Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ giáo dục học của nghiên cứu sinh Nguyễn Hà Giang, chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử (mã số đào tạo tại thời điểm bảo vệ: 62.14.01.11, mã số ghi nhận trong văn bản: 62.11), được thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Côi và PGS. Đỗ Hồng Thái. Luận án mang tiêu đề: "Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (Thực nghiệm phần Lịch sử Thế giới lớp 10 – chương trình chuẩn)".

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bối cảnh đổi mới giáo dục tại Việt Nam đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng truyền thụ một chiều, chuyển trọng tâm sang phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh, căn cứ theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Luật Giáo dục sửa đổi bổ sung năm 2009 (có hiệu lực từ tháng 7/2010), và Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục 2011–2020.

Trong thực tiễn giáo dục phổ thông, bộ môn Lịch sử thường bị xem là "môn phụ", học sinh học tập đối phó, thiếu hứng thú do khối lượng sự kiện lớn và quan niệm "môn sử dài, khó nhớ". Một nguyên nhân cơ bản xuất phát từ phương pháp dạy học của giáo viên còn nặng về thuyết trình thụ động, dạy "chay", thiếu đồ dùng trực quan và chưa khai thác hiệu quả các biện pháp sư phạm nhằm kích thích nhận thức. Về mặt học thuật, mặc dù vấn đề hứng thú đã được tiếp cận ở nhiều góc độ trong tâm lý học và giáo dục học đại cương, ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử ở Việt Nam vẫn còn khoảng trống: chưa có công trình nào giải quyết toàn diện, triệt để hệ thống lý luận về khái niệm, biểu hiện, mức độ, các yếu tố tác động và xây dựng một hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ để tạo và duy trì hứng thú cho học sinh trong các giờ học nghiên cứu kiến thức mới trên lớp ở cấp trung học phổ thông.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tạo hứng thú trong học tập lịch sử, xác định các biểu hiện và yếu tố tác động, từ đó đề xuất các biện pháp sư phạm về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học nhằm tạo và duy trì hứng thú học tập cho học sinh trung học phổ thông.

Để đạt được mục đích trên, luận án giải quyết 5 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Tìm hiểu lý luận về Tâm lý học, Giáo dục học, Giáo dục lịch sử về vấn đề hứng thú và tạo hứng thú học tập cho học sinh.
  2. Tìm hiểu thực tiễn dạy học lịch sử về vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua phiếu khảo sát, trao đổi trực tiếp và dự giờ.
  3. Tìm hiểu nội dung chương trình, sách giáo khoa Lịch sử ở trường trung học phổ thông, tập trung vào phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn).
  4. Đề xuất phương hướng đổi mới thiết kế nội dung bài học, các hình thức tổ chức dạy học lịch sử và những biện pháp sư phạm phù hợp nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh khi tiến hành bài học lịch sử nội khóa (bài nghiên cứu kiến thức mới) ở trên lớp.
  5. Thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần để kiểm chứng các biện pháp sư phạm đã đề xuất, rút ra kết luận về tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp.

Giả thuyết khoa học

Luận án xác định giả thuyết khoa học: Nếu thực hiện tốt các biện pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh theo những yêu cầu mà luận án đưa ra thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp giáo dục hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Quá trình tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử (thực nghiệm phần Lịch sử thế giới lớp 10 – trung học phổ thông).
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung chuyên môn: Tập trung đề xuất một số biện pháp sư phạm về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp tiến hành bài học nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp thuộc phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn).
    • Về không gian điều tra và thực nghiệm: Khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm tại các trường trung học phổ thông thuộc các tỉnh: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu vấn đề hứng thú và hứng thú học tập theo ba nhóm tài liệu chính:

Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

  • Tâm lý học và Giáo dục học:
    • Giai đoạn đầu thế kỷ XX: X. Ananhin (1911) bắt đầu quan tâm đến khái niệm hứng thú nhưng lưu ý sự bất ổn định của thuật ngữ. X. Rubinstein (những năm 1920) coi hứng thú là biểu hiện của ý chí và tình cảm. E.K. Strong nghiên cứu sự thay đổi hứng thú theo độ tuổi (Change of interest with age). K. Buhler (Phát triển hứng thú ở trẻ em) coi hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực tâm lý. Nhìn chung, các tác giả đầu thế kỷ XX tiếp cận hứng thú chủ yếu từ bản chất sinh học, bẩm sinh.
    • Giai đoạn phát triển tiếp theo: Ivanôp xem hứng thú là thái độ nhận thức tích cực. Belaep phân loại hứng thú theo các dạng hoạt động (trò chơi, vận động, giải đố, môn học). D.E. Super (La Psychologie des intérêts) khẳng định hứng thú có tính độc lập tương đối với nhân cách. L. Bêlachve xem xét hứng thú trong mối liên hệ với các trạng thái say mê. A. Côvaliôp (Tâm lý học cá nhân, 1971), Liublinxkaia, P.A. Ruđich (Tâm lí học), L. Xlôvaytrich (Từ hứng thú đến tài năng, 1975), Lepkôp, A.V. Daparôgiet đều phân tích hứng thú nhận thức như một thái độ đặc thù gắn với nhu cầu và tình cảm.
    • N.G. Marôzôva (Hứng thú nhận thức, 1976) phân tích sâu cấu trúc tâm lý gồm 3 thành tố của hứng thú và các điều kiện giáo dục hứng thú. K. Secnưsepxky, B.G. Ananiev, Sacđacốp (Tư duy của học sinh), B.P. Êxipôp (Những cơ sở của lý luận dạy học, 1971) gắn hứng thú với tính tích cực và tư duy độc lập. G.I. Sukina (Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục) xác định 4 biểu hiện của hứng thú và khẳng định nội dung tài liệu cùng hoạt động học tập là nguồn gốc của hứng thú nhận thức. D.A. Tơrêphilốp đề xuất 15 biện pháp gây hứng thú trong môn Toán; I.F. Khalamôp (1979) nhấn mạnh vai trò xúc cảm đi trước động cơ; V.A. Cruchetxky chỉ rõ mối liên hệ giữa dạy học nêu vấn đề với hứng thú.
    • Các nghiên cứu đương đại: Linnell C. Charles (2004) nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại; Bram-Tsabari, Sethi, J. Ricky, Bry, Lynn, Yarden, Anat (2006) nghiên cứu hứng thú khoa học từ câu hỏi của học sinh; Sandstrom Kjellin Margareta và Granlund Mats (2006) khảo sát mức độ tham gia vào các hoạt động lớp học; Judith M. Durik (2007) phân tích sự phân hóa hứng thú cá nhân giữa phương pháp hiện đại và truyền thống; Geoffrey Petty (Dạy học ngày nay) phân tích động cơ và kỹ thuật giảng dạy.
  • Giáo dục Lịch sử nước ngoài:
    • N.G. Đairi (Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?) khẳng định hiệu quả giờ học xuất phát từ sự thi đua đạt hứng thú đối với hoạt động logic và khám phá tri thức mới.
    • A.A. Vaghin (Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông) phân tích vai trò của sách giáo khoa và tài liệu lịch sử.
    • Giáo trình của Học viện Sư phạm Cao cấp Trung Quốc (Bàn về phương pháp dạy học lịch sử mới biên soạn) và công trình Phương pháp dạy học lịch sử qua sơ đồ, biểu đồ, tư liệu viết tay nêu rõ ba yếu tố tác động đến sự say mê học tập: nội dung tài liệu, phương pháp/phương tiện tiếp thu, và mối quan hệ thầy trò.

Nghiên cứu của các tác giả trong nước

  • Tâm lý học và Giáo dục học:
    • Cơ sở triết học và tâm lý học đại cương: Trần Bảo (nghiên cứu phạm trù hứng thú dưới góc độ triết học); Đức Minh (1975), Phạm Minh Hạc (1989), Lê Thị Bừng, Nguyễn Khắc Viện (1991), Nguyễn Quang Uẩn và Trần Trọng Thủy (2003) nghiên cứu bản chất tâm lý của hứng thú.
    • Giáo trình và lý luận dạy học: Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (1987), Trần Thị Tuyết Oanh, Phạm Viết Vượng (2008), Lê Nguyên Long (2002), Nguyễn Nhật Phong, Phan Trọng Ngọ (2005), Hà Vỹ. Đặc biệt, Thái Duy Tuyên (1999, 2010) khẳng định hứng thú có thể điều khiển được thông qua nội dung, phương pháp, phương tiện và các khâu lên lớp.
    • Luận án, luận văn và bài báo chuyên ngành: Nguyễn Thị Thu Cúc (Luận án Tiến sĩ năm 2008 về môn Toán tiểu học, bài báo Tạp chí Giáo dục năm 2003); Lê Văn Phúc (Luận án Phó Tiến sĩ môn Toán); Phạm Ngọc Quỳnh (Luận án Phó Tiến sĩ môn Văn); Nguyễn Thanh Bình, Imkock, Phạm Thị Ngạn, Nguyễn Phùng Khánh, Võ Đại Nam Anh, Trần Cảnh Thắng, Đinh Thị Sen; cùng các bài viết trên Tạp chí Giáo dục của Đỗ Tiến Sỹ (2001), Ngô Đình Qua (2002), Trần Bá Hoành (2002), Nguyễn Thành Kỉnh (2009).
  • Giáo dục Lịch sử trong nước:
    • Giáo trình chuyên ngành: Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường; Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (các ấn bản 1978, 1992, 2002, 2009); nhóm tác giả Phan Ngọc Liên, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Trần Vĩnh Tường (2002); Nguyễn Thị Côi (Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông); Trịnh Đình Tùng và Phan Ngọc Liên; Đặng Văn Hồ và Trần Quốc Tuấn (2005).
    • Luận văn và bài báo hội thảo: Đặng Thị Yên (THCS Lai Châu), Nguyễn Thị Thơm (Lịch sử Việt Nam 1945–1954), Nguyễn Thị Thùy Dung (lớp 10 GDTX TP.HCM), Nguyễn Thị Xuân Thảo (THCS TP.HCM), Nguyễn Tiểu Thúy, Nguyễn Thị Thủy; các nghiên cứu của Trần Đức Minh (2005), Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoài Sanh (2011), Trần Quốc Tuấn và Nguyễn Văn Phúc, Phạm Đình Kha và Lương Hữu Nga.

Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Kế thừa các luận điểm tâm lý học về bản chất, cấu trúc 3 thành tố và các mức độ hứng thú, luận án của Nguyễn Hà Giang định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở bậc tiến sĩ giải quyết đồng bộ vấn đề tạo hứng thú học tập trong phân môn Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn), tập trung vào loại bài nghiên cứu kiến thức mới thông qua các giải pháp sư phạm cụ thể về cấu trúc nội dung, phương pháp dùng lời, trực quan, bài tập nhận thức và ứng dụng công nghệ thông tin.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở phương pháp luận và lý thuyết

  • Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về lý luận nhận thức (con đường nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn), tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
  • Hệ thống khái niệm công cụ:
    • Hứng thú: Thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó khi hiểu được ý nghĩa, tác dụng của đối tượng đó đối với cuộc sống và nó mang đến sự khoái cảm cho bản thân.
    • Hứng thú nhận thức: Nhu cầu tự nhiên, tất yếu hướng vào việc tìm hiểu, khám phá thế giới xung quanh, xuất hiện từ sớm trước tuổi đến trường.
    • Hứng thú học tập: Thái độ lựa chọn của cá nhân đối với đối tượng của hoạt động học tập, hướng vào việc chiếm lĩnh tri thức khoa học dưới sự hướng dẫn của giáo viên, kết hợp giữa kích thích bên ngoài và động cơ bên trong.
    • Hứng thú học tập lịch sử: Thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể.
    • Tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh: Quá trình làm cho học sinh hình thành thái độ say mê, tích cực với nội dung lịch sử cụ thể và duy trì niềm say mê, tích cực ấy một cách bền vững.
Yếu tố cấu trúc hứng thú (theo N.G. Marôzôva) Nội dung biểu hiện
Cảm xúc đúng đắn Có trạng thái tình cảm tích cực, phù hợp đối với hoạt động đang diễn ra.
Khía cạnh nhận thức của cảm xúc Niềm vui, sự thỏa mãn xuất phát từ quá trình tìm hiểu, khám phá và nhận thức tri thức.
Động cơ trực tiếp Xuất phát từ chính bản thân hoạt động; hoạt động tự nó có sức lôi cuốn mà không phụ thuộc hoàn toàn vào các nghĩa vụ bên ngoài.
Giai đoạn phát triển hứng thú Đặc điểm nhận thức và hành vi của học sinh
Giai đoạn 1: Rung động định kỳ Phản ứng xúc cảm tức thời, cảm tính trước hiện tượng bên ngoài (lời kể hấp dẫn, tranh ảnh đẹp); dễ mất đi nếu không được củng cố.
Giai đoạn 2: Thái độ nhận thức xúc cảm tích cực Các rung động lặp lại đều đặn; học sinh bắt đầu xuất hiện câu hỏi nhận thức, có nhu cầu làm rõ các vấn đề lịch sử chưa hiểu.
Giai đoạn 3: Hứng thú trở thành xu hướng cá nhân Hứng thú bền vững, trở thành động cơ bên trong; học sinh chủ động tìm kiếm tài liệu, tự học và tham gia tích cực các hoạt động ngoại khóa.
Mức độ hứng thú học tập lịch sử Biểu hiện cụ thể ở học sinh
Mức độ 1: Hứng thú gián tiếp Phụ thuộc vào yếu tố bên ngoài (thầy cô dạy hay, kể chuyện vui, cho điểm cao, trình chiếu nhiều hình ảnh); kém bền vững.
Mức độ 2: Hứng thú trực tiếp Say mê chính nội dung tri thức lịch sử (tính mới lạ, ngắn gọn, súc tích, logic của sự kiện lịch sử); mức độ bền vững tương đối cao.
Mức độ 3: Hứng thú của tư duy Say mê bản chất quy luật lịch sử; tự giác giải quyết mâu thuẫn nhận thức, tự đọc tài liệu chuyên sâu, thích tranh luận khoa học; mức độ bền vững cao nhất.

Các yếu tố tác động tạo nên hứng thú học tập lịch sử

  1. Nội dung bài học: Tính chính xác, toàn diện (kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội), sự xâu chuỗi logic nguyên nhân – diễn biến – kết quả – ý nghĩa.
  2. Phương pháp dạy học lịch sử: Sử dụng linh hoạt phối hợp phương pháp dùng lời, trực quan, nêu vấn đề, thảo luận.
  3. Sức mạnh lời nói, thái độ và phong cách của giáo viên: Ngôn ngữ chuẩn xác, giàu hình ảnh, biểu cảm; thái độ gần gũi, truyền cảm xúc.
  4. Tổ chức các hoạt động học tập: Đa dạng hóa hình thức cá nhân, nhóm, làm việc với nguồn sử liệu.
  5. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ: Tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ lịch sử, ứng dụng công nghệ thông tin.
  6. Môi trường và hoàn cảnh học tập: Quan niệm gia đình, xã hội đối với môn học và cơ sở vật chất nhà trường.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học lịch sử; phân tích chương trình, sách giáo khoa Lịch sử lớp 10.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo sát thực trạng qua phiếu điều tra an-két, dự giờ, phỏng vấn giáo viên và cán bộ quản lý; kiểm tra đánh giá học sinh qua sổ điểm, kiểm tra miệng, bài viết và trắc nghiệm khách quan.
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế bài học, tiến hành thực nghiệm từng phần và toàn phần có đối chứng tại các trường trung học phổ thông thuộc 7 tỉnh phía Bắc.
  • Phương pháp thống kê toán học: Tập hợp, xử lý dữ liệu định lượng thu được từ các bài kiểm tra khảo sát và thực nghiệm sư phạm để rút ra nhận xét.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề hứng thú và hứng thú học tập ở nước ngoài và trong nước. Tác giả chỉ ra truyền thống hiếu học phương Đông bắt nguồn từ tư tưởng Khổng Tử với phương châm "Học nhi bất yếm, Hối nhân bất quyện" và truyền thống của các danh nhân văn hóa Việt Nam (Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Lê Quý Đôn, Hồ Chí Minh). Chương này phân tích bước chuyển dịch từ quan niệm coi hứng thú là yếu tố bẩm sinh (đầu thế kỷ XX) sang xem xét hứng thú là một thái độ nhận thức có cấu trúc phức tạp, có thể hình thành và phát triển thông qua giáo dục. Tác giả khẳng định khoảng trống học thuật cần giải quyết là xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm tạo hứng thú học tập lịch sử đối với bài nghiên cứu kiến thức mới ở lớp 10 trung học phổ thông.

