậy, từ sự phân tích trên có thể rút ra khái niệm tổng quát về thanh niên như sau: Thanh niên là một nhóm xã hội nhân khẩu đặc thù bao gồm những người trong độ tuổi từ 16 đến 30 tuổi, có sự phát triển nhanh chóng về thể chất, tâm lý, trí tuệ, có mặt trong mọi lĩnh vực hoạt động xã hội, có quan hệ gắn bó mật thiết với tất cả các giai cấp, tầng lớp, là lực lượng xã hội to lớn đóng vai trò quyết định đối với sự phát triển trong tương lai của mỗi quốc gia, dân tộc. Tệ nạn ma tuý và tác hại Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 đã dành riêng một chương qui định các tội phạm về ma túy. Theo Bộ luật này, ma túy bao gồm nhựa cây thuốc phiện, nhựa cần sa, cao coca; lá hoa, quả cây cần sa,lá cây coca; quả thuốc phiện khô; quả thuốc phiện tươi; heroin; côcain; các chất ma túy khác ở dạng thể lỏng; các chất ma túy khác ở dạng thể rắn. Như vậy, chất ma túy là những chất đã được khoa học xác định và có tên gọi riêng.

Danh mục các chất ma túy, tiền chất ma túy(bao gồm danh mục quy định này kèm theo Công ước các năm 1961,1971,1988 của liên hợp quốc về kiểm soát ma túy) được quy định tại nghị định số 67/2001/NĐ – CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất; Nghị định số 133/2003/NĐ – CP ngày 06/11/2003 của Chính phủ bổ sung một 11 số chất vào danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành kèm theo Nghị định số 67/2001/NĐ – CP ngày 01/10/2001 của Chính phủ, gồm 228 chất ma túy và tiền chất. Việc xác định là chất ma túy, tiền chất được tiến hành qua trưng cầu giám định.[10] Theo từ điển tiếng Việt, ma túy là tên gọi chung có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện, ma túy là những chất mà người dùng nó một thời gian sẽ gây nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc. Luật phòng chống ma túy được Quốc hội thông qua ngày 09/10/2000 quy định: chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do chính phủ ban hành (khoản 1 điều 2). Từ các quy định của Liên hợp quốc và pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi đưa vào cơ thể con người, nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó.

Nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng.[37, trang 18-19] Tệ nạn ma tuý là một trong những tệ nạn xã hội đã và đang trở thành một hiểm hoạ lớn cho toàn nhân loại tác động trực tiếp đến các quốc gia, dân tộc. Hậu quả do tệ nạn ma tuý gây ra rất nghiêm trọng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đồng thời là nguyên nhân làm phát sinh, phát triển các loại tội phạm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phồn vinh và sự trường tồn của đất nước. Ma tuý không chỉ là nguyên nhân của các mối bất hoà trong gia đình mà còn là nguyên nhân dẫn đến phạm tội và gây mất trật tự an toàn xã hội. Như vậy tệ nạn ma tuý đang từng ngày, từng giờ ảnh hưởng và tác động xấu đến tất cả chúng ta.

Ảnh hưởng cuả tệ nạn ma tuý tới thanh niên Việt Nam 12 Tệ nạn ma túy đã và đang tấn công, đe dọa đời sống xã hội nước ta, gây ra những tác hại nghiêm trọng về mọi mặt và nguy hại hơn là nó đã làm biến chất, hư hỏng một bộ phận không nhỏ thế hệ trẻ của đất nước. Hiện nay, nguy cơ tệ nạn ma túy xâm nhập vào học đường ngày càng cao, đã và đang gây ra những ảnh hưởng xấu tới việc hình thành và phát triển toàn diện của thế hệ thanh niên. Hậu quả, tác hại do tệ nạn ma tuý gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội và an ninh trật tự của đất nước. Hiện nay, ở nước ta nạn nghiện hút, tiêm chích và buôn lậu ma tuý ở đối tượng thanh niên đang tăng lên.

Tệ nạn này trái với đạo đức truyền thống của dân tộc, ảnh hưởng rất xấu đến phát triển kinh tế, gây hại lớn cho sức khoẻ của một bộ phận nhân dân, ảnh hưởng xấu tới nòi giống dân tộc, để lại hậu quả nghiêm trọng cho các thế hệ mai sau. Cũng như các quốc gia khác trong khu vực và quốc tế, Việt Nam đã có nhận thức sâu sắc về tác hại của ma túy đối với cá nhân, cộng đồng và xã hội đặc biệt là đối với thế hệ trẻ thanh niên. Việc đấu tranh phòng, chống ma túy cho thanh niên ở Việt Nam là một mặt trận nóng bỏng, được cả xã hội quan tâm. Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật phòng, chống ma túy năm 2001, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy năm 2008.

Chính phủ Việt Nam đã tập trung chỉ đạo thực hiện các luật, nghị quyết của Quốc hội, ban hành được nhiều văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật về phòng, chống ma túy và đã thành lập Ủy ban Quốc gia về phòng, chống ma túy do một Phó Thủ tướng Chính phủ trực tiếp chỉ đạo. Trong những năm qua, nhờ thực hiện các giải pháp đồng bộ, sự nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, sự hưởng ứng, tham gia của nhân dân và sự quan tâm, giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, việc phòng, chống ma tuý tại Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng. Bộ Chính trị (khoá VIII) đã ban hành Chỉ thị số 06-CT/TW, ngày 30- 11-1996 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống và kiểm soát ma tuý. Qua 17 năm tổ chức thực hiện, các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận 13 Tổ quốc và các đoàn thể đã tích cực lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Chỉ thị, qua đó đã nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các cấp, các ngành; phát huy được sức mạnh tống hợp của hệ thống chính trị và đông đảo nhân dân tham gia phòng, chống ma tuý; đấu tranh xử lý nhiều vụ phạm tội về ma tuý và tổ chức cai nghiện với nhiều phương thức khác nhau, góp phần ngăn chặn, kiềm chế sự gia tăng tội phạm và tệ nạn ma tuý.

Tuy nhiên, tệ nạn ma tuý vẫn diễn biến phức tạp và ngày càng có dấu hiệu tinh vi hơn trong lứa tuổi thanh niên. Nguồn ma tuý chủ yếu thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta vẫn chưa được ngăn chặn; ở trong nước, tình trạng tái trồng cây có chứa chất ma tuý ở một số địa phương chưa được xoá bỏ triệt để, còn nhiều tụ điểm phức tạp về ma tuý, tình hình tội phạm và tình trạng sử dụng trái phép chất ma tuý vẫn có xu hướng gia tăng, lan rộng tại một số địa bàn. Kết quả cai nghiện cho thanh niên chưa cao, kinh phí đầu tư cho phòng, chống ma tuý còn hạn chế. Thực trạng trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do cấp uỷ đảng, chính quyền ở một số đơn vị, địa phương chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác tuyên truyền phòng, chống ma tuý; chưa thực sự quan tâm triển khai thực hiện nghiêm túc Chỉ thị của Bộ Chính trị, còn cho đây là trách nhiệm của các cơ quan chuyên trách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