CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ ĐỘNG LỰC, TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG 1. Nhu cầu của con người a. Khái niệm nhu cầu Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung, là nguồn thôi thúc nội tại của hành động.
Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần cần được đáp ứng và thỏa mãn. Nhu cầu chưa được thỏa mãn tạo ra sự căng thẳng, từ đó tạo ra các áp lực hoặc động cơ thúc đẩy trong các cá nhân. Những áp lực này tạo ra việc tìm kiếm các hành vi để tìm đến những mục tiêu cụ thể mà nếu đạt được thì sẽ làm giảm sự căng thẳng [2, tr 117]. Phân loại nhu cầu Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng.
Nhu cầu và sự thỏa mãn của nhu cầu đều gắn liền với nền sản xuất xã hội và sự phân phối các giá trị vật chất và tinh thần trong xã hội đó. Dù ở dạng nào thì nhu cầu của người lao động cũng gồm hai nhu cầu chính: Nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Nhu cầu vật chất : là nhu cầu tổng hợp về các yếu tố vật chất cần thiết để con người tồn tại và phát triển trong một điều kiện môi trường nhất định. Nói cách khác, để tồn tại được, con người cần thiết phải có các yếu tố vật chất.
Các yếu tố này có thể là có sẵn trong thiên nhiên như ánh sáng, không khí, nước uống, tài nguyên khoáng sản… hay các yếu tố do con người tạo ra thông Luan van 6 qua quá trình lao động của mình. Nhu cầu tinh thần: là những yếu tố làm thoả mãn về mặt tâm lý, tạo những điều kiện để con người phát triển về mặt trí lực. Nhu cầu tinh thần bao gồm các loại như: Nhu cầu được lao động, học tập, thẩm mỹ và giao tiếp xã hội, công bằng xã hội. Nhu cầu của con người ngày càng thay đổi, càng ngày càng đa dạng và phong phú.
Khi nhu cầu vật chất được thỏa mãn thì lại làm nảy sinh nhu cầu tinh thần cao hơn. Việc thoả mãn nhu cầu vật chất thì dễ hơn nhiều so với thoả mãn nhu cầu tinh thần. Tuy nhiên, khi nhu cầu tinh thần được thỏa mãn thì có tác dụng thúc đẩy kích thích quá trình sản xuất phát triển, do đó, có điều kiện nâng cao mức độ thoả mãn về nhu cầu vật chất .Nhu cầu vật chất và tinh thần luôn có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, trong quản lý lao động không được xem nhẹ nhu cầu nào mà phải biết kết hợp một cách hài hoà đan xen để kích thích người lao động làm việc hăng hái, tích cực đem lại hiệu quả lao động cao.
Động cơ của con người a. Khái niệm “Động cơ ám chỉ những nổ lực cả bên trong lẫn bên ngoài của một con người có tác dụng khơi dậy lòng nhiệt tình và sự kiên trì theo đuổi một cách thức hành động đã xác định” [1, tr. Động cơ là sự phấn đấu nội tâm: được mô tả như những ước muốn, mong muốn mang đến trạng thái kích thích làm việc hay thúc đẩy các hành động lao động. Một người có động cơ làm việc tích cực sẽ duy trì được tốc độ làm việc, nỗ lực, kiên trì phấn đấu để đạt được mục đích dự định của mình.
Động cơ là động lực thúc đẩy con người hoạt động nhằm đáp ứng các nhu cầu đặt ra thỏa mãn lợi ích mong muốn: Động cơ kéo theo sự nỗ lực kiên trì phấn đấu để đạt được mục đích: động cơ càng lớn, càng thôi thúc con Luan van 7 người hành động vươn lên đạt mục tiêu hay lợi ích cụ thể để thoả mãn nhu cầu cá nhân. Để khai thác được tiềm năng con người, các nhà quản lý phải xác định được động cơ và tìm cách thoả mãn những động cơ ấy càng nhiều, càng tốt. Phân loại động cơ Động cơ cảm tính: động cơ gắn liền với trạng thái hứng thú lao động. Động cơ lý tính: là biểu hiện của sự nhận thức rõ ràng mục tiêu cụ thể.
Khái niệm động lực của người lao động a. Khái niệm “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nổ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nổ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. Bản chất của động lực lao động Động lực lao động luôn gắn liền với một công việc cụ thể, một tổ chức, một môi trường làm việc cụ thể, không tồn tại động lực chung chung không gắn với một công việc cụ thể nào.
Như vậy phải hiểu rõ về công việc và môi trường làm việc thì mới có thể đưa ra biện pháp tạo động lực cho người lao động Động lực lao động luôn mang tính tự nguyện. Nếu bị ép buộc hoặc làm việc một cách bị động chắc chắn kết quả công việc sẽ kém và chất lượng công việc sẽ không cao. Vì vậy nhà quản lý phải có nghệ thuật để tăng cường tính tự giác, tự nguyện của người lao động để tạo ra động lực lao động nhằm thu được kết quả thực hiện công việc thật tốt và có khi ngoài mong đợi Đông lực lao động không phải là đặc tính cá nhân. Con người khi sinh ra không ai đã có sẵn tính cách này, nó cũng không phải là cái cố hữu mà thường xuyên thay đổi.
Tuỳ từng giai đoạn mà mỗi người có thể có động lực lao động rất cao hoặc động lực chưa chắc đã tồn tại. Luan van 8 Trong trường hợp các nhân tố khác không thay đổi, động lực lao động sẽ dẫn tới năng suất hiệu quả cao hơn. Nhưng động lực chỉ là nguồn gốc chứ không phải nhân tố tất yếu dẫn tới tăng năng suất lao động cá nhân và hiệu quả công việc vì điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ, tay nghề, phương tiện lao động. Người lao động có trình độ, tay nghề, có nghĩa vụ phải làm nên vẫn hoàn thành công việc của mình nhưng kết quả công việc không phản ánh hết được năng lực của họ và những người này thường có xu hướng ra khỏi tổ chức.
Mối quan hệ giữa động cơ và động lực lao động a. Phân biệt động cơ và động lực * Giống nhau Động lực lao động và động cơ lao động đều xuất phát từ bên trong bản thân người lao động và chịu sự tác động mang tính chất quyết định từ phía bản thân người lao động. Động cơ và động lực lao động mang tính trìu tượng, đều là những cái không nhìn thấy được mà chỉ thấy được thông qua quan sát hành vi của người lao động rồi phỏng đoán * Khác nhau Động cơ lao động Động lực lao động - Chịu sự tác động lớn từ phía bản - Chịu sự tác động lớn từ bản thân thân người lao động, gia đình và người lao động và môi trường tổ chức môi trường xã hội xung quanh nơi người lao động làm việc - Động cơ lao động nói tới sự - Động lực lao động nói tới sự biến đổi phong phú đa dạng, cùng một lúc về mức độ: cao hay thấp, có hay không có thể tồn tại nhiều động cơ - Trả lời cho câu hỏi: “Vì sao người - Trả lời cho câu hỏi: “ Vì đâu mà lao động làm việc” người lao động làm việc cho tổ chức có hiệu quả đến vậy Luan van 9 Các tổ chức và doanh nghiệp hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Điều họ quan tâm là làm sao để những chi phí mình bỏ ra có thể mang lại hiệu quả lớn nhất.
Người lao động là tài nguyên của tổ chức đồng thời là một yếu tố rất lớn cấu thành nên chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên họ sẽ quan tâm tới việc làm thế nào để người lao động làm việc hăng say, đạt kết quả tốt và làm thế nào để có thể sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Như vậy vấn đề tổ chức quan tâm đến là tạo động lực cho người lao động b. Mối quan hệ giữa động cơ và động lực Giữa động cơ lao động và động lực lao động có mối quan hệ chặt chẽ biện chứng. Động cơ lao động là tiền đề là cơ sở để hình thành động lực lao động, tức là con người phải có động cơ lao động (muốn làm việc), trong quá trình lao động thì dựa vào những tác động của tổ chức và môi trường xung quanh thì sẽ hình thành động lực lao động với các mức độ khác nhau.
Ngược lại thì động lực lao động cũng góp phần củng cố động cơ lao động. Như vậy thì nếu không có động cơ lao động thì cũng không có động lực lao động. Khi nắm bắt được động cơ lao động thì sẽ dễ dàng hơn để tạo động lực cho người lao động. Và chính dựa vào mối quan hệ biện chứng này mà các nhà quản trị có thể dễ dàng hơn trong công cuộc tạo động lực lao động cho người lao động.
Tạo động lực làm việc cho người lao động a. Khái niệm Tạo động lực làm việc tức là tạo ra ham muốn sẵn sàng làm việc theo cách mà nhà quản lý mong muốn để hoàn thành công việc. Nó khác với khả năng làm việc. Theo một cách hiểu khác, có thể được hiểu động lực làm việc là một tác động làm phát sinh một hành vi hoặc ảnh hưởng đến hành vi thực hiện công việc.
Nó là cảm giác hoặc một sự thôi thúc làm hoặc không làm Luan van 10 việc gì đó để đáp ứng một nhu cầu nhất định [6,tr229] Nhiều nghiên cứu đã định nghĩa động lực làm việc là: quá trình tâm lý để định hướng và tạo ra một mục đích cho hành vi (Kreitner 1995), một khuynh hướng hành xử có mục đích để đạt dược một nhu cầu cụ thể và chưa được đáp ứng (Buford, Bedeian, and Lindner 1995), là một sự thôi thúc bên trong để thỏa mãn một nhu cầu chưa được thỏa mãn (Higgins 1994); và ham muốn để đạt được (Bedeian 1993). Tuy nhiên, động lực làm việc được định nghĩa một cách thực tế là một động lực bên trong thôi thúc bản thân đạt được những mục đích của cá nhân cũng như tập thể.