Chương 2: Vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông – Lý luận và thực tiễn

Chương 2 xây dựng khung lý luận và phân tích thực trạng thực tiễn dạy học:

  • Cơ sở lý luận: Xác định các định nghĩa về hứng thú, hứng thú nhận thức, hứng thú học tập và hứng thú học tập lịch sử; phân tích cấu trúc tâm lý gồm 3 thành tố; làm rõ 3 giai đoạn phát triển, 4 mức độ hứng thú nhận thức và 3 mức độ hứng thú học tập lịch sử; chỉ ra các biểu hiện về kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm, hành động trên lớp/ở nhà và kết quả học tập; làm rõ 6 nhóm yếu tố tác động.
  • Xuất phát điểm sư phạm: Phân tích mục tiêu môn Lịch sử cấp trung học phổ thông theo Luật Giáo dục; đặc trưng nhận thức môn Lịch sử (tính không lặp lại, nhận thức gián tiếp qua sử liệu, tính toàn diện); đặc điểm tâm lý lứa tuổi 15–18 (bắt đầu phát triển tư duy trừu tượng, hình thành định hướng nghề nghiệp nhưng dễ nảy sinh tâm lý phân biệt môn chính – môn phụ); yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực.
  • Cơ sở thực tiễn: Đánh giá thực trạng dạy và học môn Lịch sử tại các trường trung học phổ thông khảo sát, chỉ ra tình trạng học sinh học đối phó, thiếu hứng thú và giáo viên chậm đổi mới phương pháp, còn lạm dụng lối dạy đọc – chép hoặc "dạy chay".

Chương 3: Đổi mới thiết kế nội dung bài học và các hình thức tổ chức dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

Chương này đề xuất các giải pháp mang tính cấu trúc và tổ chức quá trình dạy học:

  • Đổi mới thiết kế nội dung bài học:
    • Lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm của chương trình Lịch sử thế giới lớp 10 chuẩn, tinh giản các chi tiết vụn vặt.
    • Cấu trúc lại nội dung bài học bảo đảm tính logic, làm nổi bật mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện và quy luật phát triển lịch sử.
    • Khai thác các câu chuyện lịch sử, sự kiện văn hóa, thành tựu văn minh và tư liệu nhân vật lịch sử để tăng tính cụ thể, sinh động cho bài học.
  • Đổi mới các hình thức tổ chức dạy học:
    • Đa dạng hóa các hình thức dạy học trên lớp: kết hợp dạy học toàn lớp, dạy học theo nhóm nhỏ và hoạt động độc lập của từng cá nhân.
    • Tổ chức các hoạt động học tập gắn với nhiệm vụ nhận thức: giải quyết bài tập lịch sử, làm việc với nguồn sử liệu văn bản, biểu đồ, bản đồ và tranh ảnh.
    • Kết hợp giờ học nội khóa với các hình thức học tập mở rộng, chuẩn bị bài và sưu tầm tư liệu tại nhà.

Chương 4: Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử bài nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp. Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 cụ thể hóa hệ thống biện pháp sư phạm và tiến hành kiểm chứng thực nghiệm:

  • Hệ thống biện pháp sư phạm cho bài nghiên cứu kiến thức mới:
    • Biện pháp 1: Khởi động bài học bằng cách tạo tình huống có vấn đề hoặc sử dụng tư liệu trực quan, khơi gợi trí tò mò nhận thức ngay từ đầu tiết học.
    • Biện pháp 2: Phối hợp linh hoạt các phương pháp dùng lời sinh động (miêu tả, tường thuật, kể chuyện, giải thích bản chất sự kiện) với ngôn ngữ biểu cảm của giáo viên.
    • Biện pháp 3: Khai thác triệt để hệ thống đồ dùng trực quan (kênh hình trong sách giáo khoa, bản đồ, tranh ảnh lịch sử, hiện vật phục chế) nhằm tạo biểu tượng lịch sử chân xác.
    • Biện pháp 4: Ứng dụng công nghệ thông tin trong trình chiếu tư liệu, video tư liệu và sơ đồ động để mô tả các diễn biến lịch sử phức tạp.
    • Biện pháp 5: Xây dựng hệ thống câu hỏi nhận thức và bài tập lịch sử phân hóa, kích thích tư duy độc lập và tranh luận khoa học của học sinh.
  • Thực nghiệm sư phạm:
    • Tổ chức thực nghiệm từng phần và toàn phần trên các bài học thuộc phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) tại các trường trung học phổ thông ở các tỉnh miền núi và trung du phía Bắc (Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh).
    • So sánh kết quả định lượng giữa các lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) thông qua xử lý thống kê toán học điểm kiểm tra, quan sát thái độ học tập và phân tích định tính mức độ chuyển biến hứng thú của học sinh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về lý luận

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về hứng thú học tập lịch sử trong dạy học trung học phổ thông: xác định định nghĩa, cấu trúc 3 thành tố, 3 giai đoạn phát triển, 4 mức độ nhận thức, 3 mức độ hứng thú học tập môn Lịch sử và 6 nhóm yếu tố tác động.
  • Xác định rõ các tiêu chí biểu hiện cụ thể của hứng thú học tập lịch sử ở học sinh trung học phổ thông trên các mặt: kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm, hành vi học tập (ở lớp, ở nhà) và kết quả học tập.

Đóng góp về thực tiễn

  • Đánh giá thực trạng dạy học lịch sử và thực trạng hứng thú học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 10 tại một số trường trung học phổ thông thuộc các tỉnh phía Bắc.
  • Đề xuất quy trình đổi mới thiết kế nội dung bài học và đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học theo hướng kích thích hoạt động nhận thức của học sinh.
  • Xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể cho dạng bài nghiên cứu kiến thức mới phần Lịch sử thế giới lớp 10 chương trình chuẩn, được kiểm chứng qua thực nghiệm sư phạm thực tế.

Khuyến nghị và giải pháp sư phạm đề xuất

  • Đối với giáo viên: Cần khắc phục lối truyền thụ thụ động "dạy chay", chuyển vai trò chủ động sang học sinh; tích cực chuẩn bị đồ dùng trực quan, ứng dụng công nghệ thông tin; trau dồi ngôn ngữ diễn đạt giàu hình ảnh và thiết kế tình huống có vấn đề trong mỗi bài học.
  • Đối với công tác đào tạo và quản lý: Cung cấp đầy đủ thiết bị, phương tiện dạy học; bồi dưỡng giáo viên về kỹ năng thiết kế bài học tạo hứng thú và đổi mới kiểm tra đánh giá theo hướng phát huy năng lực tư duy.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án chỉ tập trung nghiên cứu và đề xuất biện pháp tạo hứng thú cho dạng bài học nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp; chưa bao quát toàn bộ các dạng bài học khác trong khóa trình (bài ôn tập, sơ kết, làm bài tập lịch sử, giờ học thực địa ngoài nhà trường).
  • Phạm vi thực nghiệm sư phạm giới hạn trong phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn), chưa mở rộng sang chương trình nâng cao và phần Lịch sử Việt Nam lớp 10, cũng như chương trình Lịch sử lớp 11 và lớp 12.
  • Địa bàn khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm chủ yếu tập trung tại một số tỉnh trung du và miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh).

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng nghiên cứu các biện pháp tạo hứng thú học tập cho các dạng bài học lịch sử khác (bài ôn tập, tổng kết, ngoại khóa, tham quan bảo tàng và di tích lịch sử).
  • Nghiên cứu ứng dụng các biện pháp tạo hứng thú cho khóa trình Lịch sử Việt Nam và các khối lớp 11, 12 ở trường trung học phổ thông.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm tại các trường trung học phổ thông ở các khu vực đô thị lớn và các vùng miền khác trên cả nước.

