phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty Cổ phần Đƣờng sắt Quảng Bình. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác tạo động lực cho ngƣời lao động tại công ty Cổ phần Đƣờng sắt Quảng Bình. 6 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC TẠO ĐỘNG LỰC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Cơ sở lý luận về tạo động lực cho ngƣời lao động 1. Động lực, nhu cầu và lợi ích * Động lực lao động Một cách hiểu chung nhất về động lực nhƣ sau: “Động lực là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể (động lực bao gồm tất cả những lý do khiến con người hành động)”[5]. Động lực cũng chịu ảnh hƣởng của nhiều nhân tố, các nhân tố này luôn thay đổi và tƣơng đối là khó nắm bắt. Nghiên cứu động lực hoạt động của con ngƣời đã đƣợc thực hiện từ rất lâu trong lịch sử tâm lý học.
Bằng các cách tiếp cận và nghiên cứu khác nhau, các nhà tâm lý học đã tìm cách lý giải tại sao con ngƣời có thể thực hiện đƣợc hành vi nào đó, tại sao hoạt động của anh ta có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc ngƣng lại đúng lúc… Theo từ điển Tiếng Việt: “Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển”[9]. Nhà nghiên cứu Mitchell cho rằng: “Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình”. Cũng nghiên cứu về động lực, nhà nghiên cứu Bolton đƣa ra quan điểm: “Động lực được định nghĩa như một khái niệm để mô tả các yếu tố được các cá nhân nảy sinh, duy trì và điều chỉnh hành vi của mình theo hướng đạt được mục tiêu”[7] * Nhu cầu và thỏa mãn nhu cầu Theo PGS. Lê Thanh Hà cho rằng: “Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý của con người; là đòi hỏi, mong muốn, nguyện vọng của con người về vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển” [7] Nhu cầu gắn liền với với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời cũng nhƣ cộng đồng và tập thể xã hội.
Hệ thống nhu cầu của con ngƣời rất phức tạp, song cơ bản nó đƣợc chia thành 3 nhóm chính là: Nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần và nhu cầu xã hội. 7 Nhu cầu của con ngƣời luôn luôn biến đổi. Với mỗi ngƣời cụ thể khác nhau trong xã hội, việc thực hiện các nhu cầu cũng rất khác nhau tùy theo từng quan điểm của từng cá nhân. Nhu cầu chƣa đƣợc thỏa mãn tạo ra tâm lý căng thẳng, khiến con ngƣời phải tìm cách để đáp ứng.
Nhu cầu đƣợc hiểu là trạng thái tâm lý mà con ngƣời mong muốn thỏa mãn một cái gì đó và mong muốn đƣợc đáp ứng nó, gắn với sự tồn tại và phát triển của con ngƣời, cũng nhƣ cộng đồng và xã hội. * Lợi ích Theo PGS. Lê Thanh Hà cho rằng: “Lợi ích là mức độ đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần do công việc đó tạo ra” [7] Lợi ích có vai trò to lớn trong hoạt động quản lý, trong hoạt động lao động của con ngƣời, tạo ra động lực mạnh mẽ cho các hoạt động của con ngƣời, buộc con ngƣời phải động não, cân nhắc, tìm tòi nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Các nhà quản trị doanh nghiệp khi tìm hiểu đƣợc tâm lý lợi ích của NLĐ sẽ có những biện pháp phù hợp để khuyến khích NLĐ hăng say làm viêc đạt hiệu quả công việc tốt nhất.
* Mối quan hệ giữa nhu cầu lợi ích với động lực lao động Theo bài giảng của PGS. Trần Xuân Cầu, nhu cầu đƣợc hiểu là những đòi hỏi, mong ƣớc của con ngƣời xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau. Nhu cầu rất đa dạng, gồm nhiều loại khác nhau: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu thiết yếu, nhu cầu không thiết yếu, nhu cầu trƣớc mắt và nhu cầu lâu dài [3]. Nhu cầu luôn luôn tồn tại trong mỗi con ngƣời và là một phạm trù tồn tại vĩnh viễn trong mọi chế độ xã hội.
Con ngƣời thƣờng có xu hƣớng tìm cách thỏa mãn nhu cầu đó khi nó xuất hiện. Nhƣng không có một nhu cầu nào đƣợc thỏa mãn hoàn toàn mà chỉ đƣợc thỏa mãn đến một mức độ nào đó. Khi một nhu cầu đƣợc thỏa mãn thì sẽ xuất hiện một nhu cầu mới và lại thúc đẩy con ngƣời hành động để thỏa mãn nhu cầu mới đó. Tuy nhiên nhu cầu không phải là động lực trực tiếp thôi thúc hành động của con ngƣời mà chính lợi ích mới là động lực chính thúc đẩy con ngƣời.
Lợi ích cũng rất đa dạng, phong phú nhƣng mỗi loại lợi ích lại có vai trò tạo động lực khác nhau, tùy từng hoàn cảnh cụ thể mà lợi ích này hoặc lợi ích kia trở thành lợi ích cấp bách. 8 Giữa nhu cầu và lợi ích có mối quan hệ biện chứng, mật thiết với nhau. Nhu cầu là cơ sở, tiền đề của lợi ích. Nhu cầu là nội dung còn lợi ích là hình thức biểu hiện của nhu cầu.
