Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông (Thực nghiệm phần Lịch sử Thế giới lớp 10 – chương trình chuẩn)" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hà Giang thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Thị Côi và PGS. Đỗ Hồng Thái, thuộc chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.

Về tính cấp thiết, tác giả phân tích bối cảnh hội nhập quốc tế của Việt Nam đòi hỏi phải đổi mới giáo dục, xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu. Trong hệ thống giáo dục phổ thông, bộ môn Lịch sử giữ vai trò cung cấp tri thức về lịch sử dân tộc và thế giới, mở rộng tầm nhìn quá khứ – hiện tại – tương lai, qua đó hình thành nhân cách và trách nhiệm công dân. Tuy nhiên, thực trạng dạy học lịch sử tại các trường trung học phổ thông (THPT) bộc lộ nhiều hạn chế: bộ môn bị xem nhẹ, coi là "môn phụ"; học sinh phần lớn học theo kiểu đối phó, thiếu hứng thú với lý do kiến thức dài, khó nhớ và quá nhiều sự kiện. Tác giả chỉ rõ nguyên nhân cốt lõi không nằm ở bản thân môn học mà xuất phát từ nhận thức, phương pháp dạy học của giáo viên (chủ yếu truyền thụ một chiều, "dạy chay", thiếu hấp dẫn), sự nghèo nàn về thiết bị, đồ dùng dạy học và tác động của bệnh thành tích. Do đó, việc nghiên cứu các giải pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh là yêu cầu cấp bách nhằm đáp ứng các định hướng đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước.

Mục đích nghiên cứu của luận án là khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc tạo hứng thú trong học tập lịch sử; xác định các biểu hiện và yếu tố tác động đến hứng thú học tập lịch sử của học sinh; từ đó đề xuất các biện pháp sư phạm về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường THPT.

Luận án thực hiện 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu lý luận về Tâm lý học, Giáo dục học, Giáo dục lịch sử về vấn đề hứng thú và tạo hứng thú học tập cho học sinh.
  2. Tìm hiểu thực tiễn dạy học lịch sử về vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh thông qua phiếu khảo sát, trao đổi, dự giờ.
  3. Tìm hiểu nội dung chương trình, sách giáo khoa Lịch sử ở trường THPT, trong đó tập trung vào phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn).
  4. Đề xuất phương hướng đổi mới thiết kế nội dung bài học, các hình thức tổ chức dạy học lịch sử và những biện pháp sư phạm phù hợp nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh khi tiến hành bài học lịch sử nội khóa ở trên lớp.
  5. Thực nghiệm sư phạm từng phần, toàn phần để kiểm chứng các biện pháp sư phạm, từ đó rút ra kết luận về tính khả thi của các biện pháp sư phạm đã đề ra.

Giả thuyết khoa học của đề tài được xác định: Nếu thực hiện tốt các biện pháp sư phạm nhằm tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh theo những yêu cầu mà luận án đưa ra sẽ góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông, đáp ứng được những đòi hỏi của sự nghiệp giáo dục hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là quá trình tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử (thực nghiệm phần Lịch sử thế giới lớp 10 – THPT). Phạm vi nghiên cứu tập trung đề xuất các biện pháp sư phạm về nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp tiến hành bài học nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp đối với chương trình chuẩn Lịch sử thế giới lớp 10. Địa bàn điều tra thực tế và thực nghiệm sư phạm được tiến hành tại một số trường THPT thuộc các tỉnh: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên và Quảng Ninh.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến vấn đề hứng thú học tập theo các nhóm lĩnh vực:

Nhóm nghiên cứu quốc tế về Tâm lý học và Giáo dục học:

  • Khởi đầu thế kỷ XX: X. Ananhin (1911) xem xét tính bất ổn và đa dạng của khái niệm hứng thú; X. Rubinstein (thập niên 1920) xác định hứng thú là biểu hiện của ý chí và tình cảm; E.K. Strong trong "Change of interest with age" đưa ra phương pháp điều tra xu thế mong muốn học tập ở học sinh; K. Buhler trong "Phát triển hứng thú ở trẻ em" xem hứng thú là nguồn gốc tinh thần của tính tích cực biểu đạt tâm lý.
  • Giai đoạn phát triển lý thuyết: Ivanôp nghiên cứu hứng thú như thái độ nhận thức tích cực với thế giới; Belaep phân loại các dạng hứng thú hoạt động và hứng thú môn học; D.E. Super trong "La Psychologie des interest" xác định hứng thú là thuộc tính tâm lý độc lập tương đối với nhân cách; L. Bêlachve cùng các cộng sự mở rộng phạm vi khái niệm sang các dạng hoạt động giải trí, học tập, sản xuất; A. Côvaliôp trong "Tâm lý học cá nhân" (1971) xem hứng thú là thái độ đặc thù của cá nhân đối với đối tượng; Liublinxkaia định nghĩa hứng thú qua thái độ nhận thức muốn đi sâu vào một lĩnh vực; Ruđich trong "Tâm lí học" phân tích hứng thú như thiên hướng hoạt động cố định; L. Xlôvaytrich trong "Từ hứng thú đến tài năng" (1975) coi hứng thú là cơ sở phát triển nhân cách.
  • Nghiên cứu về hứng thú nhận thức: Lepkôp khảo sát hứng thú nhận thức qua bài tập nghiên cứu địa phương; Daparôgiet xác định hứng thú là khuynh hướng chú ý tỉ mỉ; N.G. Marôzôva trong "Hứng thú nhận thức" (1976) phân tích cấu trúc tâm lý gồm 3 thành tố của hứng thú; K. Secnưsepxky chỉ ra mối liên hệ giữa việc không có hứng thú với sự giảm sút chất lượng lĩnh hội tri thức; Sacđacốp trong "Tư duy của học sinh" nhấn mạnh hứng thú là điều kiện bên trong của tư duy; B.Êxipôp trong "Những cơ sở của lý luận dạy học" (1971) nêu bật vai trò của phương pháp dạy học trong việc kích thích hứng thú; G.I. Sukina trong "Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục" xác định nguồn gốc cơ bản của hứng thú nằm ở nội dung tài liệu và hoạt động học tập; Tơrêphilốp đề xuất 15 biện pháp gây hứng thú trong "Gây hứng thú toán học cho học sinh như thế nào?"; I. Khalamôp trong "Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào" (1979) xem hứng thú là nhu cầu mang màu sắc xúc cảm; V.A. Cruchetxky chỉ ra mối quan hệ giữa dạy học nêu vấn đề và hứng thú trong "Những cơ sở của Tâm lý học Sư phạm".
  • Các nghiên cứu đương đại: C. Charles Linnell (2004) với "Technology and children"; Bram-Tsabari, J.Ricky Sethi, Lynn Bry, Anat Yarden (2006) trong "Science Education"; Margareta Sandstrom Kjellin, Mats Granlund (2006) nghiên cứu mức độ hấp dẫn của hoạt động lớp học; Judith M. Durik (2007) khảo sát sự phân hóa hứng thú học tập môn toán; Geoffrey Petty trong "Dạy học ngày nay" trình bày các giải pháp nâng cao động cơ học tập.

Nhóm nghiên cứu quốc tế về Giáo dục Lịch sử:

  • N. Đairi trong "Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào?" khẳng định ý nghĩa của sự thi đua khám phá cái mới; N.G. Vaghin trong "Phương pháp dạy học lịch sử ở trường phổ thông" chỉ ra vai trò của sách giáo khoa và tư liệu lịch sử; giáo trình Học viện Sư phạm cao cấp (Trung Quốc) bàn về phương pháp dạy học lịch sử; tài liệu "Phương pháp dạy học lịch sử qua sơ đồ, biểu đồ, tư liệu viết tay" phân tích 3 yếu tố ảnh hưởng đến sự say mê học tập lịch sử gồm nội dung tài liệu, phương pháp/phương tiện tiếp thu và mối quan hệ thầy - trò.