Giá trị tham khảo

  • Đối với giảng viên và sinh viên ngành Sư phạm Lịch sử: Luận án cung cấp tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập học phần Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử tại các trường đại học sư phạm, cao đẳng sư phạm; đặc biệt là khung lý thuyết về hứng thú và kỹ năng thiết kế bài học nghiên cứu kiến thức mới.
  • Đối với giáo viên Lịch sử tại các trường trung học phổ thông: Luận án cung cấp hệ thống biện pháp sư phạm trực tiếp, các gợi ý cụ thể về kỹ thuật đặt câu hỏi nêu vấn đề, khai thác kênh hình, ứng dụng công nghệ thông tin và tổ chức hoạt động học tập cho học sinh lớp 10.
  • Đối với cán bộ quản lý chuyên môn giáo dục: Cung cấp dữ liệu thực tiễn về thực trạng dạy học lịch sử ở các trường trung học phổ thông làm căn cứ chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy và trang bị thiết bị dạy học bộ môn.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa "hứng thú học tập lịch sử" là gì?

Luận án định nghĩa: Hứng thú học tập lịch sử là một thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể.

2. Cấu trúc tâm lý của hứng thú được luận án kế thừa gồm những thành tố nào?

Kế thừa nghiên cứu của N.G. Marôzôva (1976), luận án xác định cấu trúc của hứng thú gồm 3 thành tố có quan hệ chặt chẽ:

  • Có cảm xúc đúng đắn đối với hoạt động;
  • Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc này (niềm vui trong tìm hiểu và nhận thức);
  • Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động (hoạt động tự nó lôi cuốn, không phụ thuộc hoàn toàn vào các nghĩa vụ bên ngoài).

3. Hứng thú học tập lịch sử được phân chia thành những mức độ nào?

Luận án phân chia hứng thú học tập lịch sử thành 3 mức độ:

  • Mức độ 1 (Hứng thú gián tiếp): Bắt nguồn từ yếu tố bên ngoài như giáo viên dạy hay, kể chuyện vui, trình chiếu hình ảnh đẹp, cho điểm cao; không bền vững.
  • Mức độ 2 (Hứng thú trực tiếp): Say mê trực tiếp nội dung tri thức lịch sử (tính mới lạ, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn); mức độ bền vững khá cao.
  • Mức độ 3 (Hứng thú của tư duy): Mức độ cao nhất, học sinh say mê tìm hiểu bản chất và quy luật lịch sử, tự tìm tài liệu, chủ động giải đáp các mâu thuẫn nhận thức; trở thành động lực nội tại thúc đẩy hành động.

4. Những yếu tố nào tác động trực tiếp đến việc tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh?

Luận án xác định 6 yếu tố tác động:

  1. Nội dung bài học lịch sử;
  2. Phương pháp dạy học của giáo viên;
  3. Sức mạnh lời nói, thái độ và phong cách của người thầy;
  4. Việc tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh;
  5. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ dạy học;
  6. Hoàn cảnh, môi trường học tập (gia đình, xã hội và cơ sở vật chất nhà trường).

5. Luận án tiến hành thực nghiệm sư phạm trên đối tượng và địa bàn nào?

Luận án tiến hành thực nghiệm sư phạm từng phần và toàn phần trên đối tượng học sinh lớp 10 (phần Lịch sử thế giới, chương trình chuẩn) tại các trường trung học phổ thông thuộc 7 tỉnh phía Bắc: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên và Quảng Ninh.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hà Giang đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về hứng thú, hứng thú nhận thức và xác lập khái niệm, cấu trúc, biểu hiện cùng các mức độ của hứng thú học tập lịch sử ở trường trung học phổ thông. Trên cơ sở khảo sát thực trạng dạy học bộ môn tại một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc, tác giả đã đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ tập trung vào đổi mới thiết kế nội dung, đa dạng hóa hình thức tổ chức và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học bài nghiên cứu kiến thức mới phần Lịch sử thế giới lớp 10 chương trình chuẩn. Kết quả thực nghiệm sư phạm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp trong việc kích thích tinh thần tự giác, say mê học tập và nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông.