Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng thời kỳ mới

Nghiên cứu chương 3 luận văn thạc sĩ chính trị học về các quan điểm và giải pháp đột phá nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
146
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu là vấn đề sống còn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong chương trình Thạc sĩ Chính trị học, chương 3 tập trung làm sáng tỏ các nguyên tắc nền tảng của công tác này. Mục đích cốt lõi là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Nhân dân là chủ thể quyền lực của xã hội. Mọi lợi ích và quyền hành đều bắt nguồn từ nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước nhằm thể chế hóa đường lối chính trị thành pháp luật phục vụ nhân dân. Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phản ánh ý chí của số đông người lao động. Đổi mới phương thức lãnh đạo giúp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng phải không ngừng tự đổi mới để thích ứng với bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này đòi hỏi sự thống nhất cao độ về tư tưởng, tổ chức và hành động. Đội ngũ cán bộ phải gắn bó mật thiết với quần chúng nhân dân. Nâng cao vai trò lãnh đạo tạo động lực quyết định cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Toàn bộ hệ thống chính trị phải vận hành đồng bộ vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

1.1. Bản chất và định hướng chính trị cốt lõi

Bản chất của việc nâng cao sức chiến đấu là giữ vững lập trường giai cấp công nhân. Đảng hoạt động vì hạnh phúc của toàn thể nhân dân lao động. Quyền lực nhà nước xuất phát từ nhân dân và do nhân dân ủy quyền. Đảng lãnh đạo Nhà nước biến chủ trương thành chính sách cụ thể. Mọi chính sách phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội. Người dân có quyền thụ hưởng đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Mỗi cá nhân cần được bảo đảm cơ hội phát triển toàn diện năng lực sáng tạo. Xây dựng nền dân chủ thực chất là mục tiêu bao trùm của toàn bộ hệ thống chính trị.

1.2. Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và nhân dân làm chủ

Mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân mang tính chất quyết định đối với uy tín cầm quyền. Nhân dân vừa là đối tượng phục vụ vừa là nền tảng sức mạnh của Đảng. Sự nghiệp đổi mới do nhân dân tổ chức thực hiện dưới sự lãnh đạo của Đảng. Mọi hành vi xa rời quần chúng đều dẫn tới nguy cơ suy giảm sức chiến đấu. Đảng phải kiên quyết đấu tranh chống quan liêu và độc đoán chuyên quyền. Cán bộ đảng viên cần lắng nghe và giải quyết kịp thời nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Mối liên hệ máu thịt này tạo nên sức đề kháng trước mọi thách thức thời đại. Giữ vững niềm tin của nhân dân là thước đo chuẩn xác nhất về năng lực lãnh đạo.

II. Phân tích thực trạng năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Bối cảnh toàn cầu hóa và kinh tế thị trường đặt ra nhiều thử thách lớn đối với vai trò cầm quyền của Đảng. Sự xâm nhập của các tư tưởng tiêu cực dễ làm xói mòn đạo đức cách mạng của một bộ phận cán bộ. Tình trạng quan liêu, tham nhũng và lãng phí gây tổn hại nghiêm trọng đến quyền làm chủ của nhân dân. Các biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị và lối sống thực dụng đang diễn biến phức tạp. Một số tổ chức cơ sở đảng còn lúng túng trong việc xử lý các mâu thuẫn nảy sinh từ thực tiễn. Năng lực dự báo và hoạch định chính sách kinh tế trong hội nhập quốc tế đôi khi chưa theo kịp yêu cầu. Công tác phát triển sản xuất gắn với thị trường thế giới đòi hỏi sự đổi mới tư duy kinh tế toàn diện. Nếu không kịp thời khắc phục những hạn chế này, uy tín lãnh đạo của tổ chức đảng sẽ bị suy giảm. Do đó, việc nhận diện rõ các điểm nghẽn thực tiễn là cơ sở then chốt để xây dựng những biện pháp chấn chỉnh kịp thời và hiệu quả.

2.1. Thách thức từ nạn quan liêu tham nhũng và lãng phí

Tham nhũng và lãng phí là những hành vi phản dân chủ nguy hiểm. Những tệ nạn này làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng. Hành vi vi phạm ngày càng tinh vi và phức tạp trên nhiều lĩnh vực nhạy cảm. Một bộ phận cán bộ có chức quyền lạm dụng vị trí để mưu cầu lợi ích cá nhân. Tình trạng này làm suy yếu kỷ cương phép nước và làm chậm bước tiến kinh tế. Đấu tranh chống tham nhũng phải trở thành nhiệm vụ trọng yếu và thường xuyên. Việc nhận diện chính xác sai phạm giúp ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ từ bên trong.

2.2. Yêu cầu mới từ hội nhập kinh tế và công nghiệp hóa

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đặt ra yêu cầu nâng tầm tư duy kinh tế của Đảng. Chiến lược hướng về xuất khẩu đòi hỏi sự am hiểu sâu sắc về thị trường quốc tế. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự linh hoạt trong quản lý nhà nước. Cán bộ lãnh đạo phải đủ năng lực điều hành trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Thiếu hụt kiến thức kinh tế sẽ làm giảm hiệu lực lãnh đạo toàn diện. Cần chủ động thích ứng với biến động toàn cầu để giữ vững độc lập tự chủ. Đổi mới phương thức lãnh đạo kinh tế là yêu cầu cấp thiết.

III. Giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng

Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp đột phá. Trước hết, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải được tăng cường toàn diện và thực chất. Các cấp ủy cần tập trung vào các lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh sai phạm và bức xúc trong dư luận xã hội. Nhiệm vụ trọng tâm là phát hiện kịp thời các dấu hiệu vi phạm ngay từ khi mới manh nha. Ủy ban Kiểm tra các cấp phải chủ động phối hợp chặt chẽ với cơ quan thanh tra, điều tra để xử lý kiên quyết, nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, lãng phí. Bên cạnh đó, việc đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước phải bảo đảm Nhà nước thực sự là của dân, do dân và vì dân. Công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu, phải được rà soát và đánh giá minh bạch. Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ giúp củng cố tính chiến đấu ngay từ cơ sở. Mọi giải pháp đều phải hướng tới bảo vệ lợi ích hợp pháp của nhân dân.

3.1. Tăng cường công tác kiểm tra giám sát và kỷ luật nghiêm minh

Công tác kiểm tra, giám sát giữ vai trò mở đường trong phòng ngừa sai phạm. Ủy ban Kiểm tra các cấp cần tập trung giám sát tổ chức đảng và cán bộ có dấu hiệu suy thoái. Việc kiểm tra tài chính đảng và kiểm soát quyền lực phải tiến hành thường xuyên. Khi phát hiện vi phạm, cơ quan chức năng phải xử lý triệt để, không có vùng cấm. Phối hợp liên ngành giữa Đảng, Thanh tra và Công an giúp nâng cao hiệu quả điều tra. Người đứng đầu cơ quan vi phạm phải chịu trách nhiệm liên đới theo đúng quy định. Kỷ luật nghiêm minh là công cụ hữu hiệu để thanh lọc bộ máy.

3.2. Hoàn thiện phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội

Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua cương lĩnh, đường lối và công tác cán bộ. Tuyệt đối không bao biện, làm thay chức năng quản lý hành chính của chính quyền. Nhà nước có trách nhiệm thể chế hóa quan điểm của Đảng thành các văn bản pháp luật minh bạch. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và được bảo vệ quyền lợi chính đáng. Cải cách hành chính cần gắn liền với việc phân cấp, phân quyền khoa học. Tổ chức bộ máy phải tinh gọn và hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Nâng cao năng lực lãnh đạo kinh tế đáp ứng yêu cầu hội nhập và công nghiệp hóa đất nước.

IV. Ứng dụng quan điểm nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng hiện nay

Việc nghiên cứu và vận dụng quan điểm tại chương 3 mang giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc đối với học viên Thạc sĩ Chính trị học. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là điều kiện tiên quyết để giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế bền vững. Mỗi cán bộ, đảng viên cần tích cực tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực tư duy lý luận. Trong thực thi công vụ, phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm lấy dân làm gốc, bảo vệ quyền lợi thiết thực của nhân dân. Công tác chỉnh đốn Đảng phải được tiến hành kiên quyết, kiên trì và liên tục ở mọi cấp độ. Các cơ quan nghiên cứu chính trị học cần đẩy mạnh tổng kết thực tiễn để cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện chủ trương, đường lối. Sự kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành sẽ xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng niềm tin cậy của toàn thể nhân dân.

4.1. Vận dụng trong công tác xây dựng chi bộ cơ sở

Chi bộ là tế bào cơ bản và là nền tảng của tổ chức Đảng. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi nâng cao chất lượng các buổi sinh hoạt định kỳ. Chi bộ phải đẩy mạnh tự phê bình và phê bình một cách thẳng thắn, xây dựng. Từng đảng viên cần nhận thức rõ trách nhiệm tiên phong gương mẫu trước quần chúng. Việc phân công nhiệm vụ phải gắn liền với kiểm tra và đánh giá kết quả rõ ràng. Kịp thời phát hiện và bồi dưỡng những nhân tố tích cực trong phong trào lao động. Xây dựng chi bộ vững mạnh giúp tăng cường sức chiến đấu toàn diện của toàn Đảng bộ.

4.2. Ý nghĩa đối với học viên cao học chính trị học

Nghiên cứu chương 3 giúp học viên thạc sĩ hình thành thế giới quan khoa học và tư duy chính trị sắc bén. Người học nắm vững bản chất của quyền lực chính trị và phương thức vận hành hệ thống. Những luận cứ lý luận tạo nền tảng vững chắc để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học. Học viên có khả năng phân tích độc lập các vấn đề chính trị thực tiễn nảy sinh trong đời sống. Đồng thời, kiến thức này trang bị kỹ năng tham mưu chính sách cho các cơ quan Đảng và Nhà nước. Việc học tập lý luận gắn liền với trau dồi bản lĩnh cách mạng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thạc sĩ chính trị học chương 3 quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng trong thời kỳ mới

Trích đoạn nội dung tài liệu

1 Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG TRONG THỜI KỲ MỚI 3. Những quan điểm chủ yếu có tính nguyên tắc về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới. Để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong thời kỳ mới, cần phải xuất phát từ những định hướng lớn có tính nguyên tắc sau đây: 3. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới nói chung là nhằm đảm bảo và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, làm cho nhân dân là người chủ của xã hội, nhân dân có quyền làm chủ và thực hiện nghĩa vụ người chủ của mình.

Đây là bản chất và mục tiêu, là động lực và sức mạnh quyết định thắng lợi của đổi mới, quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng CNXH, xây dựng xã hội ta thành một xã hội dân chủ. Trong chế độ xã hội đó, nền dân chủ XHCN là dân chủ của số đông, của đa số nhân dân lao động. Bao nhiêu lợi ích là của dân, bao nhiêu quyền cũng là của dân, thuộc về dân, quyền hành và lực lượng đều ở trong dân, sự nghiệp đổi mới, kiến thiết chế độ mới là sự nghiệp của toàn dân, do dân tổ chức nên và do nhân dân thực hiện. Đảng lãnh đạo Nhà nước để Nhà nước thể chế hoá quyền làm chủ của nhân dân thành luật pháp, biến đờng lối, chủ trơng của Đảng thành luật pháp và chính sách phục vụ nhân dân, để Nhà nước tổ chức lực lượng nhân dân thành sức mạnh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng chế độ mới, đem lại tự do hạnh phúc cho nhân dân.