Nhóm nghiên cứu trong nước về Tâm lý học và Giáo dục học:

  • Các công trình của Đức Minh (1975), giáo trình tâm lý học trẻ em (1975), Phạm Minh Hạc (1989), Lê Thị Bừng, Nguyễn Khắc Viện (1991), Nguyễn Quang Uẩn và Trần Trọng Thủy (2003); các giáo trình giáo dục học của Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt (1987), Trần Thị Tuyết Oanh, Phạm Viết Vượng (2008); các tài liệu phương pháp của Lê Nguyên Long (2002), Nguyễn Nhật Phong, Thái Duy Tuyên (1999, 2010), Phan Trọng Ngọ (2005), Hà Vỹ, Trần Bảo, Lê Văn Phúc, Phạm Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thị Thu Cúc (2003, 2008), Nguyễn Thanh Bình, Imkock, Phạm Thị Ngạn, Nguyễn Phùng Khánh, Võ Đại Nam Anh, Trần Cảnh Thắng, Đinh Thị Sen; các bài viết trên Tạp chí Giáo dục của Đỗ Tiến Sỹ (2001), Ngô Đình Qua (2002), Trần Bá Hoành (2002), Nguyễn Thành Kỉnh (2009).

Nhóm nghiên cứu trong nước về Giáo dục Lịch sử:

  • Hệ thống giáo trình phương pháp dạy học lịch sử của các tác giả Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị, Nguyễn Cao Lũy, Nguyễn Tiến Cường, Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi (các năm 1978, 1992, 2002, 2009); cuốn "Kinh nghiệm giảng dạy theo chủ đề gây hứng thú học tập lịch sử..."; "Một số chuyên đề phương pháp dạy học lịch sử" (2002); công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Côi (bàn về các con đường nâng cao hiệu quả bài học lịch sử), Trịnh Đình Tùng - Phan Ngọc Liên (về tính tích cực học tập), Đặng Văn Hồ - Trần Quốc Tuấn (2005, về bài tập lịch sử).
  • Các luận văn của Đặng Thị Yên, Nguyễn Thị Thơm, Nguyễn Thị Thùy Dung, Nguyễn Thị Xuân Thảo, Nguyễn Tiểu Thúy, Nguyễn Thị Thủy; các bài báo chuyên ngành của Trần Đức Minh (2005), Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Hoài Sanh (2011), Trần Quốc Tuấn - Nguyễn Văn Phúc, Phạm Đình Kha - Lương Hữu Nga.

Vị trí và khoảng trống nghiên cứu của luận án: Mặc dù các công trình trước đã làm sáng tỏ nhiều khía cạnh lý luận chung về hứng thú nhận thức và phương pháp dạy học bộ môn, nhưng trong chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử chưa có công trình nào đi sâu giải quyết một cách toàn diện từ hệ thống khái niệm, các biểu hiện, các mức độ, các nội dung lịch sử đặc thù có khả năng gây hứng thú, cho đến việc xây dựng hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể trong thiết kế bài học nghiên cứu kiến thức mới trên lớp ở cấp THPT (áp dụng thực nghiệm cho phần Lịch sử thế giới lớp 10 chương trình chuẩn). Luận án được triển khai nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và hệ thống khái niệm

Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức và giáo dục, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục (Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII), quy định của Luật Giáo dục (sửa đổi năm 2009, hiệu lực 2010) và Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (Quyết định số 711/QĐ-TTg).

Hệ thống khái niệm và khung phân tích được tác giả xác lập bao gồm:

  • Hứng thú: Là thái độ lựa chọn đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó khi hiểu được ý nghĩa, tác dụng của đối tượng đó đối với cuộc sống và mang lại khoái cảm cho bản thân.
  • Hứng thú học tập lịch sử: Là thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể.
  • Tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh: Là làm cho học sinh có thái độ say mê, tích cực với nội dung lịch sử cụ thể và duy trì niềm say mê, tích cực ấy nhằm biến thành hứng thú bên trong.

Cấu trúc tâm lý của hứng thú được xác định gồm 3 thành tố:

  1. Có cảm xúc đúng đắn đối với hoạt động.
  2. Có khía cạnh nhận thức của cảm xúc (niềm vui trong tìm hiểu và nhận thức).
  3. Có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động.

Quá trình phát triển của hứng thú trải qua 3 giai đoạn:

  • Giai đoạn 1 (Rung động định kỳ): Học sinh tiếp nhận các kích thích bên ngoài (câu chuyện, miêu tả, đồ dùng trực quan), tạo sự chú ý ban đầu nhưng chưa bền vững.
  • Giai đoạn 2 (Thái độ nhận thức xúc cảm tích cực đối với đối tượng): Rung động lặp lại, hình thành các câu hỏi nhận thức và nhu cầu tìm kiếm lời giải đáp.
  • Giai đoạn 3 (Hứng thú trở thành xu hướng của cá nhân): Ý thức tìm tòi duy trì thường xuyên, trở thành nét tính cách và định hướng hành động bền vững.

Các mức độ của hứng thú nhận thức và hứng thú học tập lịch sử được luận án đối chiếu cụ thể:

Phân loại mức độ Hứng thú nhận thức chung Hứng thú học tập lịch sử
Mức độ 1 Sự tò mò, ham hiểu biết ban đầu mang tính cảm tính. Hứng thú gián tiếp (phụ thuộc vào thầy cô dạy hay, kể chuyện, trình chiếu, cho điểm cao; dễ mất đi).
Mức độ 2 Rung động nhận thức có tính chất tình huống cụ thể. Hứng thú trực tiếp với nội dung tri thức lịch sử (yêu thích kiến thức mới lạ, súc tích; tương đối bền vững).
Mức độ 3 Hứng thú mang tính xúc cảm – nhận thức gắn với thành công học tập. Hứng thú của tư duy (mức cao nhất: tự giác tìm tài liệu, say mê giải quyết thắc mắc, biến thành động lực chiếm lĩnh tri thức).
Mức độ 4 Hứng thú thực sự hình thành bền vững, chi phối xu hướng nghề nghiệp. (Tương ứng giai đoạn phát triển cao nhất ở năm cuối phổ thông).

Các yếu tố tạo nên hứng thú học tập lịch sử của học sinh gồm 6 yếu tố:

  1. Nội dung bài học (tính toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội; tính logic nhân quả của chuỗi sự kiện).
  2. Phương pháp dạy học của giáo viên (kết hợp đồ dùng trực quan, phương pháp dùng lời, nêu vấn đề, thảo luận).
  3. Lời nói, thái độ và phong cách của giáo viên (ngôn ngữ giàu hình ảnh, biểu cảm, thái độ gần gũi, tâm huyết).
  4. Tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh (đa dạng hóa hình thức hoạt động cá nhân, nhóm, tổ).
  5. Phương tiện, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ dạy học (kênh hình, đồ dùng trực quan, công nghệ thông tin).
  6. Hoàn cảnh, môi trường học tập (nhận thức của gia đình, xã hội, điều kiện cơ sở vật chất nhà trường).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

Luận án phối hợp các phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu tâm lý học, giáo dục học, lý luận dạy học bộ môn, chương trình và sách giáo khoa Lịch sử lớp 10 THPT.
  • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng dạy học lịch sử thông qua phiếu khảo sát giáo viên, cán bộ quản lý chuyên môn và học sinh lớp 10; dự giờ quan sát hoạt động dạy học; trao đổi chuyên môn; khảo sát hồ sơ học tập (sổ điểm, bài kiểm tra miệng, kiểm tra viết, trắc nghiệm khách quan).
  • Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án và tiến hành dạy thực nghiệm từng phần, toàn phần trên các lớp đối chứng và thực nghiệm tại các trường THPT ở các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh.
  • Phương pháp thống kê toán học: Xử lý, phân tích định lượng số liệu điều tra và kết quả thực nghiệm để đối chiếu, kiểm chứng giả thuyết.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày bức tranh tổng thể về lịch sử nghiên cứu vấn đề hứng thú và hứng thú học tập từ thời cổ đại (truyền thống hiếu học phương Đông) qua các giai đoạn phát triển của tâm lý học, giáo dục học thế giới thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI. Tác giả tổng thuật chi tiết các quan điểm lý thuyết của các học giả Liên Xô (trước đây), các nghiên cứu thực nghiệm tại Anh, Mỹ và các công trình nghiên cứu giáo dục học, giáo dục lịch sử tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích những thành tựu đã đạt được và những điểm còn bỏ ngỏ, chương 1 khẳng định tính cần thiết của việc xây dựng hệ thống lý luận và biện pháp sư phạm chuyên biệt nhằm tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh THPT.

Chương 2: Vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông – Lý luận và thực tiễn

Chương 2 làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cốt lõi và khảo sát thực trạng thực tế:

  • Về lý luận: Xác định bản chất tâm lý của hứng thú học tập lịch sử; phân tích cấu trúc 3 thành tố, 3 giai đoạn phát triển, 4 mức độ nhận thức và 3 mức độ hứng thú môn học; chỉ rõ 6 nhóm yếu tố chi phối hứng thú học tập. Đồng thời, chương này phân tích mục tiêu giáo dục lịch sử cấp THPT (chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ), đặc trưng nhận thức lịch sử (tính không lặp lại nguyên vẹn, nhận thức gián tiếp qua sự kiện – biểu tượng – khái niệm) và đặc điểm tâm lý lứa tuổi 15–18 (giai đoạn phát triển tư duy trừu tượng, hình thành xu hướng nghề nghiệp nhưng dễ nảy sinh tâm lý phân biệt môn chính – môn phụ). Phân tích các văn kiện đổi mới phương pháp dạy học của Đảng, Luật Giáo dục và Chiến lược phát triển giáo dục.
  • Về thực tiễn: Trình bày kết quả điều tra, dự giờ, khảo sát bằng phiếu hỏi đối với giáo viên, cán bộ quản lý và học sinh lớp 10 tại các trường THPT địa bàn nghiên cứu; phân tích nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh giảm sút hứng thú đối với môn Lịch sử (do quan niệm môn phụ, phương pháp truyền thụ một chiều, đồ dùng trực quan nghèo nàn).

Chương 3: Đổi mới thiết kế nội dung bài học và các hình thức tổ chức dạy học nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh

Chương 3 tập trung giải quyết phương hướng đổi mới thiết kế cấu trúc nội dung và đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học:

  • Đổi mới thiết kế nội dung: Lựa chọn kiến thức cơ bản, trọng tâm; tinh giản các chi tiết vụn vặt; tái hiện sự kiện lịch sử thông qua việc xây dựng bức tranh quá khứ sinh động; kết hợp liên hệ thực tiễn và kiến thức liên môn; thiết lập chuỗi quan hệ nhân quả logic giữa các sự kiện lịch sử thế giới lớp 10.
  • Đa dạng hóa hình thức tổ chức: Đổi mới hình thức học tập trên lớp, kết hợp dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm/tổ; tổ chức các hoạt động thảo luận, giải quyết tình huống có vấn đề; phối hợp hài hòa giữa hoạt động nội khóa và các hình thức định hướng tự học ở nhà.

Chương 4: Một số biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học lịch sử bài nghiên cứu kiến thức mới ở trên lớp. Thực nghiệm sư phạm

Chương 4 đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm cụ thể và kiểm chứng qua thực nghiệm:

  • Các biện pháp sư phạm: Ứng dụng công nghệ thông tin và phương tiện trực quan (tranh ảnh, bản đồ động, tư liệu viết); sử dụng phương pháp dùng lời giàu tính biểu cảm kết hợp kể chuyện nhân vật lịch sử; xây dựng hệ thống câu hỏi nêu vấn đề kích thích tư duy độc lập; tổ chức trò chơi học tập và bài tập lịch sử.
  • Quá trình thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm từng phần và toàn phần đối với các bài học thuộc phần Lịch sử thế giới lớp 10 (chương trình chuẩn) tại các trường THPT thuộc các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Tuyên Quang, Hà Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh.
  • Kết quả thực nghiệm: Sử dụng thống kê toán học để xử lý các bảng điểm kiểm tra, đánh giá mức độ tiếp thu, biểu hiện thái độ và sự chuyển biến về hứng thú của học sinh giữa lớp thực nghiệm và lớp đối chứng, khẳng định tính hiệu quả và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án hệ thống hóa và làm phong phú thêm lý luận chuyên ngành Phương pháp dạy học Lịch sử:

  • Xác định rõ khái niệm hứng thú học tập lịch sử và hành động tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh THPT.
  • Phân tích có hệ thống cấu trúc 3 thành tố, 3 giai đoạn hình thành, 4 mức độ nhận thức, 3 mức độ hứng thú học tập lịch sử và các biểu hiện cụ thể (về kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm, hành động trên lớp/ở nhà và kết quả học tập).
  • Làm rõ 6 nhóm yếu tố tác động trực tiếp đến hứng thú học tập lịch sử ở trường phổ thông.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các đóng góp:

  • Đánh giá khách quan thực trạng dạy học lịch sử và thực trạng hứng thú học tập môn Lịch sử của học sinh lớp 10 THPT tại một số tỉnh phía Bắc.
  • Đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ bao gồm đổi mới thiết kế nội dung bài học, đa dạng hóa hình thức tổ chức dạy học và các kỹ thuật sư phạm chuyên sâu cho bài học nghiên cứu kiến thức mới trên lớp (phần Lịch sử thế giới lớp 10 – chương trình chuẩn).
  • Kiểm chứng tính khả thi của các biện pháp thông qua kết quả thực nghiệm sư phạm thực tế được xử lý bằng phương pháp thống kê toán học.

Về kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đối với giáo viên: Cần chuyển dịch từ lối dạy truyền thống truyền thụ một chiều sang vai trò người hướng dẫn, tổ chức các hoạt động nhận thức; tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, đồ dùng trực quan và phương pháp dạy học nêu vấn đề; chuẩn bị ngôn ngữ giảng dạy biểu cảm, chính xác.
  • Đối với nhà trường và ngành giáo dục: Cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học bộ môn Lịch sử; khắc phục định kiến môn chính – môn phụ và tình trạng bệnh thành tích trong đánh giá chất lượng học tập.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế:

  • Luận án giới hạn phạm vi đề xuất giải pháp và thực nghiệm sư phạm ở dạng bài học nghiên cứu kiến thức mới trên lớp, chưa bao quát toàn diện các dạng bài khác như bài ôn tập, sơ kết, làm bài tập lịch sử hay các hoạt động tham quan, ngoại khóa ngoài nhà trường.
  • Nội dung thực nghiệm tập trung vào phần Lịch sử thế giới lớp 10 theo chương trình chuẩn, chưa triển khai thực nghiệm đối với chương trình nâng cao và phần Lịch sử Việt Nam.
  • Địa bàn khảo sát thực tế và thực nghiệm sư phạm tập trung chủ yếu tại một số tỉnh trung du, miền núi phía Bắc (Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên, Quảng Ninh), chưa mở rộng sang các khu vực đô thị lớn hoặc các vùng miền khác trên cả nước.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu các biện pháp tạo hứng thú sang khóa trình Lịch sử Việt Nam cấp THPT và các khối lớp 11, 12.
  • Nghiên cứu áp dụng các biện pháp tạo hứng thú trong các hình thức dạy học đa dạng khác như dạy học thực địa, tham quan di tích lịch sử, bảo tàng và hoạt động ngoại khóa.
  • Triển khai mở rộng phạm vi thực nghiệm sư phạm trên địa bàn các trường THPT thuộc các vùng kinh tế – xã hội khác nhau.

Giá trị tham khảo

Luận án có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Cung cấp cơ sở lý luận về hứng thú học tập bộ môn, khung phân tích các giai đoạn, mức độ phát triển hứng thú và tổng quan tài liệu chuyên ngành Lý luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.
  • Giảng viên và sinh viên các trường Đại học Sư phạm, Cao đẳng Sư phạm: Sử dụng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập học phần Phương pháp dạy học Lịch sử, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thiết kế bài giảng.
  • Giáo viên Lịch sử trường THPT: Cung cấp các biện pháp sư phạm, quy trình thiết kế giáo án và kỹ thuật tổ chức bài học nghiên cứu kiến thức mới trên lớp nhằm tạo hứng thú học tập và nâng cao chất lượng dạy học phần Lịch sử thế giới lớp 10.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa thế nào về hứng thú học tập lịch sử và tạo hứng thú học tập lịch sử? Luận án định nghĩa: Hứng thú học tập lịch sử là một thái độ say mê tự giác tích cực đặc biệt của cá nhân đối với nội dung lịch sử cụ thể. Tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh là làm cho học sinh có thái độ say mê, tích cực với nội dung lịch sử cụ thể và duy trì niềm say mê, tích cực ấy biến thành hứng thú bên trong.

2. Cấu trúc tâm lý và các giai đoạn phát triển của hứng thú được xác định ra sao trong luận án? Cấu trúc hứng thú gồm 3 thành tố: có cảm xúc đúng đắn đối với hoạt động; có khía cạnh nhận thức của cảm xúc (niềm vui nhận thức); có động cơ trực tiếp xuất phát từ bản thân hoạt động. Hứng thú phát triển qua 3 giai đoạn: Giai đoạn 1 là rung động định kỳ; Giai đoạn 2 là thái độ nhận thức xúc cảm tích cực đối với đối tượng; Giai đoạn 3 là hứng thú trở thành xu hướng của cá nhân.

3. Hứng thú học tập lịch sử của học sinh THPT được chia thành các mức độ nào? Được chia thành 3 mức độ:

  • Mức độ 1: Hứng thú gián tiếp (phụ thuộc vào việc thầy cô dạy hay, kể chuyện, trình chiếu kênh hình, cho điểm cao; không bền vững).
  • Mức độ 2: Hứng thú trực tiếp với nội dung tri thức lịch sử (nội dung mới lạ, ngắn gọn, súc tích, hấp dẫn; khá bền vững).
  • Mức độ 3: Hứng thú của tư duy (mức cao nhất: học sinh tự giác tìm tài liệu, giải quyết thắc mắc, say mê chiếm lĩnh tri thức khoa học).

4. Những yếu tố nào tác động trực tiếp đến việc tạo hứng thú học tập lịch sử cho học sinh THPT? Có 6 nhóm yếu tố: nội dung bài học; phương pháp dạy học của giáo viên; lời nói, thái độ và phong cách của giáo viên; hình thức tổ chức hoạt động học tập cho học sinh; phương tiện, thiết bị kỹ thuật hỗ trợ dạy học; hoàn cảnh và môi trường học tập (gia đình, nhà trường, xã hội).

5. Địa bàn khảo sát thực tiễn và thực nghiệm sư phạm của đề tài được triển khai ở đâu? Được tiến hành tại một số trường trung học phổ thông thuộc các tỉnh: Thái Nguyên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, Sơn La, Điện Biên và Quảng Ninh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Hà Giang đã giải quyết toàn diện vấn đề tạo hứng thú học tập cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường THPT trên cả bình diện lý luận và thực tiễn. Tác giả đã xác lập hệ thống khái niệm, cấu trúc, mức độ và các yếu tố chi phối hứng thú học tập môn Lịch sử, đồng thời đánh giá sát thực trạng dạy học bộ môn tại các trường THPT. Kết quả nghiên cứu đề xuất hệ thống biện pháp sư phạm đồng bộ về đổi mới nội dung, hình thức tổ chức và phương pháp tiến hành bài học nghiên cứu kiến thức mới (phần Lịch sử thế giới lớp 10 chuẩn), được kiểm chứng tính khả thi qua thực nghiệm sư phạm tại các tỉnh phía Bắc. Công trình là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho công tác đào tạo giáo viên và giảng dạy lịch sử ở bậc học phổ thông.