Chương 1 TỔNG QUAN Hứng thú học tập là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu khoa học giáo dục trong và ngoài nước quan tâm. Trong các năm qua, đã xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về hứng thú nói chung, hứng thú học tập nói riêng. Chúng tôi điểm qua một số công trình có thể tiếp cận được trong điều kiện của hệ thống tư liệu ở Việt Nam về tâm lý học, giáo dục học và PPDH lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, vấn đề hứng thú mặc dù chưa hình thành các khái niệm, song đã được phản ánh thông qua truyền thống hiếu học của nhân dân, đặc biệt là của cư dân phương Đông trong đó có Việt Nam.
Truyền thống hiếu học đã được Khổng Tử - nhà giáo dục vĩ đại ở phương Đông đặt ra. Hiếu học là chìa khóa của con người để tìm đường nhận thức. Đây là nền tảng tạo ra truyền thống hiếu học lâu đời của nhân dân ta. Truyền thống hiếu học là thói quen ham thích, coi trọng việc học hành được hình thành lâu đời, được truyền từ đời này sang đời khác.
Biểu hiện của truyền thống hiếu học trước hết là tinh thần ham học hỏi, thích hiểu biết một cách tự nguyện và bền vững. Người hiếu học là người luôn có nhu cầu học tập suốt đời. Bởi sự học như chiếc thang không nấc chót chỉ có thể tiến lên phía trước mà không được phép dừng lại, không được phép quay đầu vì đứng lại hay quay đầu đồng nghĩa với tụt hậu. Quá trình dạy học cần đạt “Học nhi bất yếm, Hối nhân bất quyện” tức là Học không biết chán, dạy người không biết mỏi.
Biểu hiện thứ hai của truyền thống hiếu học là thái độ luôn coi trọng sự học, coi trọng người có học. Vì vậy, Lịch sử dân tộc đã từng biết đến rất nhiều tấm gương hiếu học của các bậc hiền tài, đức cao đạo trọng như: Lý Công Uẩn, Trần Hưng Đạo, Chu Văn An, Mạc Đĩnh Chi, Lương Thế Vinh, Lê Thánh Tông, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Hồ Chí Minh,… Truyền thống này được tiếp bước qua hàng ngàn thế hệ, kích thích nhu cầu học tập không ngừng của nhân dân ta. Những thành công đạt được qua sự nghiệp học tập trở thành yếu tố kích thích người học tiếp tục học để đạt được những thành tựu lớn hơn. Đó chính là khởi đầu cho hứng thú học tập.
Những nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 1. Những nghiên cứu về hứng thú, hứng thú học tập trong Tâm lý học, Giáo dục học Từ những năm đầu thế kỷ XX, các nhà tâm lý học đã có những nghiên cứu về hứng thú: Năm 1911, X. Ananhin đã quan tâm đến khái niệm hứng thú, ông lo ngại việc sử dụng bừa bãi khái niệm hứng thú, đồng thời thấy được tính bất ổn và đa dạng của khái niệm [67, tr. Tuy nhiên, trong những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu hầu như muốn lảng tránh khái niệm này.
Trong những năm 20 của thế kỷ XX, X.Rubinstein đã đưa ra khái niệm về hứng thú, con đường hình thành và vai trò của hứng thú. Ông cho rằng, hứng thú là biểu hiện của ý chí và tình cảm.Strong trong tác phẩm “Change of interest with age” đã đưa ra phương pháp nghiên cứu về hứng thú, nêu nhiều câu hỏi và tiến hành điều tra trên nhiều đối tượng khác nhau, trong đó ông đã chú ý đến lứa tuổi HS. Tác giả cho rằng hứng thú được biểu hiện ra trong xu thế của con người có mong muốn học được một số điều nhất định, thích một vài hoạt động và định hướng tính tích cực nhất định vào những hoạt động đó [116, tr. Tuy nhiên, ông chưa đi sâu phân tích những biểu hiện, tác động của hứng thú đối với hoạt động học tập ở HS.Buhler đã tìm hiểu khái niệm hứng thú trong tác phẩm “Phát triển hứng thú ở trẻ em”.
Ông coi hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực biểu đạt tâm lý, đổi mới tâm lý. Tuy nhiên, ông mới dừng ở khái niệm chung chung về hứng thú, chưa đề cập đến vai trò của giáo dục đối với việc hình thành và phát triển hứng thú. Như vậy, những năm đầu của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu tâm lý học coi hứng thú là thuộc tính có sẵn của con người, gắn liền với cơ sở sinh học và quá trình bộc lộ dần thiên hướng và hứng thú phát triển song song với quá trình lớn lên của con người tức là bẩm sinh đã có và quá trình lớn lên của con người cũng là quá trình bộc lộ dần thiên hướng của họ; hứng thú có nguồn gốc sinh vật; hứng thú được 9 biểu hiện ra như là khuynh hướng lựa chọn của con người, của ý tưởng, ý định con người. Họ coi hứng thú là sự phát triển tự nhiên của con người, chưa chú ý đến sự tác động của giáo dục và hoạt động có ý thức của con người trong quá trình hình thành và phát triển hứng thú.
Một số nhà tâm lý học lại gắn hứng thú với xúc cảm, ý chí, coi đó là động lực của những xúc cảm khác nhau; hay gắn nó với quá trình xúc cảm nhận thức; là thái độ nhận thức của con người với xung quanh, với một mặt nào đó của chính nó và đối với một lĩnh vực nhất định mà con người muốn đi sâu hơn. Bên cạnh đấy, có nhà tâm lý học lại gắn hứng thú với quá trình xúc cảm nhận thức, là thái độ nhận thức của con người với thế giới; hay hứng thú là thuộc tính tích cực hoạt động trí tuệ và tính cảm; hay hứng thú là kết cấu bao gồm nhiều nhu cầu.Ivanôp cho rằng hứng thú là thái độ nhận thức tích cực của con người với thế giới, từ đó đi sâu nghiên cứu về sự phát triển của hứng thú và tầm quan trọng của việc giáo dục hứng thú cho HS trong DH ở các trường trung học.Belaep đã có những nghiên cứu cụ thể hơn về hứng thú. Ông cho rằng, ngoài những đặc trưng chung, khái niệm hứng thú còn có những đặc trưng riêng, có thể chia thành hứng thú của trẻ em với trò chơi, các sự vận động, hứng thú tìm giải đáp câu đố, tìm ra cái mới, cái bí ẩn, hứng thú của người chơi khi giành chiến thắng, hứng thú khi chơi một môn thể thao như chơi cờ, chơi bóng đá, hứng thú biểu diễn, hứng thú đọc truyện. Từ khái niệm hứng thú này, tác giả cũng giải thích và xác định hứng thú của HS với các môn học, hứng thú của nghệ sĩ với biểu diễn, của bác học với khoa học.
Tuy nhiên, Belaep chưa đưa ra những biện pháp để hình thành hứng thú cho học sinh [67, tr. Trong “La Psychologie des interest” (Tâm lý học hứng thú), D.E Super đã xây dựng phương pháp nghiên cứu hứng thú nghề nghiệp ở các đối tượng khác nhau, ông cũng chú ý đến hứng thú của các nhóm HS khác nhau. Super quan niệm: “Hứng thú không phải là thiên hướng, không phải nét tính cách của cá nhân mà đó là cái gì khác, riêng rẽ với thiên hướng, riêng rẽ với tính cách, riêng rẽ với cá nhân” [118, tr.6], tức là hứng thú là thuộc tính tâm lý có tính chất độc lập tương đối với nhân cách và nó có bản chất riêng. 10 Những nhà nghiên cứu L.Bêlachve và các nhà tâm lý học khác cũng đã nghiên cứu về hứng thú, các ông cho rằng khái niệm hứng thú rất rộng rãi, nó bao hàm cả các dạng hoạt động như vui chơi, giải trí, học tập, sản xuất… và cả các trạng thái của con người như say mê công việc, thiên hướng nghề nghiệp, yêu thích một hoạt động cụ thể nào đó cũng là hứng thú.
Các tác giả cũng đề cập đến việc nhiều người còn đồng nhất hứng thú với tính tò mò, ham hiểu biết… Tuy nhiên, các tác giả chưa phân biệt các giai đoạn phát triển của hứng thú. Trong cuốn "Tâm lý học cá nhân" (1971), A. Côvaliôp đã đưa ra khái niệm về hứng thú: “Hứng thú là một thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng nào đó, do ý nghĩa của nó trong đời sống và do sự hấp dẫn về tình cảm của nó” [17, tr. Tác giả coi hứng thú là một thái độ đặc thù của một cá nhân đối với một đối tượng nào đó, trên cơ sở đó đề ra những phương pháp giáo dục tích cực.
Liublinxkaia định nghĩa: “Hứng thú là thái độ nhận thức của con người đối với xung quanh, đối với một mặt nào đó của chính nó, đối với một lĩnh vực nhất định mà trong đó con người muốn đi sâu hơn” [62, tr. Ruđich trong tác phẩm "Tâm lí học" đã đề cập đến khái niệm hứng thú và đặc điểm tiêu biểu của hứng thú. Theo Ruđich “hứng thú là biểu hiện xu hướng đặc biệt của cá nhân nhằm nhận thức những hiện tượng nhất định của cuộc sống xung quanh, đồng thời biểu hiện thiên hướng tương đối cố định của con người đối với các hoạt động nhất định” [79, tr. Tuy nhiên, trong tác phẩm này, Ruđich chỉ phân tích vai trò của hứng thú trong vận động.
Trong cuốn "Từ hứng thú đến tài năng" (năm 1975), L. Xlôvaytrich đã nghiên cứu một cách cụ thể về hứng thú và cho rằng đây là cơ sở của sự phát triển nhân cách cũng như tài năng của HS. Bên cạnh nghiên cứu về hứng thú, các nhà tâm lý học còn đi sâu nghiên cứu về hứng thú nhận thức. Lepkôp đã nghiên cứu về hứng thú nhận thức và viết tác phẩm “Sự hình thành hứng thú nhận thức cho học sinh trong quá trình tiến hành các bài tập nghiên cứu về địa phương”.
Tác giả cho rằng, tiến hành các bài tập nói chung và bài tập nghiên cứu về địa phương nói riêng sẽ góp phần hình thành hứng thú nhận thức cho HS. Daparôgiet trong “Tâm lý học” cũng đã nghiên cứu về hứng thú nói chung và hứng thú nhận thức nói riêng. Ông quan niệm “hứng thú là khuynh hướng chú ý tới đối tượng nhất định, là nguyện vọng tìm hiểu chúng một cách càng tỉ mỉ càng hay” [21, tr.Marôzôva trong “Hứng thú nhận thức” (1976) đã cho rằng: Hứng thú là khuynh hướng lựa chọn, khuynh hướng chú ý của con người; là khuynh hướng tác động một cách có hiểu biết, có ý thức đối với khách thể mà con người định hướng vào đó; hay hứng thú là khuynh hướng ưu tiên chú ý vào một khách thể nào đó [67, tr. Đồng thời, tác giả đã nêu cấu trúc tâm lý của hứng thú, những điều kiện và khả năng giáo dục hứng thú cho HS trong quá trình học tập, tác dụng của DH nêu vấn đề đối với hứng thú nhận thức của HS.