CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI Tạo động lực chính là giúp người lao động hăng say làm việc, tăng năng suất lao động và tăng thu nhập lao động. Qua đó người lao có cơ hội được học tập nâng cao kiến thức bản thân và tham gia vào các hoạt động xã hội như vui chơi, giải trí… Mặt khác công việc là một phần cuộc sống của họ. Người lao động được làm việc phù hợp với khả năng và năng lực của mình với một tâm lý thoải mái sẽ đẩy lùi được bệnh tật do tinh thần không thoải mái gây nên và tránh khỏi những tai nạn lao động đáng tiếc do tâm lý căng thẳng gây ra. Đối với mỗi tổ chức mục tiêu cơ bản và quan trọng nhất chính là hiệu quả công việc.
Để thực hiện được mục tiêu đó thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định. Vì vậy, các tổ chức cần phải quan tâm đến những giải pháp nhằm động viên, khuyến khích người lao động để họ mang hết khả năng ra làm việc, giữ chân họ ở lại doanh nghiệp lâu dài, ổn định. Khi người lao động tích cực làm việc sẽ tăng hiệu quả lao động, nâng cao năng suất, tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức. Tạo động lực lao động chính là biện pháp sử dụng người lao động hiệu quả nhất, tốn ít chi phí nhất nhằm nâng cao năng suất lao động của các tổ chức.
Khi một tổ chức, doanh nghiệp tạo động lực tốt sẽ góp phần làm giảm chi phí về lao động và thu hút những lao động có trình độ tay nghề cao. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Qua nghiên cứu và tìm hiểu về đề tài tạo động lực lao động, tác giả cũng đã thấy có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các bài viết, các cuốn sách hay những luận văn thạc sĩ, tiến sĩ nghiên cứu liên quan đến đề tài tạo động lực lao động với nhiều góc độ khác nhau cả các công trình trong nước và nước ngoài cụ thể như sau: Có rất nhiều học thuyết của các nhà khoa học đã nghiên cứu về vấn đề tạo động lực lao động từ cách đây hàng thập niên trở về trước. Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra cách tiếp cận với tạo động lực lao động theo hai cách khác nhau: 6 các học thuyết nội dung với cách tiếp cận theo nhu cầu của người lao động như Maslow, Herzberg. hay về nhóm học thuyết quá trình với cách tiếp cận theo hành vi của người lao động như Adams, Vroom, Skinner.
Vận dụng các học thuyết trên, một vài nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tạo động lực và cách thực hiện: Zimmer (1996) nhấn mạnh cần tuyển đúng người và đối xử công bằng, coi trọng đào tạo. Gracia (2005) nhấn mạnh cần giúp nhân viên thấy rõ xu hướng, kỹ thuật mới nhất trong ngành, tạo điều kiện để họ phát huy sáng kiến và ứng dụng trong công việc. Buelens & Van den Broeck (2007) đã triển khai nghiên cứu “Phân tích sự khác biệt trong động lực làm việc giữa những tổ chức ở khu vực công và khu vực tư”. Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm ra sự khác biệt về động lực làm việc của người lao động ở khu vực công so với khu vực tư nhân.
Nghiên cứu này còn chỉ ra sự khác biệt trong động lực làm việc giữa phụ nữ và nam giới, đối với phụ nữ dành nhiều thời gian hơn cho các công việc gia đình, ít thời gian cho công việc ở văn phòng. Denibutun (2012) đã có nghiên cứu “Động lực làm việc: khung lý thuyết” với mục đích nhằm khám phá sự khác nhau giữa các lý thuyết về động lực làm việc và xem xét động lực như một quá trình tâm lý cơ bản của con người. Lycourgos Hadjiphanis (2012) - “Nghiên cứu việc tạo động lực cho người lao động tại những tổ chức quy mô lớn tại Cộng hòa Síp” - Đại học châu Âu Síp, đã nghiên cứu những tổ chức có quy mô lớn của một nền kinh tế có quy mô nhỏ ở Châu Âu và nghiên cứu các tập đoàn kinh tế nhà nước có quy mô lớn trong quy mô nền kinh tế không lớn. Nghiên cứu về tình hình Cộng hòa Síp tuy có sự khác biệt về địa lý và văn hóa nhưng tác giả đã có lý giải hết sức thú vị về điều mấu chốt là lý giải được việc tạo động lực lao động ảnh hưởng ra sao đến hiệu quả làm việc của người lao động trong những tổ chức có quy mô lớn.
Ovidiu Iliuta (2013) Chuyên đề nghiên cứu về “Động lực làm việc ở nhân viên và hiệu quả làm việc của tổ chức” - trường Đại học Kinh tế Bucharest đã tiến hành nghiên cứu và chỉ ra trong nền kinh tế mở có nhiều đối 7 thủ cạnh tranh và phương thức cạnh tranh nên việc các doanh nghiệp quan tâm tới công tác tạo động lực cho người lao động mang tầm quan trọng trong chiến lược dài hạn, việc tạo động lực cho người lao động được chứng minh là có liên quan tới quá trình thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Business Edge (năm 2006) “Tạo động lực làm việc – Phải chăng chỉ có thể bằng tiền?” - Nhà xuất bản Trẻ, nêu ra vấn đề thông qua nhiều phương thức khác nhau để tạo động lực cho người lao động, không chỉ qua mỗi công cụ tài chính là tiền. Bởi xuất phát từ thực tiễn rất nhiều nhà lãnh đạo, quản lý đã phải tự đặt câu hỏi tại sao khi tăng lương mà nhân sự vẫn rời bỏ tổ chức, tại sao người lao động chỉ hết giờ mà không hết việc. Tiền có thể là công cụ tạo động lực với đối tượng này, nhưng lại không phải là nhân tố kích thích người khác làm việc.
Nhà quản lý cần xác định mục tiêu làm việc của người lao động để tìm công cụ kích thích phù hợp. Pink (2013) tác giả cuốn sách “ Động lực chèo lái hành vi – Sự thật kinh ngạc về những động cơ thúc đẩy động lực của con người” tái bản – Đổi tên từ “Động lực 3.0”, NXB Lao động xã hội (Bản quyền tiếng Việt công ty sách Alpha), Hà Nội. Cuốn sách nêu ra được những luận điểm mới về việc tạo động lực làm việc cho người lao động ở thời kỳ mới, tác giả cuốn sách cũng cung cấp một số thông tin về các tổ chức, doanh nghiệp vẫn áp dụng các mô hình tạo động lực cũ mà chưa nghiên cứu, đánh giá đúng vai trò tạo động lực cho người lao động theo tình hình thực tế hiện nay. Cuốn sách nêu lên và khuyến khích sử dụng những động lực như: Tăng cường các biện pháp kích thích nội lực bên trong mỗi người từ đó phát huy tinh thần chủ động, tính cầu thị sự nhiệt tình trong công việc của mỗi người.
Geshe Michael Roac - Cuốn “Năng đoạn Kim cương”– Trần Tuấn Mẫn dịch, NXB Lao động phối hợp với Nhà sách Thái Hà – Tái bản lần thứ 14 – cuốn sách đã áp dụng giáo lý Đức Phật vào Quản trị doanh nghiệp và đời sống. Cuốn sách nói lên cách Ông đã xây dựng Đơn vị Kim Cương tại Andin International bằng những nguyên tắc được thu thập từ trí tuệ cổ xưa của Phật giáo mà Ông đã thu thập được. Ông nói “Năng lực tiềm tàng để thành công 8 được tìm thấy trong chất kim cương cũng giống như tấm kính kim cương – Trong suốt, tinh khiết được xem như gần nhất với chất liệu vật lý tuyệt đối trong suốt – Nó ở ngay quanh ta vào mọi lúc, mọi sự vật và mọi người. Và chính tiềm năng này nếu được khai thác sẽ đưa đến sự thành công” Brian Tracy - “Bí quyết tuyển dụng và đãi ngộ người tài” là Cuốn sách sẽ nghiên cứu việc nắm bắt được những nguyên tắc quan trọng trong việc chiêu mộ và giữ chân nhân viên mà những nhà quản lý hàng đầu trong các tập đoàn trên thế giới vẫn thường áp dụng.
21 ý tưởng thực tiễn hay nhất sẽ được trình bầy trong quyển sách như: các bí quyết, kinh nghiệm và yếu tố giữ chân những nhân viên tài năng; cách tuyển dụng hiệu quả để thu hút nhân tài; hướng giải quyết những khó khăn liên quan đến vấn đề nhân lực trong một tổ chức; xây dựng chương trình đào tạo và phát triển kỹ năng cho nhân viên… Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu của đề tài đã được nghiệm thu và đã được công bố dưới dạng một cuốn sách có nhan đề “Về động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội” (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1997). Tạp chí Cộng sản ngày 15/8/2012 có đăng bài của Th.S Cảnh Chí Dũng (Trường đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội) về “Mô hình tạo động lực trong các trường đại học công lập”, bài đăng nêu rõ những chọn lựa cũng như những ứng dụng của công tác tạo động lực trong các trường đại học công lập nước ta hiện nay với nhiều ý nghĩa thực tiễn có thể áp dụng rộng rãi. Luận án Tiến sĩ “Hoàn thiện hệ thống công cụ tạo động lực cho công chức ở các cơ quan Hành chính nhà ” tác giả Nguyễn Thị Phương Lan - Học viện Hành chính Quốc gia. Luận án có nêu động lực làm việc của người lao động là một chủ đề được quan tâm đặc biệt không chỉ bởi bởi động lực biểu hiện cho sức sống, sự linh hoạt mà còn là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp, quyết định tới sự thành công hay thất bại của tổ chức.
Ở các cơ quan HCNN, xuất phát từ sứ mệnh cao cả của nền công vụ là cung cấp các dịch vụ công tốt nhất để phục vụ công dân, động lực làm việc của công chức HCNN không chỉ được hiểu như là biểu hiện cho sức sống, sự linh hoạt hiệu lực, hiệu quả của thể chế hành chính nhà nước mà còn thể hiện tính trách nhiệm trong thực thi 9 quyền lực nhà nước để hoàn thành sứ mệnh của nền công vụ phục vụ nhân dân. Báo cáo tổng hợp đề tài khoa học cấp nhà nước, mã số KX-05-11 “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình CNH-HĐH đất nước”, PGS.TS Phạm Thành Nghị (chủ nhiệm), trong nghiên cứu có đề cập tới vấn đề “Phát huy động lực của con người lao động trong quản lý và sử dụng nguồn nhân lực” Các nghiên cứu đã trình bày một 4 số vấn đề lý luận về động lực, một số động lực chính trị - tinh thần quan trọng và vấn đề sử dụng đúng đắn tích cực của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Tạp chí Tuyên giáo số 3/2012 có bài viết của TS.