Đây là định hướng chính trị tổng quát và bao trùm hoạt động lãnh đạo và cầm quyền của Đảng, là mục đích trực tiếp và sâu xa thể hiện tập trung nhất năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Mục đích trực tiếp đó vào lúc này đũi hỏi Đảng phải lãnh đạo cả HTCT, trong đó bao hàm cả Đảng phải thành công trong cuộc đấu tranh chống quan liêu, chống xa dân, phải phòng chống có hiệu quả, quan liêu, tham nhũng, đẩy lùi được tiêu cực và tệ nạn xã hội. Đây là 2 những phản dân chủ, làm tổn hại tới lợi ích và quyền làm chủ của nhân dân. Lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước phải làm cho quyền lực nhà nước do nhân dân trao cho phải thực sự thể hiện được quyền lực của nhân dân, sử dụng quyền lực đó vào mục đích phục vụ nhân dân, phát triển kinh tế- xã hội và văn hoá, đảm bảo cho nhân dân có cuộc sống vật chất ngày càng tăng, đời sống tinh thần ngày một tốt, xã hội ngày càng văn minh tiến bộ.

Phải đem lại cho mỗi người dân được thụ hưởng chính đáng các quyền và lợi ích, có cơm ăn, áo mặc, có việc làm, được học hành, được tự do đi lại, có nhà ở, có cuộc sống tự do và hạnh phúc, làm cho mỗi người đều có cơ hội như nhau để phát triển mọi năng lực sáng tạo của mình. Đây là thực chất của công bằng xã hội, công bằng và bình đẳng về cơ hội phát triển. Mục đích sâu xa, lâu dài và cơ bản nhất của việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng là nhằm đảm bảo và phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, làm cho nhân dân là người chủ của xã hội, nhân dân có quyền làm chủ và thực hiện nghĩa vụ người chủ của mình bằng cách xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, xây dựng thành công CNXH, có tiềm lực quốc phòng, an ninh mạnh mẽ, đủ sức bảo vệ cuộc sống của dân, phát triển dân tộc, giữ vững thành quả cách mạng, bảo vệ chủ quyền quốc gia- dân tộc và Tổ quốc XHCN trong mọi tình huống. Mục đích sâu xa này thể hiện bản chất của chế độ XHCN ở nước ta là chế độ do nhân dân lao động làm chủ.

Quan điểm này được thể hiện rất rõ trong đường lối của Đảng, Hiến pháp, Pháp luật của Nhà nước và ngày càng được hiện thực hóa đầy đủ trong thực tế cuộc sống. Sự lãnh đạo của Đảng là để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, làm cho nhân dân thực sự là chủ nhân đích thực của mọi quyền lực – đó là sứ mệnh lịch sử của Đảng Cộng sản cầm quyền. Mức độ thực hiện quyền dân chủ của nhân dân được xem là thước đo đánh giá năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng lãnh đạo làm sao để nhân dân làm chủ ngày càng tốt hơn, dân chủ của nhân dân ngày càng được mở rộng và sâu sắc hơn.

Cần xem đó là 3 căn cứ cơ bản nhất đánh giá sự trưởng thành của Đảng, đánh giá năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng phải trên cơ sở giữ vững bản chất giai cấp công nhân, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh Thực chất của quan điểm này là vấn đề lập trường giai cấp công nhân, là sự kiên định về hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng. Trong lý luận kinh điển, bản chất giai cấp công nhân của đảng cộng sản được nhấn mạnh. Điều này đúng với bản chất giai cấp của mọi đảng chính trị và cũng đúng với các đảng cộng sản được ra đời ở những xã hội tư bản phát triển, nơi giai cấp công nhân đã thực sự trưởng thành về mọi mặt.

Ngay cả trong những hoàn cảnh điển hình như vậy, các nhà kinh điển cũng vẫn cảnh báo rằng, giai cấp vô sản ở mỗi nước phải tự mình giành lấy dân tộc, phải tự biến thành dân tộc. Trên thực tế, các cuộc cách mạng vô sản đã không nổ ra ở những nước tư bản phát triển, mà ở những quốc gia chậm phát triển, hoặc phát triển trung bình, những nơi mà sự phân hoá xã hội - giai cấp chưa chín muồi và cũng không điển hình như Mác, Ăngghen từng dự cảm. Ở tất cả những không gian xã hội chủ nghĩa ấy, đảng cộng sản không thể trở thành đội tiền phong về chính trị, tư tưởng, tổ chức, trí tuệ, tinh thần… nếu chỉ là đảng của giai cấp vô sản còn non yếu; mà phải đồng thời là đội tiền phong của mọi lực lượng xã hội tiến bộ khác. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng xác định từ rất sớm rằng Đảng ta là con nòi của dân tộc Việt Nam.

Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XI khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng, Nhà nước phải làm gì để xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh ngang tầm giai cấp lãnh đạo cách mạng ? Là cơ sở giai cấp sống còn của Đảng, giai cấp công nhân vững mạnh vừa là tiền đề không thể thiếu, vừa là sự đảm bảo không ai có thể thay thế cho Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo, cầm quyền. Xem 4 nhẹ việc chủ động xây dựng một cơ cấu xã hội - giai cấp của xã hội xã hội chủ nghĩa, trong đó có giai cấp công nhân ngày càng hùng hậu, đồng nghĩa với việc tự huỷ hoại từng bước nền móng ngôi nhà của chính mình. Xét trên phương diện này, rõ ràng Đảng và Nhà nước cần phải thực thi nhiều giải pháp cấp bách nhằm cứu vãn một đội ngũ đáng kể công nhân Việt Nam ra khỏi tình cảnh khốn cùng: “không nhà ở, không gia đình, không văn hoá, không tương lai, không chính trị…”.

Cùng với công nhân, phải chăm lo phát triển giai cấp nông dân làm chủ ruộng đất và đội ngũ trí thức đầy đủ điều kiện lao động sáng tạo, tạo nên liên minh chiến lược cần thiết trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thách thức nóng bỏng hiện nay và nhiều năm tới đối với lý luận và thực tiễn năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức Đảng các cấp là làm gì để không cho các cơ chế thị trường thay thế vai trò lãnh đạo của Đảng; bổ sung nguyên tắc gì để Đảng, Nhà nước không thể xa rời mục tiêu, lợi ích của giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, đội ngũ trí thức và nhân dân lao động trong từng chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội; xác lập thêm nguyên tắc, cơ chế gì để phòng chống có hiệu quả ngay trong trứng nước nguy cơ đổi hướng, đổi màu, trước hết từ Trung ương; làm gì để khắc phục tình trạng các chi bộ, đảng bộ sinh hoạt đều đặn hàng tháng nhưng hầu như không bao giờ kiểm điểm ra các vụ tham nhũng lớn có thủ phạm là người trong chi bộ, đảng bộ mình, v. Đó là hàng loạt vấn đề cấp thiết, cốt tử về năng lực lãnh đạo sức chiến đấu của tổ chức Đảng các cấp, nếu không được xử lý kịp thời sẽ đe doạ sự thành bại của công cuộc đổi mới và chế độ xã hội. Lãnh đạo của Đảng là việc Đảng đảm đương nhiệm vụ chỉ đạo quá trình cách mạng, vạch đường, chỉ lối cho sự phát triển của cuộc cách mạng đó; xây dựng, tổ chức lực lượng, đưa lực lượng vào hoạt động thực tiễn để hiện thực hoá mục tiêu lãnh đạo của mình nhằm đi tới đích mà cuộc cách mạng đã đặt ra.

5 Để thực hiện được chức năng lãnh đạo như vậy, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được đo bằng tiêu chí cơ bản có tính nguyên tắc là sự giữ vững bản chất giai cấp công nhân, năng lực nắm vững và vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng mang tính cách mạng và khoa học –đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đảng phải nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Nếu thiếu bản lĩnh chính trị, xa rời bản chất giai cấp công nhân, Đảng dễ bị sai lầm, chệch hướng, khó vượt qua thử thách, trở ngại để đi đưa đất nước đi lên CNXH. Đảng phải nắm vững và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa, tiếp thu những giá trị, tri thức của nhân loại, tham khảo kinh nghiệm các Đảng Cộng sản trên thế giới để áp dụng vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