Bên cạnh đó lợi ích có quan hệ rất chặt chẽ với động lực làm việc. Nhƣng lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể đôi khi lại mâu thuẫn. Để ngƣời lao động có thể tự nguyện theo các định hƣớng của tổ chức cần phải làm cho họ thấy rõ lợi ích bản thân họ chỉ đạt đƣợc khi lợi ích của tập thể đạt đƣợc. Động lực lao động xuất hiện và còn tồn tại khi có một khoảng cách giữa nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu.
Lúc này con ngƣời mới có động cơ và động lực thúc đẩy họ hành động để đạt đƣợc sự thỏa mãn cao nhất nhu cầu của mình. Tạo động lực làm việc cho ngƣời lao động Động lực xuất phát từ bản thân của mỗi con ngƣời. Khi con ngƣời ở những vị trí khác nhau, với những đặc điểm tâm lý khác nhau sẽ có những mục tiêu mong muốn khác nhau. Các nhân tố thuộc về ngƣời lao động đóng vai trò quan trọng trong việc tạo động lực làm việc cho chính họ nhƣ nhu cầu, mục đích, quan niệm về giá trị… Động lực cá nhân là kết quả của rất nhiều nguồn lực đồng thời hoạt động trong con ngƣời và trong môi trƣờng sống và làm việc của con ngƣời, do đó hành vi có động lực trong tổ chức là kết quả tổng hợp của sự tác động của nhiều nhân tố nhƣ văn hóa, kiểu lãnh đạo, nội quy… Chính vì những đặc điểm này nên động lực của mỗi con ngƣời là khác nhau, vì vậy mà các nhà quản lý cần có những tác động khác nhau đến mỗi ngƣời lao động.
Trong giai đoạn hiện nay, nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng. Vấn đề tạo động lực trong lao động và một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự, nó thúc đẩy ngƣời lao động hăng say làm việc nâng cao hiệu quả công tác. Để có đƣợc động lực cho ngƣời lao động làm việc thì phải tìm cách tạo ra đƣợc động lực đó. Nhƣ vậy “Tạo động lực trong lao động là hệ thống các chính sách, các biện pháp các thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có được động lực để làm việc”.
Cần phải tìm hiểu đƣợc ngƣời lao động làm việc nhằm đạt đƣợc mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ tạo động lực cho lao động. Nhƣ vậy mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra đƣợc động lực để ngƣời lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. “Tạo động lực gắn liền với lợi ích hay nói cách khác lợi ích tạo ra động lực 9 trong lao động”. Song trên thực tế động lực đƣợc tạo ra ở mức độ nào, bằng cách nào phụ thuộc vào cơ chế cụ thể để sử dụng nó nhƣ là một nhân tố cho sự phát triển của xã hội.
Muốn lợi ích tạo ra động lực phải phụ thuộc vào nó, kích thích nó làm gia tăng hoạt động có hiệu quả của lao động trong công việc, trong chuyên môn hoặc trong những chức năng cụ thể. Vai trò của tạo động lực cho ngƣời lao động Đối với cá nhân người lao động: Con ngƣời luôn có những nhu cầu cần đƣợc thỏa mãn về cả hai mặt vật chất và tinh thần. Khi ngƣời lao động cảm thấy những nhu cầu của mình đƣợc đáp ứng sẽ tạo tâm lý tốt thúc đẩy ngƣời lao động làm việc hăng say hơn. Đối với cá nhân ngƣời lao động không có động lực lao động thì hoạt động lao động khó có thể đạt đƣợc mục tiêu của nó bởi vì khi đó họ chỉ lao động hoàn thành công việc đƣợc giao mà không có đƣợc sự sáng tạo hay cố gắng phấn đấu trong lao động, họ chỉ coi công việc đang làm nhƣ một nghĩa vụ phai thực hiện theo hợp đồng lao động mà thôi.
Do đó nhà quản lý cần phải tạo đƣợc động lực thúc đẩy tính sáng tạo và năng lực làm việc của nhân viên.Ngƣời lao động chỉ hoạt động tích cực khi mà họ đƣợc thỏa mãn một cách tƣơng đối những nhu cầu của bản thân. Điều này thể hiện ở lợi ích mà họ đƣợc hƣởng. Khi mà ngƣời lao động cảm thấy lợi ích mà họ nhận đƣợc không tƣơng xứng với những gì họ bỏ ra họ cảm thấy không thỏa mãn đƣợc những nhu cầu của mình thì sẽ gây ra cảm giác chán nản làm việc không tập trung cao. Lợi ích là phƣơng tiện để thỏa mãn nhu cầu nên lợi ích mà ngƣời lao động nhân đƣợc phải tƣơng xứng với những gì họ cống hiến thì mới tạo ra động lực cho họ làm việc.
Động lực lao động còn giúp cho ngƣời lao động có thể tự hoàn thiện mình. Khi có đƣợc động lực trong lao động ngƣời lao động có đƣợc nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết đƣợc những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Đối với cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp: Hiện nay nƣớc ta đang tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc.