CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC TRONG DOANH NGHIỆP 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 1. Động lực Động lực là một thuật ngữ được sử dụng rất nhiều. Trong kinh tế động lực được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Theo từ điển tiếng Anh Longman động lực là một động cơ có ý thức hoặc vô thức nhằm khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt một mục tiêu mong đợi. Theo từ điển tiếng Viêt thì Động lực được hiểu là cái thúc đẩy, làm cho phát triển (Từ điển Tiếng Việt (2004), NXB Đà Nẵng). Theo Mitchell ông cho rằng: “Động lực là một mức độ mà cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình” (Mitchell (1999), Multlines, New York, Dial Peess Trade Paperback). “Động lực là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân để tăng cường sự nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”.
Từ những định nghĩa trên ta có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về động lực như sau: Động lực là tất cả những gì nhằm thôi thúc, khuyến khích động viên con người thực hiện những hành vi theo mục tiêu. Động lực làm việc Có thể hiểu động lực làm việc cho người lao động hay động lực lao động là yếu tố bên trong xuất phát từ bản thân của mỗi NLĐ mà nhờ đó họ nảy sinh sự khát khao và tự nguyện lao động nhằm đạt được mục tiêu của bản thân và của tổ chức. Theo giáo trình Hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn: “Động lực lao động là những nhân tố ở bên trong nhằm kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực lao động là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản 4 thân NLĐ” (Bùi Anh Tuấn (2009), Giáo trình hành vi tổ chức, NXB Kinh tế quốc dân).
Theo Giáo trình quản trị nhân lực của PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân và ThS Nguyễn Vân Điềm: “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được mục tiêu, kết quả nào đó” (Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân (2012), Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân). Như vậy, khi hiểu được khái niệm động lực làm việc hay động lực lao động, các nhà quản lý có thể vận dụng để tìm mọi cách tạo động lực làm việc cho người lao động. Tạo động lực làm việc Mỗi con người đều có những lý do làm việc khác nhau. Để có được những thứ mình cần, con người sẽ phải lao động, làm việc, những thứ này có ảnh hưởng tới tinh thần, chất lượng cuộc sống và động lực làm việc của người lao động.
Để thúc đẩy người lao động thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả, nhà quản lý cần sử dụng các động lực. Việc kích thích và thoải mãn được sự nỗ lực của người lao động sẽ giúp tổ chức hoạt động có hiệu quả và thành công. Tạo động lực làm việc cho người lao động hay tạo động lực lao động là cách nhà quản lý sử dụng những biện pháp nhất định nhằm kích thích người lao động tự nguyện, nhiệt tình, hăng say làm việc và đạt được hiệu quả tốt trong công việc. “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc" (Nguyễn Vân Điềm - Nguyễn Ngọc Quân (2012), Quản trị nhân lực, Nhà xuất bản Kinh tế quốc dân).
“Tạo động lực lao động là hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức” (Lê Thanh Hà (2009), Giáo trình quản trị nhân lực tập II, Hà Nội, NXB Lao động – Xã hội). 5 Tạo động lực lao động được hiểu là những hoạt động có tính chất khuyến khích động viên nhằm tác động vào nhu cầu của người lao động để tạo nên sự chuyển biến trong hành vi của họ hướng theo những mục tiêu mà tổ chức mong muốn. Tạo động lực làm nảy sinh động lực trong mỗi doanh nghiệp. Các nhà quản trị trong tổ chức muốn phát triển doanh nghiệp mình vững mạnh thì phải vận dụng các chính sách, biện pháp, các công cụ quản lý thích hợp tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động hăng say làm việc, phát huy tính sáng tạo trong quá trình làm việc để đóng góp cho tổ chức.
Để có thể tạo được động lực cho người lao động cần phải tìm hiểu được người lao động làm việc nhằm đạt được mục tiêu gì từ đó thúc đẩy động cơ lao động của họ. Vấn đề quan trọng của tạo động lực là hiểu được nhu cầu của người lao động, để từ đó có biện pháp kích thích, tạo ra động lực cho người lao động hăng say, nỗ lực trong quá trình làm việc. Vai trò và ý nghĩa của công tác tạo động lực Qua những nghiên cứu lý thuyết cũng như thực tiễn của các công ty đã chi ra rằng động lực làm việc là một trong những yếu tố tác động không nhỏ đến hiệu quả lao động cũng nhưng sự hoàn thành mục tiêu của tổ chức. Động lực làm việc trước hết sẽ tác động trực tiếp đến tinh thần, thái độ làm việc và kết quả thực hiện công việc của nhân viên, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như sự thành công của công ty.
Nhân viên được tạo động lực tốt sẽ ý thức được công việc mình đang thực hiện, thái độ và tinh thần làm việc hăng say, nhiệt tình, yêu công việc, coi trọng tổ chức và luôn gắn liền với mục tiêu cá nhân vào mục tiêu chung của tổ chức. Nhân viên sẽ có sự thỏa mãn cao với công việc đang làm, từ đó làm việc với trạng thái tâm lý vui vẻ, thích thú, gắn bó lâu dài với tổ chức. Không ngừng phấn đấu, học tập nâng cao trình độ, nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo ra những phương pháp mới, những cách thức mới để hoàn thiện công việc với thời gian nhanh nhất và chi phí thấp nhất. Động lực làm việc sẽ mang lại những lợi ích hữu hình và vô hình cho công ty, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng như lợi nhuận sẽ tăng lên nhờ năng suất 6 lao động của nhân viên tăng.
Giảm đáng kể các chi phí phát sinh trong việc giải quyết thủ tục tuyển mới hoặc nghỉ việc của nhân viên. Chính những lợi ích to lớn mà tạo động lực làm việc cho người lao động gián tiếp mang lại hiệu quả cho tổ chức mà các nhà quản trị hiện tại luôn coi đây là vấn đề quan trọng và cần thiết, có ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp (Ths. Nguyễn Vân Điềm và PGS. Nguyễn Ngọc Quân (2004), Giáo trình quản trị nhân lực, NXB Lao động xã hội, Hà Nội).
CÁC HỌC THUYẾT TẠO ĐỘNG LỰC 1. Học thuyết hệ thống nhu cầu Maslow Maslow cho rằng con người có rất nhiều nhu cầu khác nhau mà họ khao khát được thỏa mãn. Maslow chia các nhu cầu đó thành năm loại và sắp xếp theo thứ bậc như sau: Hình 1. Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow *Nhu cầu cơ bản 7 Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để hít thở, các nhu cầu làm cho con người thoải mái… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người.
Trong hình, ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất: Bậc cơ bản nhất. Maslow cho rằng, những nhu cầu của mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản này được thỏa mãn và những nhu cầu cơ bản này sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã một người hành động khi nhu cầu cơ bản này đạt được. *Nhu cầu an toàn Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt. Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần.
Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm, nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ… Nhu cầu này cũng được khẳng định thông qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở… Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần. Các chế độ bảo hiểm xã hội, các chế độ khi về hưu, các kế hoạch để dành tiết kiệm… cũng chính là thể hiện sự đáp ứng nhu cầu an toàn này. *Nhu cầu xã hội Nhu cầu này còn được gọi là mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp như tìm kiếm, kết bạn, tìm người yêu, lập gia đình, tham gia một cộng đồng nào đó, đi làm việc, đi chơi picnic, tham gia các câu lạc bộ, làm việc nhóm… *Nhu cầu tôn trọng Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu tự trọng vì nó thể hiện hai cấp độ: Nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân, danh tiếng của mình, có lòng tự trọng, sự tự tin vào khả năng của bản thân.
Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể 8 khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn. Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một người được khích lệ, tưởng thưởng về thành quả lao động, họ sẵn sang làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn. Nhu cầu này được xếp sau nhu cầu “Thuộc về một tổ chức”, nhu cầu xã hội ở phía trên.